Giáo hội tại Á Châu (3)

CHƯƠNG VI

PHỤC VỤ
CHO SỰ THĂNG TIẾN CON NGƯỜI

Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội

32. Trong việc phục vụ gia đình nhân loại, Giáo Hội tìm cách tiếp cận với mọi người nam nữ không phân biệt, ra sức cùng với họ xây dựng một nền văn minh tình yêu, đặt nền móng trên những giá trị phổ biến của hoà bình, công lý, liên đới và tự do, những giá trị đó tìm thấy sự viên mãn trong Đức Kitô. Như Công Đồng Vatican II đã nói qua những lời đáng ghi nhớ: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Đức Kitô. Quả thực, không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ” (163). Như vậy, Giáo Hội tại Á Châu, với đám đông dân chúng nghèo khổ và bị áp bức, được kêu gọi sống một sự hiệp thông đời sống. Sự hiệp thông đời sống này biểu lộ cách riêng trong việc phục vụ đầy yêu thương đối với các người nghèo và không được ai bênh đỡ.

Nếu trong thời gian gần đây, Huấn Quyền Giáo Hội càng ngày càng nhấn mạnh đến nhu cầu cổ võ sự phát triển đích thực và toàn vẹn con người (164), đó là có ý đáp ứng với hoàn cảnh hiện thực của các dân tộc trên thế giới, cũng như với một ý thức càng ngày càng gia tăng về sự kiện này là không chỉ các hành động của từng cá nhân, mà cả các cấu trúc của đời sống xã hội, chính trị và kinh tế, thường thù nghịch với hạnh phúc con người. Tình trạng mất cân bằng do khoảng cách càng ngày càng xa giữa những người hưởng lợi nhờ khả năng tăng trưởng của thế giới trong việc sản xuất của cải, và những người bị bỏ rơi bên lề sự phát triển, đòi hỏi phải sửa đổi tận gốc cả não trạng lẫn các cấu trúc nhắm lợi ích cho con người. Thách đố luân lyù lớn đối với các quốc gia và các cộng đồng quốc tế liên quan đến sự phát triển, là phải can đảm sống tình liên đới mới, có khả năng nghĩ ra và thực hiện những bước vượt thắng cả việc chậm phát triển bất nhân và việc “phát triển quá mức” có khuynh hướng giản lược con người thành một đơn vị kinh tế trong một mạng lưới tiêu thụ càng ngày càng có tính chất áp bức. Trong khi tìm cách cổ võ sự thay đổi đó, “Giáo Hội không có những giải pháp kỹ thuật để cống hiến”, nhưng “cống hiến sự đóng góp đầu tiên của mình cho việc giải quyết vấn đề cấp bách của phát triển, khi Giáo Hội loan báo chân lý về Đức Kitô, về chính mình và về con người, bằng cách áp dụng chân lý đó vào một hoàn cảnh cụ thể” (165). Rốt cuộc, sự phát triển con người không bao giờ chỉ là một vấn đề thuần kỹ thuật và kinh tế; nhưng cơ bản là một vấn đề nhân bản và luân lý.

Học thuyết xã hội của Giáo Hội, khi đề nghị một loạt những nguyên tắc để suy tư, những tiêu chuẩn để phán đoán và những hướng dẫn để hành động (166), trước tiên nhắm tới những thành viên của Giáo Hội. Điều thiết yếu là người tín hữu dấn thân trong việc thăng tiến con người, phải nắm chắc toàn bộ học thuyết quí báu này, và xem đó như một phần nguyên vẹn của sứ mạng rao giảng Tin Mừng của mình. Vì thế các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã nhấn mạnh tầm quan trọng phải trao ban cho người tín hữu -trong tất cả mọi hoạt động giáo dục, và đặc biệt trong các chủng viện và những nơi đào tạo- một nền huấn luyện vững chắc về học thuyết xã hội của Giáo Hội (167). Các nhà lãnh đạo Kitô hữu trong Giáo Hội và xã hội, và cách riêng các giáo dân nam nữ đang giữ trách nhiệm trong đời sống công cộng, cần được huấn luyện đầy đủ về học thuyết này, để họ có thể gợi hứng và ban sức sống cho xã hội dân sự cũng như các cấu trúc của nó bằng chất men Tin Mừng (168). Học thuyết xã hội của Giáo Hội không những sẽ nhắc nhở các nhà lãnh đạo Kitô hữu đó về bổn phận của họ, mà còn đem đến cho họ những hướng dẫn để hành động nhằm phát triển con người, và giải thoát họ khỏi những quan niệm dối trá về con người và hoạt động của con người.

Phẩm Giá Con Người

33. Con người, chứ không phải của cải hay kỹ thuật, là tác nhân chính và mục đích của sự phát triển. Vì thế, loại phát triển mà Giáo hội cổ võ, vượt quá những vấn đề kinh tế và kỹ thuật. Nó bắt đầu và kết thúc với sự nguyên vẹn của con người, được dựng nên giống hình ảnh của Thiên Chúa và được Thiên Chúa ban cho một phẩm giá và các nhân quyền không thể bị tước bỏ. Những tuyên ngôn quốc tế khác nhau về nhân quyền và về nhiều sáng kiến do các tuyên ngôn đó khởi xướng, là dấu chỉ của sự quan tâm càng ngày càng lớn hơn trên bình diện hoàn cầu tới phẩm giá của con người. Vô phúc thay, những tuyên ngôn đó thường bị vi phạm trong thực hành. Năm mươi năm sau khi long trọng công bố Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, nhiều người còn phải chịu những hình thức bóc lột và lừa bịp đê hèn nhất, biến con người thành những nô lệ thực sự cho những kẻ quyền thế hơn, cho một ý thức hệ, cho những thế lực kinh tế, những hệ thống chính trị đàn áp, cho chủ nghĩa kỹ thuật khoa học hay sự xâm nhập của các phương tiện truyền thông (169).

Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng biết rõ những vi phạm liên tục về các quyền con người trong nhiều nơi trên thế giới, và cách riêng tại Á Châu, nơi “hàng triệu người đang đau khổ do sự kỳ thị, bóc lột, nghèo đói và loại trừ” (170). Các ngài khẳng định rằng các dân tộc tại Á Châu cần hiểu rõ thách đố không tránh được và không loại bỏ được, gắn liền với việc bênh vực nhân quyền và cổ võ công lý và hoà bình.

Tình Yêu Ưu Tiên Dành Cho Người Nghèo

34. Khi tìm cách thăng tiến nhân phẩm, Giáo Hội bày tỏ một tình yêu ưu tiên dành cho người nghèo và những kẻ không có tiếng nói, bởi vì Chúa đã đồng hoá với họ một cách đặc biệt (x. Mt 25,40). Tình yêu không loại trừ ai, nhưng có một ưu tiên phục vụ mà toàn thể truyền thống Kitô giáo minh chứng. “Tình yêu ưu tiên dành cho người nghèo đó, cùng với những quyết định mà nó gợi hứng trong ta, không thể không ôm ấp đám đông những người đói khát, thiếu thốn, những người vô gia cư, những kẻ không được chăm sóc thuốc men và, trên hết, những kẻ không hy vọng có được một tương lai tốt đẹp hơn. Không thể không ghi nhận sự hiện hữu những thực tại này. Phớt lờ chúng tức là trở thành giống như người giàu có làm như vẻ không biết đến người nghèo Ladarô đang nằm ngoài cổng nhà mình” (x. Lc 16,19-31) (171). Điều nói trên đúng cách riêng đối với Á Châu, một lục địa đầy dẫy tài nguyên và những nền văn minh lớn, mà cũng là nơi người ta gặp thấy một số nước nghèo nhất thế giới, và cũng là nơi mà một nửa dân số đang chịu cảnh thiếu thốn, nghèo đói và bị bóc lột (172). Người nghèo Châu Á và thế giới sẽ luôn tìm thấy những lý do tốt nhất để hy vọng, trong giới luật Tin Mừng phải yêu mến nhau như Đức Kitô đã yêu chúng ta (x. Ga 13,34), và Giáo Hội tại Á Châu không thể không ra sức hết mình chu toàn giới luật đối với người nghèo, bằng lời nói và việc làm.

Tình liên đới với kẻ nghèo trở nên dễ tin hơn, nếu chính các Kitô hữu sống giản dị, theo gương Đức Giêsu. Sự đơn giản trong cách sống, đức tin sâu xa và tình yêu không giả dối đối với mọi người, nhất là người nghèo và bị loại trừ, là những dấu chỉ sáng chói của Tin Mừng bằng hành động. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng kêu gọi các người Công giáo Á Châu có một lối sống phù hợp với giáo huấn Tin Mừng, để có thể phục vụ tốt hơn trong việc truyền giáo của Giáo Hội và để chính Giáo Hội có thể trở nên một Giáo Hội của người nghèo và cho người nghèo (173).

Trong tình yêu đối người nghèo tại Á Châu, Giáo Hội lưu ý cách riêng đến những kẻ di dân, những người bản xứ và các dân tộc bộ lạc, những phụ nữ và trẻ em, bởi vì họ thường là nạn nhân của những hình thức bóc lột xấu xa nhất. Thêm vào đó, có số người vô danh, bị kỳ thị do văn hoá, màu da, chủng tộc, đẳng cấp, tình trạng kinh tế của họ, hay là do cách họ suy nghĩ. Gồm có cả những người là nạn nhân của sự kỳ thị vì trở lại Kitô giáo (174). Cùng với các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, tôi mời gọi mọi quốc gia nhìn nhận quyền tự do lương tâm và tôn giáo và những quyền căn bản khác của con người (175).

Vào lúc này tại Á Châu đang diễn ra một làn sóng chưa từng thấy những người tị nạn, những người tìm nơi trú ẩn, những người di cư và những người lao động ở hải ngoại. Tại những quốc gia họ tới, những người này thường không có bạn bè, bị tách biệt về mặt văn hoá, bị bất lợi vì ngôn ngữ và dễ bị tổn hại về mặt kinh tế. Họ cần được nâng đỡ và chăm sóc để bảo toàn được nhân phẩm và gia sản văn hoá cũng như tôn giáo của họ (176). Mặc dầu tài nguyên eo hẹp, Giáo Hội tại Á Châu quảng đại cố gắng trở nên một ngôi nhà đón tiếp những kẻ khó nhọc và gánh nặng, vì biết rằng trong Thánh Tâm Đức Giêsu, nơi không có ai là người xa lạ, họ sẽ được an nghỉ (x. Mt 11,28-29).

Trong hầu hết mọi miền của Á Châu, có một số lớn dân bản xứ, một số họ sống trong mức kinh tế thấp nhất. Thượng Hội Đồng lặp đi lặp lại rằng dân bản xứ và dân bộ lạc thường cảm thấy được lôi kéo đến với con người Đức Giêsu Kitô và đến với Giáo Hội như một cộng đồng tình yêu và phục vụ (177). Đây được coi là một lãnh vực bao la cho công tác giáo dục và chăm nom sức khỏe, cũng như cổ võ việc tham gia vào xã hội. Cộng đồng Công giáo cần tăng cường công tác mục vụ giữa những người dân này, bằng cách chú ý tới những âu lo của họ và tới những vấn đề công bình ảnh hưởng tới đời sống của họ. Điều này bao hàm một thái độ kính trọng sâu xa tôn giáo truyền thống của họ và các giá trị của nó; ngoài ra cũng bao hàm sự cần thiết giúp đỡ họ để họ tự giúp lấy mình, ngõ hầu họ có thể hành động để cải thiện hoàn cảnh của họ và trở nên những nhà rao giảng Tin Mừng cho nền văn hoá và xã hội của họ (178).

Không một ai có thể thờ ơ với đau khổ của nhiều trẻ em tại Á Châu, nạn nhân của sự bóc lột và bạo lực không thể chấp nhận được, không chỉ do sự dữ các cá nhân gây nên, nhưng thường do những cấu trúc xã hội thối nát. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng xem lao động trẻ em, tình dục với trẻ em và hiện tượng ma tuý là những sự dữ xã hội ảnh hưởng trực tiếp nhất tới trẻ em, và các ngài thấy rõ rằng những sự dữ đó kéo theo những tệ nạn khác như cảnh nghèo đói và các quan niệm lệch lạc về các chương trình phát triển quốc gia (179). Giáo Hội phải làm tất cả những gì có thể để thắng những sự dữ đó, để hành động nhân danh những kẻ bị bóc lột nhất, và để tìm cách dẫn đưa những người bé mọn tới tình yêu của Đức Giêsu, bởi vì Nước Thiên Chúa thuộc về những kẻ đó (x. Lc 18,16) (180).

Thượng Hội Đồng bày tỏ quan tâm cách riêng đối với phụ nữ, hoàn cảnh của họ vẫn là một vấn đề nghiêm trọng tại Á Châu, nơi mà sự kỳ thị và bạo lực đối với người phụ nữ thường xảy ra trong gia đình, tại nơi làm việc và cả trong hệ thống pháp lý nữa. Nạn mù chữ phổ biến trong giới phụ nữ và nhiều phụ nữ bị đối xử đơn thuần như những món hàng trong nghề mãi dâm, du lịch và công nghệ giải trí (181). Trong trận chiến chống lại mọi hình thức bất công và kỳ thị, người nữ phải tìm được đồng minh trong cộng đồng Kitô hữu, và vì lẽ đó, Thượng Hội Đồng đề nghị rằng, nơi nào có thể được, các Giáo Hội địa phương tại Á Châu phải cổ võ những hoạt động cho nhân quyền nhân danh người nữ. Mục tiêu phải là mang lại được một sự thay đổi thái độ, nhờ một hiểu biết đúng đắn hơn về vai trò của người nam và người nữ trong gia đình, trong xã hội và trong Giáo Hội, nhờ ý thức mạnh mẽ hơn về sự bổ túc nguyên thuỷ của người nam và người nữ, và nhờ sự đánh giá rõ ràng hơn về tầm quan trọng của chiều kích nữ tính trong mọi lãnh vực con người. Những đóng góp của người nữ cũng thường bị hạ giá hay không được biết tới, và điều này đưa tới kết quả là sự nghèo nàn tinh thần của nhân loại. Giáo Hội tại Á Châu phải đề cao phẩm giá và sự tự do của người nữ, một cách hữu hình và hữu hiệu hơn, bằng cách cổ võ vai trò của họ trong đời sống Giáo Hội, gồm cả đời sống trí thức của họ, và bằng cách mở ra cho họ những cơ hội lớn hơn để hiện diện và hoạt động trong sứ mạng tình yêu và phục vụ của Giáo Hội (182).

Tin Mừng Sự Sống

35. Việc phục vụ cho sự phát triển con người bắt đầu bằng việc phục vụ chính sự sống. Sự sống là một quà tặng to lớn mà Thiên Chúa giao phó cho chúng ta: người giao phó nó cho chúng ta, như là một dự án và một trách nhiệm. Do đó chúng ta là kẻ giữ gìn sự sống, chứ không phải là sở hữu chủ. Chúng ta nhận lãnh ân huệ cách tự do và, trong sự biết ơn, chúng ta không bao giờ được phép thôi kính trọng và bảo vệ nó, từ lúc nó bắt đầu cho tới lúc nó kết thúc cách tự nhiên. Từ lúc thụ thai, sự sống con người là do hành động sáng tạo của Thiên Chúa và luôn có một mối liên kết đặc biệt với Tạo Hoá, Đấng là nguồn sống và mục đích duy nhất của nó. Không có phát triển thật sự, không có xã hội dân sự thật sự, không có thăng tiến nhân bản thật sự, mà không kính trọng sự sống con người, cách riêng sự sống của những con người không có tiếng nói để bênh vực lấy mình. Sự sống của mỗi người, dù là thai nhi còn trong bụng mẹ hay là kẻ đau liệt, tàn tật hay già cả, là một ân huệ cho tất cả mọi người.

Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng hết lòng khẳng định lại giáo huấn của Công Đồng Vatican II và Huấn quyền tiếp theo sau đó, gồm có thông điệp Tin Mừng Sự Sống của tôi (Evangelium Vitae), nói về sự thánh thiêng của sự sống con người. Ở đây tôi hiệp ý với các Ngài để kêu gọi các tín hữu đang sống trong những quốc gia, nơi mà vấn đề dân số thường được sử dụng như một lý lẽ để biện minh cho việc phá thai, và những chương trình kiểm soát giả tạo dân số, nhằm chống lại “nền văn hoá sự chết” (183). Các tín hữu có thể chứng tỏ lòng trung thành với Thiên Chúa và sự dấn thân để thăng tiến con người thật sự, bằng cách ủng hộ và tham gia các chương trình bảo vệ sự sống cho những ai không có khả năng để tự bênh vực lấy mình.

Việc Chăm Sóc Sức Khoẻ

36. Bước theo vết chân Đức Giêsu Kitô, Đấng tỏ lòng thương xót mọi người và chữa lành “mọi thứ bệnh hoạn tật nguyền” (Mt 9,35), Giáo Hội tại Á Châu cam kết dấn thân hơn nữa trong việc chăm sóc người bệnh hoạn, bởi vì đây là một phần căn bản của sứ mạng Giáo Hội, là trao tặng ân sủng cứu độ của Đức Kitô cho con người toàn diện. Như người Samaritanô nhân lành trong dụ ngôn (x. Lc 10,29-37), Giáo Hội muốn chăm sóc người bệnh và tàn tật cách cụ thể, (184) đặc biệt tại những nơi dân chúng thiếu sự chăm sóc thuốc men cơ bản, do nạn nghèo đói và bị loại trừ.

Trong nhiều trường hợp khi tôi thăm viếng Giáo Hội tại những miền khác nhau trên thế giới, tôi bị xúc động sâu xa trước chứng tá phi thường của các tu sĩ và người được thánh hiến, các bác sĩ, y tá và những người chăm lo sức khoẻ khác, cách riêng những người dang làm việc bên cạnh những người tàn tật hoặc những bệnh nhân trong giai đoạn cuối, hay đang chống lại sự lan tràn của những thứ bệnh mới như Aids. Những Kitô hữu dấn thân lo cho sức khoẻ, càng ngày càng được kêu gọi sống quảng đại và hiến mình để săn sóc những nạn nhân nghiện ma tuý và Aids, những kẻ thường bị xã hội khinh chê và loại bỏ (185). Nhiều tổ chức y tế công giáo tại Á Châu phải đương đầu với các áp lực do các chính sách chăm sóc sức khoẻ của nhà nước không đặt nền tảng trên các nguyên tắc Kitô giáo, và nhiều tổ chức đó đang gặp khó khăn về mặt tài chính. Dầu có những khó khăn đó, chính tình yêu gương mẫu và vô vị lợi, và trình độ nghiệp vụ quảng đại của những người đang dấn thân vào công việc đó, đem lại một sự phục vụ đáng khâm phục và đáng giá cho cộng đoàn, và nên một dấu chỉ đặc biệt cụ thể và hữu hiệu cho tình yêu không bao giờ vơi của Thiên Chúa. Những người chăm lo sức khoẻ đó phải được khích lệ và nâng đỡ trong việc thiện họ làm. Sự dấn thân liên tục và hiệu năng của họ là phương cách dành động tốt nhất để những giá trị và đạo đức Kitô giáo thâm nhập vào những hệ thống chăm lo sức khoẻ của lục địa và biến đổi hệ thống đó từ bên trong (186).

Giáo Dục

37. Trên khắp Á Châu, sự dấn thân của Giáo Hội trong việc giáo dục thật rộng rãi và thấy được rõ ràng, và vì thế là một yếu tố chủ chốt nói lên sự hiện diện của Giáo Hội giữa các dân tộc của lục địa. Trong nhiều quốc gia, các trường học công giáo giữ vai trò quan trọng trong việc rao giảng Tin Mừng, hội nhập đức tin vào văn hóa, dạy dỗ sự cởi mở và kính trọng, và cổ võ sự hiểu biết liên tôn. Các trường của Giáo Hội thường cung cấp các cơ hội giáo dục duy nhất cho các thiếu nữ, các dân tộc bộ lạc thiểu số, những trẻ em nhà quê nghèo và ít được ưu đãi. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng xác tín đến nhu cầu mở rộng và phát triển việc tông đồ giáo dục tại Á Châu, với một sự lưu tâm đặc biệt đến những người xấu số, hầu giúp họ có được chỗ đứng chính đáng, như một người công dân trọn vẹn trong xã hội (187). Như các nghị Phụ Thượng Hội Đồng ghi nhận, điều đó có nghĩa là hệ thống giáo dục Công giáo phải hướng cách rõ nét hơn tới việc thăng tiến con người, tạo ra một môi trường cho các học sinh không chỉ nhận lấy những yếu tố giáo dục chính thức, nhưng tổng quát hơn, nhận lãnh một sự đào tạo nhân bản toàn vẹn, đặt nền tảng trên giáo huấn của Đức Kitô (188). Các trường Công giáo phải tiếp tục là những nơi mà đức tin có thể được trình bày và nhận lãnh cách tự do. Cũng vậy, các đại học Công giáo, ngoài việc theo đuổi sở trường học thuật mà chúng được nổi tiếng, cần phải giữ lấy một căn tính Kitô hữu rõ rệt, ngõ hầu trở nên men Kitô giáo trong các xã hội Á Châu (189).

Kiến Tạo Hoà Bình

38. Vào cuối thế kỷ XX, thế giới vẫn còn bị đe doạ bởi các vũ lực làm phát sinh những xung đột và chiến tranh, và Á Châu chắc chắn không thoát khỏi những điều đó. Giữa những vũ lực đó có sự bất bao dung và mọi thứ loại trừ -xã hội, văn hoá, chính trị, và cả tôn giáo nữa. Ngày qua ngày bạo lực mới ập xuống trên từng cá nhân và toàn thể dân chúng, và nền văn hoá sự chết được thiết lập bằng việc sử dụng bất chính bạo lực để giải quyết các căng thẳng. Trong hoàn cảnh xung đột khủng khiếp ấy tại nhiều nơi trên thế giới, Giáo Hội được mời gọi dấn thân trong những nỗ lực quốc tế và liên tôn để mang lại hoà bình, công lý và hoà giải. Giáo Hội tiếp tục nhấn mạnh việc thương thuyết và không dùng quân sự để giải quyết các cuộc xung đột, và trông đợi ngày mà các nước sẽ từ bỏ chiến tranh như là một phương thế để đạt các yêu sách hay là phương tiện để giải quyết các khác biệt. Giáo Hội xác tín rằng chiến tranh gây nên nhiều vấn đề hơn là giải quyết chúng, rằng đối thoại là con đường đúng đắn và cao thượng duy nhất để đạt đến thoả thuận và hoà giải, và cái tài kiên nhẫn và khôn ngoan của việc kiến tạo hoà bình được Thiên Chúa chúc phúc cách riêng.

Điều đặc biệt lo lắng tại Á Châu là sự liên tục chạy đua vũ trang có sức tàn phá hàng loạt, đó là chi phí vô luân và phí phạm ngân sách quốc gia, ngân sách mà trong nhiều trường hợp không đủ thoả mãn các nhu cầu cơ bản của dân chúng. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cũng nói tới số lượng mìn bẫy to lớn tại Á Châu, gây tàn tật và giết chết hàng trăm ngàn kẻ vô tội, còn làm cằn cỗi mảnh đất phì nhiêu có thể dùng để sản xuất ra lương thực (190). Đó là trách nhiệm của tất cả mọi người, nhất là những nhà lãnh đạo quốc gia, là hành động tích cực hơn nữa để giải giáp vũ khí. Thượng Hội Đồng kêu gọi ngưng sản xuất, bán và sử dụng vũ khí hạt nhân, hoá học và sinh học, và thúc giục những kẻ đặt mìn bẫy phải tiếp tay trong công tác phục hồi và sửa chữa (191). Trên hết mọi sự,ï các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cầu xin Thiên Chúa, Đấng thấu suốt lương tâm mỗi người, đặt những tâm tình hoà bình trong con tim những kẻ bị cám dỗ đi theo những con đường bạo lực, ngõ hầu điều mơ thấy trong Kinh Thánh trở nên sự thật: “họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến” (Is 2,4).

Thượng Hội Đồng đã nghe nhiều chứng từ liên can tới những đau khổ của dân Iraq, và về sự kiện là nhiều người dân Iraq, đặc biệt các trẻ em, đã chết vì thiếu thuốc men và những mặt hàng cơ bản do việc cấm vận tiếp diễn. Cùng với các Nghị Phụ của Thượng Hội Đồng, tôi muốn một lần nữa diễn tả sự liên đới của tôi với dân tộc Iraq và tôi đặc biệt gần gũi trong kinh nguyện và hy vọng, với các con cái nam nữ của Giáo Hội tại xứ này. Thượng Hội Đồng cầu xin Chúa soi sáng tâm trí của tất cả những người mang lấy trách nhiệm tìm kiếm một giải pháp chính đáng cho cuộc khủng hoảng, ngõ hầu dân tộc đã bị thử thách cay đắng có thể thoát khỏi đau khổ và ưu phiền hơn nữa (192).

Toàn Cầu Hoá

39. Khi đề cập đến vấn đề thăng tiến con người tại Á Châu, các Nghị phụ Thượng Hội Đồng công nhận tầm quan trọng của quá trình toàn cầu hoá về mặt kinh tế. Tuy nhìn nhận nhiều kết quả tích cực của nó, các ngài cho thấy rằng việc toàn cầu hoá cũng đã gây thiệt hại cho kẻ nghèo (193), có khuynh hướng đẩy những nước nghèo ra bên lề những liên hệ kinh tế và chính trị quốc tế. Nhiều nước Á Châu không có khả năng giữ được nền kinh tế của riêng mình trong một nền kinh tế thị trường thế giới. Và có lẽ điều còn có ý nghĩa hơn, là cũng có khía cạnh toàn cầu hoá về mặt văn hoá, thực hiện được là nhờ những phương tiện truyền thông tân thời, mau chóng lôi kéo các xã hội Á Châu vào trong một nền văn hoá toàn cầu về chủ nghĩa tiêu thụ, nền văn hoá chủ trương tục hoá và duy vật. Kết quả là sự xói mòn gia đình truyền thống và các giá trị xã hội mà cho tới ngày nay vẫn nâng đỡ các dân tộc và các xã hội. Tất cả những sự việc đó cho thấy rõ rằng những khía cạnh đạo đức và luân lý của việc toàn cầu hoá cần được các nhà lãnh đạo quốc gia và những tổ chức liên can tới việc thăng tiến con người đề cập đến cách trực tiếp hơn.

Giáo Hội nhấn mạnh đến sự cần thiết của việc “toàn cầu hoá mà không loại trừ” (194). Cùng với các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, tôi kêu gọi các Giáo Hội địa phương khắp nơi, và cách riêng các Giáo Hội ở các nước Phương Tây, hành động để làm cho học thuyết xã hội của Giáo Hội có tác động thích đáng trong việc soạn thảo các quy tắc đạo đức và pháp lý, để điều hoà các thị trường tự do trên thế giới và các phương tiện truyền thông xã hội. Những nhà lãnh đạo và những nhà chuyên nghiệp Công giáo phải thúc giục các chính phủ, các cơ quan tài chính và thương mại, nhìn nhận và tôn trọng những quy tắc đó (195).

Nợ Nước Ngoài

40. Hơn nữa, trong việc tìm kiếm sự công bằng trong một thế giới bị các bất bình đẳng xã hội và kinh tế làm hư hỏng, Giáo Hội không thể không biết đến gánh nặng nợ nần mà các nước đang mở mang tại Á Châu mắc phải, với ảnh hưởng tác động trên hiện tại và tương lai. Trong nhiều trường hợp, những xứ này bị bắt buộc cắt giảm chi tiêu trong những nhu cầu cần thiết để sống như lương thực, sức khoẻ, nhà ở, giáo dục, ngõ hầu có thể trả các món nợ cho các cơ quan tài chánh quốc tế và ngân hàng. Điều này có nghĩa là nhiều người dân bị đặt vào trong những điều kiện sống gây nhục nhã đối với nhân phẩm con người. Tuy ý thức những phức tạp về mặt chuyên môn của vấn đề này, Thượng Hội Đồng nhìn nhận rằng sự việc đó là một trắc nghiệm về khả năng của các dân tộc, các xã hội và các chính quyền có biết coi trọng con người và sự sống của hàng triệu con người hơn lợi lộc tài chánh và vật chất không (196).

Đại năm thánh 2000 gần tới, là một thời gian thuận tiện để các Hội Đồng Giám Mục thế giới, cách riêng ở tại những nước giàu có hơn, khuyến khích các cơ quan tài chánh thế giới và ngân hàng, khảo sát phương cách làm nhẹ bớt hoàn cảnh nợ nần quốc tế. Trong những phương cách hiển nhiên hơn, thấy có sự điều chỉnh lại nợ nần, với việc giảm phần đáng kể hoặc xoá nợ toàn bộ, xem đó như những dự án kinh doanh và đầu tư để giúp nền kinh tế của những nước nghèo hơn (197). Đồng thời các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cũng ngõ lời với các nước đang mắc nợ. Các ngài nhấn mạnh đến nhu cầu phát triển ý thức trách nhiệm quốc gia, nhắc họ nhớ tới tầm quan trọng của kế hoạch kinh tế lành mạnh, sự trong sáng và quản lý tốt, và mời gọi họ mở chiến dịch quyết liệt chống tham nhũng (198). Các Nghị Phụ kêu gọi các Kitô hữu Á Châu lên án mọi hình thức tham nhũng và biển thủ công quĩ, do những kẻ nắm quyền lực chính trị (199). Các công dân của những quốc gia đang mắc nợ thường là nạn nhân của sự lãng phí và vô hiệu năng tại quốc gia họ, trước khi trở nên nạn nhân của cuộc khủng hoảng nợ nần quốc tế.

Môi Trường

41. Khi mối quan tâm đến sự phát triển kinh tế và kỹ thuật không đi kèm theo mối quan tâm đến sự cân bằng của hệ thống sinh thái, quả đất chúng ta chắc chắn bị hứng chịu những thiệt hại nghiêm trọng về môi trường, với những hậu quả tai hại cho con người. Sự thiếu kính trọng hiển nhiên đối với môi trường sẽ tiếp tục bao lâu mà quả đất và tiềm năng của nó bị coi như những đồ vật để sử dụng và tiêu dùng tức thời, bị thao túng bởi lòng ham muốn vô độ tìm lợi nhuận (200). Nhiệm vụ của các Kitô hữu và của tất cả những ai nhìn nhận Chúa là Đấng Sáng Tạo, là bảo vệ môi trường, bằng cách phục hồi một cảm thức tôn kính đối với toàn thể thọ tạo của Thiên Chúa. Ý muốn Đấng Tạo Hoá là con người đối đãi với thiên nhiên không như một nhà khai thác tàn nhẫn, nhưng như một nhà quản trị tài trí và có trách nhiệm (201). Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nài xin cách đặc biệt những nhà lãnh đạo quốc gia, những nhà làm luật, những nhà kinh doanh và tất cả những ai dấn thân trực tiếp trong việc quản trị tài nguyên của trái đất hãy có một tinh thần trách nhiệm lớn hơn (202). Các ngài nhấn mạnh đến sự cần thiết phải giáo dục dân chúng, cách riêng giới trẻ, có tinh thần trách nhiệm đối với môi trường, bằng cách huấn luyện họ cách thức quản trị thọ tạo mà Thiên Chúa đã giao phó cho nhân loại. Việc bảo vệ môi trường không chỉ là một vấn đề kỹ thuật, nó cũng là và hơn hết là một vấn đề đạo đức. Mọi người đều có bổn phận luân lý phải chăm lo môi trường, không những vì lợi ích cho riêng mình, nhưng cũng vì lợi ích cho các thế hệ mai sau.

Để kết luận, cũng nên nhắc lại rằng, khi kêu gọi các Kitô hữu hành động và hy sinh chính mình để phục vụ việc phát triển con người, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã qui chiếu về một vài giá trị nền tảng của truyền thống Kinh Thánh và Giáo Hội. Dân Israen xưa kia nhấn mạnh đến mối ràng buộc không thể phân rẽ giữa việc thờ phượng Chúa và chăm sóc người yếu đuối, điển hình trong Kinh Thánh là “người goá bụa, người ngoại kiều, và kẻ mồ côi” (x. Xh 22,21-22, Đnl 1018; 27,19), là những người trong các xã hội thời đó, dễ bị đối xử bất côngï. Nhiều lần trong các sách Ngôn Sứ, chúng ta nghe tiếng kêu gào đến công lý, đến sự tổ chức đúng đắn xã hội con người, mà không có những thứ đó thì không thể có sự thờ phượng Chúa đích thực (x. Is 1,10-17; Am 5,21-24). Trong lời mời gọi của các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, chúng ta nghe tiếng vang của các vị ngôn sứ đầy Thần Khí Thiên Chúa, Đấng muốn “lòng thương xót chứ không cần nghi lễ” (Hs 6,6). Đức Giêsu lấy những lời đó làm của mình (x. Mt 9,13), và các thánh trong mọi thời và mọi nơi cũng làm như vậy. Hãy suy nghĩ những lời nói của thánh Gioan Kim Khẩu: “Anh có muốn tôn vinh thân thể Đức Kitô không? Vậy thì đừng phớt lờ Người khi Người trần truồng. Đừng tôn vinh Người trong đền thờ bằng hàng nhung lụa, mà lại để Người ở bên ngoài lạnh cóng và trần truồng. Đấng đã nói: “Này là mình Ta”, cũng là Đấng đã nói, “Anh thấy Ta đói mà không cho Ta ăn”. Ích gì nếu Bàn Tiệc Thánh Thể đầy chén thánh bằng vàng, khi Đức Kitô đang chết đói? Anh hãy khởi sự thoả mãn cơn đói của Người, rồi với cái gì còn lại, anh hãy lấy đó mà trang hoàng bàn thờ cũng được” (203). Trong lời mời gọi của Thượng Hội Đồng về việc phát triển con người và thực thi công bình trong các tương quan nhân loại, chúng ta nghe một tiếng nói vừa cũ vừa mới. Cũ vì nó xuất phát từ bề sâu của truyền thống Kitô giáo, mong có sự hoà hợp sâu xa mà Đấng Tạo Hoá muốn; còn mới, vì nó nói về hoàn cảnh hiện thời của vô số dân tộc tại Á Châu ngày hôm nay.

CHƯƠNG VII

NHỮNG CHỨNG NHÂN TIN MỪNG

Một Giáo Hội Làm Chứng

42. Công đồng Vatican II đã dạy rõ rằng, toàn thể Giáo Hội phải truyền giáo, và công tác Phúc âm hóa là nhiệm vụ của toàn thể Dân Chúa (204). Bởi vì toàn Dân Chúa được sai đi để rao giảng Tin Mừng, việc Phúc âm hoá không bao giờ là một hành động cá nhân hay biệt lập; nó luôn luôn là một nhiệm vụ mang tính Giáo Hội, cần được thực hiện trong sự hiệp thông với toàn thể cộng đồng đức tin. Chỉ có một sứ mạng duy nhất và không thể phân chia, vì chỉ có một nguồn gốc và một cùng đích; nhưng trong nó có nhiều trách nhiệm khác nhau và nhiều thứ hoạt động khác nhau (205). Trong mọi trường hợp, rõ ràng là không thể có được sự rao giảng Tin Mừng đích thực nếu người Kitô hữu không trao tặng một chứng tá đời sống phù hợp với sứ vụ rao giảng: “Hình thức chứng tá đầu tiên là chính đời sống của vị thừa sai, của gia đình Kitô hữu, và của cộng đồng Giáo Hội, một cộng đồng bày tỏ một nếp sống mới. Mỗi người trong Giáo Hội, khi cố gắng bắt chước Thầy chí thánh, thì có thể và phải làm chứng theo kiểu này; trong nhiều trường hợp, đó là phương cách duy nhất có thể được, để trở thành nhà truyền giáo” (206). Cách riêng bây giờ, cần chứng tá Kitô hữu chính hiệu, bởi vì “ngày nay dân chúng tin các chứng nhân hơn là các Thầy dạy, tin vào kinh nghiệm hơn là lời giảng dạy, và tin vào đời sống và hành động hơn là vào lý thuyết” (207). Điều này càng đúng trong bối cảnh Á Châu, nơi mà dân chúng được thuyết phục do đời sống thánh thiện hơn là do lý lẽ trí thức. Như thế, kinh nghiệm về đức tin và về những ân ban của Chúa Thánh Thần, trở thành nền tảng của mọi hoạt động tông đồ, nơi thành thị hay ở thôn quê, trong trường học hay bệnh viện, giữa những kẻ tàn tật, di dân và dân bộ lạc, hay là khi theo đuổi công lý hoặc nhân quyền. Mọi hoàn cảnh đều thuận lợi để người Kitô hữu chứng tỏ quyền năng mà chân lý của Đức Kitô đã hoà nhập trong đời sống của họ. Do đó, được gợi hứng bởi nhiều vị thừa sai đã làm chứng anh dũng cho tình yêu Thiên Chúa giữa các dân tộc của lục địa trong quá khứ, Giáo Hội tại Á Châu bây giờ ra sức làm chứng, không kém sốt sắng hơn, cho Đức Giêsu Kitô và Tin Mừng của Người. Sứ vụ kitô giáo đòi hỏi ít nhất điều đó.

Ý thức về đặc tính truyền giáo của Giáo Hội và trông đợi Chúa Thánh Thần lại đổ xuống năng lực mới, đang lúc Giáo Hội đi vào ngàn năm mới, Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng yêu cầu rằng Tông Thư hậu Thượng Hội Đồng nêu lên một số chỉ thị và hướng dẫn cho những ai đang làm việc trong cánh đồng mênh mông của việc Phúc âm hoá tại Á Châu.

Các Chủ Chăn

43. Chính Chúa Thánh Thần là Đấng ban cho Giáo Hội khả năng hoàn thành sứ mạng Đức Kitô giao phó. Trước khi sai các môn đệ đi làm chứng nhân, Đức Giêsu ban cho họ Chúa Thánh Thần (x. Ga 20,22), Đấng đã hành động qua họ và đánh động con tim của những kẻ nghe họ (x. Cv 2,37). Cũng xảy ra như vậy đối với những kẻ Người sai đi ngày hôm nay. Một mặt, tất cả những ai đã lãnh bí tích Rửa Tội, do chính ân sủng của bí tích, đã được đề cử dự phần vào việc tiếp tục sứ vụ cứu rỗi của Đức Kitô, và họ có khả năng làm công tác này chính vì tình yêu Thiên Chúa đã được đổ xuống tâm hồn họ nhờ Chúa Thánh Thần mà Người ban cho họ (Rm 5,5). Nhưng mặt khác, sứ vụ chung này được chu toàn nhờ sự đa dạng của nhiều chức năng và đoàn sủng đặc biệt trong Giáo Hội. Trách nhiệm chính yếu để thực hành sứ vụ của Giáo Hội được Đức Kitô giao phó cho các Tông Đồ và những người kế vị các ngài. Do việc truyền chức Giám Mục và do sự hiệp thông phẩm trật với Vị đứng đầu Giám Mục đoàn, các Giám Mục lãnh nhận sự ủy thác và quyền bính để giảng dạy, cai quản và thánh hoá Dân Chúa. Do ý muốn của chính Đức Kitô, Đấng kế vị thánh Phêrô -tảng đá mà trên đó Giáo Hội được xây dựng (x. Mt 16,18)- thực thi sứ vụ đặc biệt là hiệp nhất bên trong Giám mục đoàn. Do đó, các Giám Mục phải chu toàn thừa tác vụ của mình trong sự hiệp nhất với Đấng Kế Vị thánh Phêrô, người bảo đảm chân lý của giáo huấn của các ngài và sự hiệp thông trọn vẹn của các ngài trong Giáo Hội.

Liên kết với các Giám Mục trong công việc loan báo Tin Mừng, các Linh mục được kêu gọi, qua việc truyền chức, trở nên mục tử của đoàn chiên, người rao giảng Tin Mừng cứu độ và thừa tác viên các bí tích. Để phục vụ Giáo Hội như Đức Kitô muốn, các Giám Mục và Linh mục cần được đào tạo vững chắc và liên tục, sự đào tạo đó sẽ cung cấp những thuận lợi để canh tân về mặt nhân bản, thiêng liêng và mục vụ, cũng như liệu cho có các khoá thần học, thiêng liêng và các khoa học nhân văn (208). Dân chúng tại Á Châu cần khám phá nơi hàng giáo sĩ không chỉ là những người chuyên lo việc bác ái hoặc những người quản trị cơ chế, nhưng những con người mà tâm trí hướng về những gì thâm sâu của Thần Khí (x. Rm 8,5). Lòng tôn kính mà các dân tộc Á Châu dành cho những kẻ nắm giữ quyền bính, cần đi đôi với sự liêm chính đạo đức rõ nét nơi những người có trách nhiệm thừa tác trong Giáo Hội. Nhờ có đời sống cầu nguyện, sự nhiệt thành phục vụ và cách sống gương mẫu, hàng giáo sĩ làm chứng hùng hồn cho Tin Mừng trong các cộng đoàn họ chăn dắt nhân danh Đức Kitô. Tôi thiết tha cầu nguyện để những thừa tác viên có chức thánh của Giáo hội tại Á Châu sống và làm việc trong một tinh thần hiệp thông và cộng tác với các Giám mục và mọi tín hữu, bằng cách làm chứng cho tình yêu mà Đức Giêsu đã công bố là dấu chỉ đích thực các môn đệ Người (x. Ga 13,35).

Đặc biệt tôi muốn nhấn mạnh đến quan tâm của Thượng Hội Đồng về việc chuẩn bị những người linh hoạt và dạy dỗ trong các chủng viện và các phân khoa thần học (209). Sau khi được đào tạo nghiêm chỉnh về các môn khoa học thánh và những môn học liên hệ, các vị đó phải được đào tạo cách đặc biệt về linh đạo linh mục, nghệ thuật linh hướng, và các phương diện khác của công tác khó khăn và tế nhị đang chờ đợi các vị trong việc giáo dục các linh mục tương lai. Đây là một công tác tông đồ quan trọng nhất vì lợi ích và sức sống của Giáo Hội.

Đời Sống Thánh Hiến Và Các Hội Truyền giáo

44. Trong Tông Thư Hậu Thượng Hội Đồng Vita Consecrata, tôi đã nhấn mạnh tới sự liên kết mật thiết giữa đời sống thánh hiến và sứ mạng truyền giáo. Qua ba khía cạnh của nó là tuyên xưng Ba Ngôi, dấu chỉ tình huynh đệ và phục vụ bác ái, đời sống thánh hiến tỏ bày tình yêu Thiên Chúa trong thế giới, qua chứng tá đặc biệt của nó về sứ vụ cứu rỗi mà Đức Giêsu hoàn thành bằng cách hiến thánh mình hoàn toàn cho Chúa Cha. Nhìn nhận rằng mọi hành động trong Giáo Hội tìm được sự nâng đỡ trong kinh nguyện và hiệp thông với Thiên Chúa, với lòng tôn kính và ngưỡng mộ sâu xa, Giáo Hội tại Á Châu xem các cộng đoàn tu trì sống đời chiêm ngưỡng như là nguồn mạch đặc biệt ban sức mạnh và soi sáng. Dựa theo những đề nghị của các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, tôi đặc biệt khuyến khích việc thiết lập những cộng đoàn đan tu và chiêm ngưỡng, nơi nào có thể được. Bằng cách thức ấy, như Công đồng Vatican II nhắc nhở chúng ta, việc xây dựng xã hội trần thế luôn đặt nền móng nơi Chúa và luôn hướng về Người, kẻo những kẻ xây dựng xã hội trần thế lại lao động cách luống công (210).

Sự tìm kiếm Chúa, một đời sống hiệp thông huynh đệ, và việc phục vụ kẻ khác, là ba đặc tính chủ yếu của đời sống thánh hiến, có khả năng trao tặng một chứng tá Kitô giáo hấp dẫn đối với các dân tộc Á Châu ngày nay. Hội Nghị Đặc Biệt về Á Châu thúc giục những người sống đời thánh hiến trở nên chứng nhân cho lời mời gọi mọi người nên thánh, và nên gương mẫu lôi cuốn những Kitô hữu và không Kitô hữu, về tình yêu quên mình cho mọi người, nhất là những kẻ bé nhỏ nhất trong anh chị em mình. Trong một thế giới mà cảm thức về sự hiện diện của Thiên Chúa thường bị giảm sút, những người thánh hiến cần phải nêu lên những chứng tá thuyết phục và có tính ngôn sứ về địa vị tối thượng của Thiên Chúa và của cuộc sống muôn đời. Sống trong cộng đoàn, họ làm chứng cho những giá trị của tình huynh đệ Kitô giáo và quyền năng biến đổi của Tin Mừng (211). Tất cả những ai dấn thân vào đời sống thánh hiến, đều được kêu gọi trở nên những người hướng dẫn trên con đường tìm kiếm Thiên Chúa, một sự tìm kiếm đã luôn luôn lay động con tim loài người và đặc biệt khả kiến dưới nhiều hình thức tu đức và khổ hạnh tại Á Châu (212). Trong nhiều truyền thống tôn giáo tại Á Châu, những người nam nữ hiến mình trong đời sống chiêm ngưỡng và khổ tu, rất được kính trọng, và chứng tá của họ có một khả năng thuyết phục đặc biệt. Cuộc đời của họ sống trong cộng đoàn, qua một chứng tá thầm lặng và an bình, có thể gợi hứng cho con người tạo nên một cuộc sống hoà hợp hơn trong xã hội. Người ta không mong chờ ít hơn nơi những người nam nữ thánh hiến trong truyền thống Kitô giáo. Gương âm thầm của họ về sự nghèo khó và bỏ mình, về sự khiết tịnh và chân thành, về sự từ bỏ mình trong vâng phục, có thể trở nên một chứng tá hùng hồn có khả năng đánh động mọi người thiện chí và đưa tới một đối thoại mang lại kết quả với các nền văn hoá và tôn giáo xung quanh, và với người nghèo cùng với kẻ không thể tự vệ. Điều đó làm cho đời sống thánh hiến trở nên một phương tiện đặc biệt để rao giảng Tin Mừng cho hữu hiệu (213).

Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhìn nhận vai trò sinh động của các Dòng Tu và Tu Hội, của những Hội truyền giáo và những Hội đời sống tông đồ trong việc rao giảng Tin Mừng tại Á Châu các thế kỷ qua. Vì sự đóng góp vĩ đại này của họ, Thượng Hội Đồng tỏ bày với họ lòng biết ơn của Giáo Hội và thúc giục họ không nao núng trong dấn thân truyền giáo của ho. (214). Tôi hiệp ý với các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng mà kêu gọi những người sống đời thánh hiến, canh tân sự nhiệt thành của họ trong việc loan báo chân lý cứu độ của Đức Kitô. Tất cả phải được huấn luyện và đào tạo xứng hợp; nền huấn luyện này cần tập trung vào Đức Kitô và trung thành với đoàn sủng nền tảng của họ, nhấn mạnh đến sự thánh thiện và chứng tá cá nhân; tu đức và kiểu sống của họ phải nhạy cảm với gia sản tôn giáo của dân tộc mà họ đang sống và phục vụ (215). Tuy vẫn tôn trọng đoàn sủng riêng của họ, họ phải hoà nhập trong chương trình mục vụ của Giáo Phận nơi họ làm việc. Về phần mình, các Giáo Hội địa phương cần đẩy mạnh sự hiểu biết về lý tưởng của các tu sĩ và đời sống thánh hiến, và cổ võ những ơn gọi đó. Điều này đòi hỏi mỗi giáo phận phải lập ra một chương trình mục vụ cho ơn gọi, gồm có việc chỉ định các Linh mục và tu sĩ làm việc toàn thời gian giữa giới trẻ để giúp họ lắng nghe và nhận định tiếng gọi của Chúa (216).

Trong bối cảnh hiệp thông của Giáo Hội toàn cầu, tôi không thể không thúc giục Giáo Hội tại Á Châu cử đi các vị thừa sai, mặc dầu chính họ cũng cần những người thợ làm việc trong vườn nho. Tôi vui mừng thấy trong nhiều nước Á Châu, những hội Thừa sai sống đời sống tông đồ mới được thành lập; điều đó chứng tỏ rằng đặc tính truyền giáo của Giáo Hội được nhìn nhận và các Giáo Hội địa phương tại Á Châu ý thức đến trách nhiệm phải rao giảng Tin Mừng cho toàn thế giới (217). Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng khuyến khích “trong mỗi Giáo Hội địa phương tại Á Châu nơi nào chưa có, nên thành lập những Hội Thừa Sai sống đời sống tông đồ, với đặc tính là dấn thân cách đặc biệt lo việc truyền giáo ad gentes, ad exteros và ad vitam” (218). Một sáng kiến như thế chắc chắn mang lại kết quả phong phú, không những cho các Giáo Hội đón nhận các vị thừa sai, nhưng còn cho những Giáo Hội sai họ đi.

Người Giáo Dân

45. Như Công đồng Vatican II chỉ rõ, ơn gọi của người giáo dân đặt họ hoàn toàn vào trong thế gian, để họ chu toàn những công tác đa dạng nhất, và chính nơi đây mà họ được mời gọi truyền bá Tin Mừng Đức Giêsu Kitô (219). Do ân sủng và ơn gọi do bí tích Rửa Tội và Thêm sức, tất cả giáo dân là thừa sai; và sân khấu hoạt động tông đồ của họ là thế giới mênh mông và phức tạp, gồm có chính trị, kinh tế, kỹ nghệ, giáo dục, truyền thông, khoa học, kỹ thuật và thể thao. Trong nhiều nước tại Á Châu, người giáo dân đã phục vụ như những nhà truyền giáo thực thụ, tiếp xúc những người bạn Á Châu, những người có lẽ chưa bao giờ gặp được hàng giáo sĩ và tu sĩ (220). Tôi thay mặt toàn thể Giáo Hội bày tỏ lòng biết ơn với họ, và tôi khuyến khích tất cả những người giáo dân nhận lấy vai trò riêng của mình trong đời sống và sứ mạng của Dân Chúa, như là những chứng nhân cho Đức Kitô ở bất cứ nơi nào họ hiện diện.

Bổn phận của các vị Chủ Chăn là bảo đảm cho người giáo dân được huấn luyện thành người rao giảng Tin Mừng, có khả năng đương đầu với các thách thức của thế giới ngày nay, không phải với sự khôn ngoan và hiệu năng thế gian, nhưng với tâm hồn được đổi mới và được vững mạnh bằng chân lý Đức Kitô (221). Khi làm chứng cho Tin Mừng trong mọi lãnh vực của đời sống xã hội, người giáo dân có thể đóng vai duy nhất trong việc nhổ tận gốc sự bất công và áp bức, và để làm được vậy họ phải được huấn luyện cách thích hợp. Để đạt tới mục đích đó, tôi hiệp ý với các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng mà đề nghị thiết lập, ở cấp giáo phận hay quốc gia, những trung tâm huấn luyện người giáo dân, để chuẩn bị người giáo dân thi hành công tác truyền giáo của họ như những chứng nhân cho Đức Kitô tại Á Châu ngày nay (222).

Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng quan tâm hơn hết đến sự kiện Giáo Hội phải là một Giáo Hội cho mọi người tham gia, nơi đây không một ai bị loại trừ, và các ngài xét rằng sự tham gia rộng rãi hơn của người nữ trong đời sống và sứ mạng của Giáo Hội tại Á Châu, là một nhu cầu thúc bách cách đặc biệt. “Người nữ có khả năng hết sức đặc biệt trong việc chuyển trao đức tin, đến nỗi chính Đức Giêsu kêu gọi tới khả năng đó trong việc rao giảng Tin Mừng. Đó là điều đã xảy ra với người phụ nữ xứ Samari mà Đức Giêsu gặp tại giếng nước Giacóp: Chúa chọn bà để phổ biến, lần đầu tiên, đức tin mới trong vùng đất không phải là Do Thái” (223). Để nâng cao việc phục vụ của họ trong Giáo Hội, phải tạo ra nhiều điều kiện thuận tiện hơn cho người nữ theo học những khoá thần học và những lãnh vực khác; và người nam trong các chủng viện hay các cơ sở đào tạo cần được dạy cho biết nhìn người nữ như là những người cộng tác trong việc tông đồ (224). Phải để người nữ tham gia, cách hiệu quả hơn, vào các chương trình mục vụ, những Hội Đồng Mục Vụ cấp giáo phận và giáo xứ, và các Thượng Hội Đồng giáo phận. Những khả năng và phục vụ của người nữ trong lãnh vực chăm sóc sức khỏe, giáo dục, chuẩn bị người tín hữu nhận lãnh các bí tích, xây dựng cộng đồng và kiến tạo hoà bình cần được nhìn nhận đầy đủ hơn. Như các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng ghi nhận, sự hiện diện của người nữ trong sứ vụ tình yêu và phục vụ của Giáo Hội, góp phần to lớn để đem Đức Giêsu hay thương xót, Đấng chữa lành và hoà giải, đến với dân Á Châu, đặc biệt là đối với người nghèo và người bị loại trừ (225).

Gia Đình

46. Gia đình là chỗ bình thường để giới trẻ lớn lên tới độ trưởng thành cá nhân và xã hội. Gia đình còn là nơi mang lấy gia sản nhân loại, bởi vì nhờ gia đình mà sự sống truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Gia đình chiếm một chỗ rất quan trọng trong nền văn hoá Á Châu; và, như các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng ghi nhận, các giá trị gia đình như lòøng hiếu thảo, tình yêu và sự chăm sóc người già cả và bệnh hoạn, tình yêu đối với trẻ nhỏ và sự hài hoà, rất được quý trọng trong mọi nền văn hoá và truyền thống tôn giáo Á Châu.

Theo cái nhìn kitô giáo, gia đình là “Giáo Hội tại gia” (226). Gia đình kitô hữu, cũng như Giáo Hội xét chung, phải là một nơi mà chân lý Tin Mừng là luật sống và là ân huệ mà các thành viên trong gia đình mang đến cho cộng đồng rộng lớn hơn. Gia đình không đơn thuần là đối tượng chăm sóc mục vụ của Giáo Hội, gia đình còn là một trong những thành viên hữu hiệu nhất của việc rao giảng Tin Mừng. Các gia đình Kitô hữu ngày nay được kêu gọi làm chứng cho Tin Mừng trong những thời gian và hoàn cảnh khó khăn, khi chính gia đình bị một loạt những quyền lực đe dọa (227). Muốn trở nên tác nhân rao giảng Tin Mừng trong một giai đoạn như thế, gia đình Kitô hữu cần phải trở nên thật sự là “Giáo Hội tại gia”, sống ơn gọi Kitô hữu cách khiêm tốn và trong tình yêu.

Như các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng chỉ rõ, điều này có nghĩa là gia đình phải tham gia cách tích cực vào đời sống giáo xứ, chia sẻ các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể và bí tích Sám Hối, và dấn thân phục vụ kẻ khác. Điều đó cũng có nghĩa là cha mẹ phải cố gắng làm sao, trong những khi gia đình tụ tập lại, có thời gian để cầu nguyện, đọc và suy niệm Kinh Thánh, cử hành những nghi lễ xứng hợp do cha mẹ chủ sự, và có những giải trí lành mạnh. Điều đó sẽ giúp gia đình Kitô hữu trở nên trung tâm của việc Phúc âm hoá, nơi mà mỗi thành viên cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa và truyền nó sang cho kẻ khác (228). Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cũng nhìn nhận các trẻ em có vai trò trong việc Phúc âm hoá, vừa ở gia đình của chúng vừa ở trong cộng đồng rộng lớn hơn (229). Vì xác tín “tương lai thế giới và Giáo Hội thông qua gia đình” (230), một lần nữa tôi đề nghị nên học hỏi và đem ra áp dụng những gì tôi đã viết về chủ đề gia đình trong Tông Thư Familiaris Consortio, được ban hành sau Đại Hội khoáng đại thường kỳ của Thượng Hội Đồng các Giám Mục năm 1980.

Giới Trẻ

47. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đặc biệt nhạy cảm với chủ đề giới trẻ trong Giáo Hội. Nhiều vấn đề phức tạp mà giới trẻ bây giờ đang đương đầu, trong thế giới Á Châu đang đổi thay, thúc giục Giáo Hội nhắc giới trẻ nhớ đến trách nhiệm đối với tương lai của xã hội và Giáo Hội, khuyến khích và nâng đỡ giới trẻ ở mọi giai đoạn để bảo đảm rằng họ đã saün sàng đón nhận trách nhiệm này. Giáo Hội trao ban cho giới trẻ chân lý Tin Mừng như là một mầu nhiệm đem lại niềm vui và giải phóng; mầu nhiệm mà họ phải học hỏi, sống và chia sẻ với niềm xác tín và can đảm.

Nếu giới trẻ phải trở nên những tác nhân hữu hiệu của việc truyền giáo, thì Giáo Hội cần cung ứng cho họ sự chăm sóc mục vụ xứng hợp (231). Đồng ý với các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, tôi khuyên bảo rằng, nơi nào có thể, mỗi giáo phận tại Á Châu phải chỉ định các tuyên úy giới trẻ hay lãnh đạo, để cổ võ việc huấn luyện thiêng liêng và việc tông đồ của giới trẻ. Các trường công giáo và các giáo xứ giữ vai trò trọng yếu trong việc cung ứng nền huấn luyện toàn diện cho giới trẻ, bằng cách tìm phương thế hướng dẫn chúng trên con đường làm môn đệ thật sự và làm phát huy nơi chúng những đức tính nhân bản mà sứ vụ đòi hỏi. Những tổ chức tông đồ giới trẻ và những câu lạc bộ giới trẻ có thể là nơi thuận tiện để cảm nghiệm tình bạn kitô hữu, rất quan trọng đối với người trẻ. Giáo xứ, các hội đoàn và các phong trào có thể giúp người trẻ đối diện tốt hơn với những áp lực xã hội, bằng cách trao tặng cho họ không những khả năng tăng trưởng đến một đời sống kitô hữu trưởng thành hơn, mà còn giúp họ dưới hình thức hướng nghiệp, đào tạo về ơn gọi và cố vấn cho giới trẻ.

Trong việc huấn luyện Kitô hữu cho giới trẻ tại Á Châu, phải nhìn nhận rằng giới trẻ không những là đối tượng của việc chăm sóc mục vụ của Giáo Hội, mà còn là “những tác nhân và cộng tác viên trong sứ mệnh của Giáo Hội qua các việc tông đồ đa dạng của Giáo Hội nhằm yêu thương và phục vụ” (232). Do đó, trong các giáo xứ và giáo phận, người trẻ và phụ nữ phải được mời gọi tham gia vào việc tổ chức các hoạt động có liên can tới họ. Sự tươi trẻ và lòng hăng say, tinh thần liên đới và niềm hy vọng của họ, có thể biến họ thành những người kiến tạo hoà bình trong một thế giới chia rẽ; và, trên phương diện này, điều đáng khích lệ là thấy giới trẻ dấn thân vào những chương trình trao đổi giữa các Giáo Hội địa phương và những quốc gia tại Á Châu và bất cứ nơi nào đang cổ võ sự đối thoại liên tôn và liên văn hoá.

Truyền Thông Xã Hội

48. Trong thời đại toàn cầu hoá, “những phương tiện truyền thông xã hội đã trở nên quan trọng đến nỗi đối với nhiều người, nó trở thành những phương tiện chính để thông tin và giáo dục, hướng dẫn và tác động trên cách cư xử cá nhân, gia đình và xã hội. Đặc biệt, giới trẻ đang lớn lên trong một thế giới bị điều kiện hoá bởi truyền thông đại chúng” (233). Ta thấy xuất hiện trên thế giới một nền văn hoá mới “xuất phát từ sự kiện có những cách thức thông tin mới, với ngôn ngữ mới, kỹ thuật mới và tâm lý mới” (234). Vai trò đặc biệt mà các phương tiện truyền thông xã hội nắm giữ trong việc hình thành thế giới, các nền văn hoá và những cách suy nghĩ của nó, đã đưa tới những thay đổi mau lẹ và lan rộng trong các xã hội tại Á Châu.

Chắc chắn, sứ mạng rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội cũng chịu ảnh hưởng sâu xa do tác động của truyền thông đại chúng. Bởi vì truyền thông đại chúng có một ảnh hưởng càng ngày càng lớn mạnh tại Á Châu dẫu cả ở những vùng xa xôi, nó có thể góp phần rất lớn vào việc rao giảng Tin Mừng cho mọi hang cùng ngõ hẽm của lục địa. Tuy nhiên, “việc dùng truyền thông để phổ biến sứ điệp Kitô giáo và giáo huấn đích thực của Giáo Hội thì chưa đủ. Cần phải hội nhập sứ điệp này vào trong ‘văn hoá mới’ do những phương tiện truyền thông hiện đại tạo ra” (235). Để đạt được mục đích này, Giáo Hội cần khám phá những cách thế hội nhập hoàn toàn truyền thông đại chúng vào kế hoạch và hoạt động mục vụ của mình, để nhờ cách dùng hiệu năng của chúng, quyền năng của Tin Mừng có thể tác động tới các cá nhân và toàn bộ các dân tộc, và những giá trị Nước Trời thấm nhập vào các nền văn hoá Á Châu.

Tôi muốn hợp lời tán dương của các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng về Đài Phát Thanh Chân lý Á Châu, đài phát thanh duy nhất có tầm lục địa cho Giáo Hội tại Á Châu, đã gần 30 năm phát thanh rao giảng Tin Mừng. Các Hội Đồng Giám Mục và các Giáo phận tại Á Châu cần phải củng cố khí cụ truyền giáo tuyệt hảo này, nhờ việc soạn thảo chương trình theo các ngôn ngữ cho xứng hợp, nhờ sự giúp đỡ nhân sự và tài chánh (236). Ngoài việc phát thanh, những nhà xuất bản và những cơ quan thông tin Công giáo có thể giúp phổ biến thông tin và cung ứng việc giáo dục và đào tạo tôn giáo thường xuyên trên khắp lục địa. Ở những nơi người Kitô hữu là thiểu số, những thứ đó có thể là phương tiện quan trọng để nâng đỡ và nuôi dưỡng một cảm thức về căn tính Công giáo và để phổ biến kiến thức về những nguyên tắc luân lý Công giáo (237).

Tôi hiệp ý với lời nhắn nhủ của các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng về việc Phúc âm hoá bằng các phương tiện truyền thông xã hội, là “arêôpagô của thời đại mới”, với hy vọng là chúng có thể giúp thăng tiến con người và loan truyền chân lý Đức Kitô cũng như giáo huấn của Giáo Hội (238). Thật là hữu ích nếu mỗi Giáo phận có thể thiết lập, nơi nào có thể, một văn phòng truyền thông đại chúng. Việc giáo dục về các phương tiện truyền thông, chứ không chỉ việc lượng giá về các sản phẩm của truyền thông, cần phải là một phần càng ngày càng gia tăng trong việc đào tạo linh mục, chủng sinh, tu sĩ, giáo lý viên, những chuyên viên giáo dân, những học sinh trong các trường Công giáo và các cộng đoàn giáo xứ. Xét vì ảnh hưởng sâu rộng và kỳ diệu của truyền thông xã hội, nên những người Công giáo cần làm việc với các thành viên của các Giáo Hội và Cộng Đồng Giáo Hội khác, và với những người theo các tôn giáo khác, để bảo đảm một chỗ đứng cho các giá trị thiêng liêng và luân lý trong các phương tiện truyền thông. Cùng với các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, tôi khuyến khích việc phát triển những chương trình mục vụ cho truyền thông ở cấp quốc gia và Giáo phận, tuân theo những chỉ dẫn của Huấn Thị Mục Vụ Aetatis Novae, với những quan tâm phù hợp với hoàn cảnh riêng của Á Châu.

Các Thánh Tử Đạo

49. Dù những chương trình đào tạo và các kế hoạch rao giảng Tin Mừng có quan trọng như thế nào đi nữa, cuối cùng thì việc tử đạo mới mạc khải cho thế giới thấy điều cốt yếu nhất của sứ điệp Kitô giáo. Từ “tử đạo” (martyr), có nghĩa là chứng tá, và những ai đã đổ máu mình vì Đức Kitô đã nêu lên chứng tá tột bực cho giá trị thật của Tin Mừng. Trong Sắc Chỉ ấn định Đại Năm Thánh 2000, Incarnationis Mysterium (Mầu nhiệm Nhập Thể), tôi đã nhấn mạnh sự kiện có tính cách thiết yếu là tưởng nhớ Các Thánh Tử đạo: “Đứng trên quan điểm tâm lý học, việc tử đạo là một bằng chứng hùng hồn nhất của chân lý đức tin, bởi vì đức tin có thể đem lại một gương mặt nhân bản cả cho cái chết tàn bạo nhất, và biểu lộ vẻ đẹp của nó ngay trong những cuộc bách hại khốc liệt nhất” (239). Qua các thời đại, Á Châu đã cung cấp cho Giáo Hội và thế giới một đoàn đông đảo các vị Anh Hùng Đức Tin, và từ con tim của Á Châu, trổi lên bài ca vĩ đại: Te martyrum candidatus laudat exercitus (đoàn tử đạo quang huy hùng dũng, máu đào đổ ra minh chứng về Ngài). Đó là bài ca của những vị đã chết vì Đức Kitô trên phần đất Á Châu trong các thế kỷ đầu của Giáo Hội, và đó cũng là tiếng kêu đầy vui mừng của những người nam và nữ của các thời gần đây, như thánh Phaolô Miki và các bạn tử đạo, thánh Lôrensô Ruiz và các bạn tử đạo, thánh Anrê Dũng Lạc và các bạn tử đạo, thánh Anrê Kim Taegon và các bạn tử đạo. Xin đoàn đông đảo Các Thánh Tử Đạo Á Châu xưa cũng như nay, không ngừng dạy dỗ Giáo Hội tại Á Châu biết thế nào là làm chứng cho Chiên Con mà các ngài đã giặt trắng áo trong máu của Người (x. Kh 7,14). Ưùớc chi các ngài luôn là những chứng nhân bất khuất cho chân lý này, là các Kitô hữu được kêu gọi, luôn luôn và mọi nơi, loan báo không điều gì khác ngoài quyền lực của Thánh Giá Chúa! Và xin cho máu Các Thánh Tử Đạo Á Châu, bây giờ cũng như mãi mãi, là hạt giống sinh sự sống mới cho Giáo Hội tại mọi hang cùng ngõ hẻm của lục địa!

KẾT THÚC

Lời Cám Ơn Và Khuyến Khích

50. Các anh chị em Á Châu thân mến, cuối Tông Thư Hậu Thượng Hội Đồng này, với mục đích biện phân Lời Của Thần Khí cho Giáo Hội tại Á Châu (x. Kh 1,11), và nêu lên những hoa quả của Hội Nghị Đặc Biệt về Á Châu của Thượng Hội Đồng các Giám Mục, tôi muốn tỏ bày lòng biết ơn đối với tất cả những người đã góp phần nào đó vào sự thành công của biến cố quan trọng này của Giáo Hội. Trước hết và hơn hết, một lần nữa, chúng ta tạ ơn Thiên Chúa vì sự phong phú của các nền văn hoá, ngôn ngữ, truyền thống và cảm thức tôn giáo tại đại lục này. Chúc tụng Thiên Chúa vì các dân tộc Á Châu, thật phong phú trong sự đa dạng, nhưng lại hiệp nhất trong niềm khát khao hoà bình và sự sống viên mãn. Cách riêng, ngày hôm nay, khi gần ngày kỷ niệm Sinh Nhật lần thứ 2000 của Đức Giêsu Kitô, chúng ta cảm tạ Thiên Chúa vì đã chọn Á Châu làm nơi trú ngụ trần thế cho Người Con Nhập Thể, Đấng Cứu Độ trần gian.

Tôi không thể không diễn tả lòng ngưỡng mộ của tôi đối với các Giám Mục Á Châu, vì lòng yêu mến sâu sa của các Ngài đối với Đức Giêsu Kitô, Giáo Hội và các dân tộc Á Châu, và vì chứng tá hiệp thông và dâng hiến quảng đại của các ngài trong công tác rao giảng Tin Mừng. Tôi cám ơn tất cả những ai họp thành đại gia đình của Giáo Hội tại Á Châu: hàng giáo sĩ, các nam nữ tu sĩ và những người được thánh hiến khác, các nhà truyền giáo, các giáo dân, các gia đình, giới trẻ, dân bản xứ, những công nhân, những người nghèo và khốn cực. Tận đáy lòng tôi có một chỗ đặc biệt dành cho những người bị bắt bớ vì lòng tin vào Đức Kitô. Họ là những trụ cột ẩn khuất của Giáo Hội. Chính Đức Giêsu nói những lời đầy an ủi nầy với họ: “Anh em được chúc phúc trong Nước Trời” (x. Mt 5,10).

Những lời nói của Đức Giêsu khích lệ Giáo Hội tại Á Châu: “Hỡi đoàn chiên bé nhỏ, đừng sợ, vì Cha anh em đã vui lòng ban Nước của Người cho anh em” (Lc 12,32). Những kẻ tin vào Đức Kitô vẫn là một thiểu số bé nhỏ trong lục địa mênh mông và đông dân nhất này. Nhưng không phải là một thiểu số nhút nhát, họ có một đức tin sống động, họ tràn đầy hy vọng và sức sống mà duy chỉ tình yêu mới có thể mang lại. Qua lối sống khiêm tốn nhưng can đảm của họ, họ đã gây ảnh hưởng đến các nền văn hoá và các xã hội tại Á Châu, cách riêng đến cuộc sống của kẻ nghèo và không ai giúp đỡ, nhiều người trong số này chưa được chia sẻ đức tin Công giáo. Họ là gương sáng cho tất cả Kitô hữu khắp nơi về thái độ saün sàng chia sẻ kho tàng Tin Mừng “lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện” (2 Tm 4,2). Họ tìm được sức mạnh trong quyền năng vô biên của Chúa Thánh Thần, nhờ Người mà, dẫu con số thành viên của Giáo Hội tại Á Châu chung chung rất nhỏ nhoi, sự hiện diện của Giáo Hội giống như chút men trộn vào khối bột, vẫn làm cho toàn khối dậy men một cách âm thầm và kín đáo (x. Mt 23,33).

Các dân tộc Á Châu cần đến Đức Giêsu Kitô và Tin Mừng của Người. Á Châu đang khao khát nước hằng sống mà chỉ một mình Đức Giêsu có thể ban phát cho (x. Ga 4,10-15). Vì thế, các môn đệ Đức Kitô tại Á Châu phải quảng đại trong nỗ lực chu toàn sứ mạng họ đã lãnh nhận từ Chúa, Đấng đã hứa ở với họ cho tới tận thế (x. Mt 28,20). Với hết lòng tin tưởng vào Chúa, Đấng không bao giờ bỏ rơi những kẻ Người kêu gọi, Giáo Hội tại Á Châu vui vẻ làm cuộc hành trình tiến vào ngàn năm thư ba. Niềm vui duy nhất của Giáo Hội là niềm vui xuất phát từ sự chia sẻ với đông đảo các dân tộc Á Châu, ân huệ vô biên mà Giáo Hội đã lãnh nhận -tình yêu của Đức Giêsu Cứu Thế. Tham vọng duy nhất của Giáo Hội là tiếp tục sứ mạng phục vụ và yêu thương của mình, để tất cả mọi người Á Châu “có được sự sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).

Lời Cầu Nguyện Với Mẹ Đức Kitô

51. Đối diện với sứ mạng đầy thách đố như thế, chúng ta hướng về Đức Maria, Đấng mà như các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã nói, các Kitô hữu Á Châu rất yêu mến và thiết tha, tôn kính Người như là Mẹ mình và là Mẹ Đức Kitô (240). Khắp nơi tại Á Châu, có hàng trăm thánh đường và đền thờ kính Đức Maria, nơi đó tụ họp không những người Công giáo, mà còn các người theo các tôn giáo khác nữa.

Trước ngưỡng cửa ngàn năm thứ ba của kỷ nguyên Kitô giáo, tôi phó thác Giáo Hội tại Á Châu cho Đức Maria, gương mẫu của tất cả các môn đệ và là Ngôi Sao Sáng của việc Phúc âm hoá, tuyệt đối tin rằng đôi tai của Ngài là đôi tai luôn lắng nghe, quả tim của Ngài là quả tim luôn đón tiếp, và lời cầu của Ngài là lời cầu không bao giờ không được đáp ứng:

Lạy Đức Maria Rất Thánh, Nữ Tử của Thiên Chúa Tối Cao,
Mẹ Đồng Trinh của Đấng Cứu Thế
và Mẹ của tất cả chúng con
xin Mẹ âu yếm nhìn đến Giáo Hội của Con Mẹ
được gieo trồng trên mảnh đất Á Châu.
Xin Mẹ làm người hướng dẫn và mẫu gương cho Giáo Hội
khi Giáo hội tiếp tục sứ mạng của Con Mẹ,
sứ mạng tình yêu và phục vụ tại Á Châu.

Mẹ đã chấp nhận cách hoàn toàn và tự do
tiếng gọi của Chúa Cha để làm Mẹ Thiên Chúa;
xin dạy chúng con loại bỏ ra khỏi lòng chúng con
tất cả những gì không thuộc về Chúa,
để chúng con cũng được tràn đầy
Chúa Thánh Thần từ trời cao.
Mẹ suy niệm các mầu nhiệm của thánh ý Chúa
trong tĩnh lặng của lòng Mẹ;
xin giúp chúng con trong cuộc hành trình
biết biện biệt những dấu chỉ của bàn tay uy quyền của Chúa.
Mẹ đã mau mắn đi thăm viếng bà Elizabeth
và giúp bà trong những ngày chờ đợi của bà;
xin cầu cho chúng con
cũng được một tinh thần sốt mến và phục vụ
trong sứ mạng rao giảng Tin Mừng của chúng con.
Mẹ đã hát bài ngợi khen Chúa;
xin dẫn dắt chúng con
biết hân hoan loan báo niềm tin vào Đức Kitô,
Đấng Cứu Độ chúng con.
Mẹ đã xót thương những kẻ thiếu thốn
và nói với Con Mẹ giùm cho họ;
xin dạy chúng con đừng bao giờ e sợ
phải nói về thế giới cho Đức Giêsu
và phải nói về Đức Giêsu cho thế giới.
Mẹ đứng dưới chân Thánh Giá
khi Con Mẹ thở hơi cuối cùng;
xin Mẹ ở với chúng con
khi chúng con tìm cách nên một
trong tinh thần và trong phục vụ
với tất cả những ai đau khổ.
Mẹ đã cầu nguyện với các môn đệ trên Lầu Cao;
xin giúp chúng con biết trông chờ Thần Khí
và đi tới nơi nào Thần Khí hướng dẫn chúng con.

Xin bảo vệ Giáo Hội khỏi mọi quyền lực
đang đe doạ Giáo Hội.
Xin giúp Giáo Hội trở nên một hình ảnh đích thực
của Chúa Ba Ngôi Chí Thánh.
Xin cầu giúp nguyện thay
để nhờ tình yêu và phục vụ của Giáo Hội
tất cả các dân tộc Á Châu có thể biết Con của Mẹ,
Đức Giêsu Kitô,
Đấng Cứu Độ duy nhất của thế giới,
và hưởng nếm niềm vui sự sống viên mãn.

Ôi Maria, Mẹ của Thọ Tạo Mới
và Mẹ của Á Châu,
xin cầu cho chúng con là con cái Mẹ,
bây giờ và mãi mãi!

(Ban hành tại New Delhi, Ấn Độ, ngày 6/11/1999
năm thứ 22 Triều Giáo Hoàng của TA)

CHÚ THÍCH:

(1) John Paul II, Address to the Sixth Plenary Assembly of the Federation of Asian Bishops’ Conferences (FABC), Manila (15 January 1995), 11: Insegnamenti XVIII, 1 (1995), 159.

(2) Apostolic Letter Tertio Millennio Adveniente (10 November 1994), 38: AAS 87 (1995), 30.

(3) No. 11: Insegnamenti XVIII, 1 (1995), 159.

(4) John Paul II, Apostolic Letter Tertio Millennio Adveniente (10 November 1994), 38: AAS 87 (1995), 30.

(5) Cf. Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Nuntius (Final Message), 2.

(6) Address to the Sixth Plenary Assembly of the Federation of Asian Bishops’ Conferences (FABC), Manila (15 January 1995), 10: Insegnamenti XVIII, 1 (1995), 159.

(7) John Paul II, Letter Concerning Pilgrimage to the Places Linked to the History of Salvation (29 June 1999), 3: L’Osservatore Romano (30 June – 1 July 1999), 8.

(8) Cf. Propositio 3.

(9) Propositio 1.

(10) Cf. Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Lineamenta, 3.

(11) Cf. ibid.

(12) Cf. Propositio 32.

(13) Cf. Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Instrumentum Laboris, 9.

(14) Cf. Propositiones 36 and 50.

(15) Propositio 44.

(16) Propositio 27.

(17) Cf. Propositio 45.

(18) Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Instrumentum Laboris, 9.

(19) Cf. Propositio 39.

(20) Propositio 35.

(21) Cf. Propositio 38.

(22) Cf. Propositio 22.

(23) Cf. Propositio 52.

(24) Cf. Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Lineamenta, 6.

(25) Cf. Propositio 56.

(26) John Paul II, Apostolic Letter Tertio Millennio Adveniente (10 November 1994), 18: AAS 87 (1995), 16.

(27) Cf. Propositio 29.

(28) Cf. Propositiones 29 and 31.

(29) Propositio 51.

(30) Cf. Propositiones 51, 52 and 53.

(31) Propositio 57.

(32) Cf. ibid.

(33) Propositio 54.

(34) No. 3: AAS 83 (1991), 252.

(35) Cf. Propositio 5.

(36) Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Relatio ante disceptationem: L’Osservatore Romano (22 April 1998), 5.

(37) Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Relatio post disceptationem, 3.

(38) Propositio 8.

(39) No. 11: AAS 83 (1991), 260.

(40) Ibid.

(41) Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Relatio post disceptationem, 3.

(42) Roman Missal: Eucharistic Prayer I for Masses of Reconciliation.

(43) John Paul II, Encyclical Letter Redemptor Hominis (4 March 1979), 10: AAS 71 (1979), 274.

(44) Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 22.

(45) No. 9: AAS 71 (1979), 272f.

(46) Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Relatio post disceptationem, 3.

(47) Cf. ibid.

(48) Ibid.

(49) Propositio 5.

(50) John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 6: AAS 83 (1991), 255.

(51) John Paul II, Encyclical Letter Redemptor Hominis (4 March 1979), 7: AAS 71 (1979), 269.

(52) Cf. John Paul II, Encyclical Letter Dominum et Vivificantem (18 May 1986), 54: AAS 78 (1986), 875.

(53) Cf. ibid., 59: loc. cit., 885.

(54) John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 28: AAS 83 (1991), 274; cf. Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 26.

(55) Cf. Propositio 11; Second Vatican Ecumenical Council, Decree on the Missionary Activity of the Church Ad Gentes, 4 and 15; Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 17; Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 11, 22 and 38; John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 28: AAS 83 (1991), 273f.

(56) Cf. Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Relatio ante disceptationem: L’Osservatore Romano (22 April 1998), 5.

(57) John Paul II, Encyclical Letter Dominum et Vivificantem, (18 May 1986), 50: AAS 78 (1986), 870; cf. Saint Thomas Aquinas, Summa Theologiae, III, 2, 10-12; 6, 6; 7, 13.

(58) Cf. John Paul II, Encyclical Letter Dominum et Vivificantem (18 May 1986), 50: AAS 78 (1986), 870.

(59) Cf. ibid., 24: loc. cit., 832.

(60) Cf. John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 28: AAS 83 (1991), 274.

(61) No. 29: AAS 83 (1991), 275; cf. Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 45.

(62) Cf. John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 29: AAS 83 (1991), 275.

(63) Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 13.

(64) Propositio 12.

(65) Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 17.

(66) Apostolic Exhortation Evangelii Nuntiandi (8 December 1975), 22: AAS 68 (1976), 20.

(67) Propositio 8.

(68) John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 45: AAS 83 (1991), 292.

(69) Cf. ibid., 46: loc.cit., 292f.

(70) Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Declaration on Religious Freedom Dignitatis Humanae, 3-4; John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 39: AAS 83 (1991), 287; Propositio 40.

(71) Paul VI, Apostolic Exhortation Evangelii Nuntiandi (8 December 1975), 53: AAS 68 (1976), 41f.

(72) Address to Representatives of Non-Christians Religions, Madras (5 February 1986), 2: AAS 78 (1986), 767.

(73) Cf. Propositiones 11 and 12; John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 28: AAS 83 (1991), 273f.

(74) Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Relatio ante disceptationem: L’Osservatore Romano (22 April 1998), 5.

(75) Propositio 58.

(76) Cf. John Paul II, Encyclical Letter Fides et Ratio (14 September 1998), 72: AAS 91 (1999), 61.

(77) Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Relatio post disceptationem, 15.

(78) Cf. ibid.

(79) Ibid.

(80) Propositio 6.

(81) Cf. Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Relatio post disceptationem, 6.

(82) Ibid.

(83) Cf. Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Relatio ante disceptationem: L’Osservatore Romano (22 April 1998), 5.

(84) Cf. Apostolic Exhortation Evangelii Nuntiandi (8 December 1975), 20: AAS 68 (1976), 18f.

(85) John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 52: AAS 83 (1991), 300.

(86) Cf. Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Relatio post disceptationem, 9.

(87) Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 22; John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 28: AAS 83 (1991), 273f.

(88) Cf. John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 56: AAS 83 (1991), 304.

(89) John Paul II, Homily at the Mass for the Catholics of West Bengal, Calcutta (4 February 1986), 3: Insegnamenti IX, 1 (1986), 314.

(90) Cf. Propositio 43.

(91) Cf. Propositio 7.

(92) Ibid.

(93) John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 54: AAS 83 (1991), 302.

(94) Cf. ibid.: loc. cit., 301.

(95) Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Constitution on the Sacred Liturgy Sacrosanctum Concilium, 10; Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Relatio post disceptationem, 14.

(96) Cf. Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Relatio post disceptationem, 14; Propositio 43.

(97) Cf. Propositio 43.

(98) Cf. Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Relatio post disceptationem, 13.

(99) Cf. Propositio 17.

(100) Cf. Propositio 18.

(101) Cf. Propositio 17.

(102) Nos. 60; 62; 105: AAS 91 (1999), 52f.; 54; 85f.

(103) Cf. Propositio 24.

(104) Cf. Propositio 25.

(105) Cf. ibid.

(106) Cf. Propositio 27.

(107) Cf. Propositio 29.

(108) Cf. Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 91: AAS 83 (1991), 338.

(109) Propositio 19.

(110) Propositio 8.

(111) Declaration on Religious Freedom Dignitatis Humanae, 2.

(112) Propositio 6.

(113) Saint Augustine, De Civitate Dei, XVIII, 51, 2: PL 41, 614; cf. Second Vatican Ecumenical Council, Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 8.

(114) Second Vatican Ecumenical Council, Decree on the Missionary Activity of the Church Ad Gentes, 7; cf. Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 17.

(115) Paul VI, Address to the College of Cardinals (22 June 1973): AAS 65 (1973), 391.

(116) John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Christifideles Laici (30 December 1988), 18: AAS 81 (1989), 421.

(117) Cf. ibid.; Second Vatican Ecumenical Council, Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 4.

(118) Cf. Catechism of the Catholic Church, 775.

(119) Cf. ibid.

(120) John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Christifideles Laici (30 December 1988), 32: AAS 81 (1989), 451f.

(121) Cf. Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 16.

(122) Propositio 13.

(123) Ibid.

(124) Cf. Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Relatio ante disceptationem: L’Osservatore Romano (22 April 1998), 6.

(125) Propositio 13; cf. Second Vatican Ecumenical Council, Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 22.

(126) Cf. Propositio 13.

(127) Cf. Propositio 15; Congregation for the Doctrine of the Faith, Letter to the Bishops of the Catholic Church on Some Aspects of the Church Understood as Communion Communionis Notio (28 May 1992), 3-10: AAS 85 (1993), 839-844.

(128) Cf. Propositio 15.

(129) Cf. ibid.

(130) Cf. Propositio 16.

(131) Propositio 34.

(132) Cf. Propositio 30; cf. John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 51: AAS 83 (1991), 298.

(133) Cf. Apostolic Exhortation Evangelii Nuntiandi (8 December 1975), 58: AAS 68 (1976), 46-49; John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio, 51: AAS 83 (1991), 299.

(134) Cf. Propositio 31.

(135) Cf. Propositio 14.

(136) Cf. Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Relatio ante disceptationem: L’Osservatore Romano (22 April 1998), 6.

(137) Cf. Propositio 50.

(138) Cf. Propositiones 36 and 50.

(139) Cf. John Paul II, Address to the Synod of Bishops of the Syro-Malabar Church (8 January 1996), 6: AAS 88 (1996), 41.

(140) Cf. Propositio 50.

(141) Cf. Propositio 56.

(142) Cf. Propositio 51.

(143) Cf. Propositio 52.

(144) Propositio 53.

(145) Cf. Propositio 57.

(146) Cf. Letter Concerning Pilgrimage to the Places Linked to the History of Salvation (29 June 1999), 7: L’Osservatore Romano (30 June – 1 July 1999), 9.

(147) AAS 56 (1964), 613.

(148) Cf. Propositio 42.

(149) Ibid.

(150) John Paul II, Address at the General Audience (26 July 1995), 4: Insegnamenti XVIII, 2 (1995), 138.

(151) Cf. John Paul II, Address at the General Audience (20 January 1982), 2: Insegnamenti V, 1 (1982), 162.

(152) Cf. No. 53: AAS 87 (1995), 37.

(153) Cf. John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 55: AAS 83 (1991), 302.

(154) Cf. ibid.: loc. cit., 304.

(155) No. 4: AAS 83 (1991), 101f.

(156) No. 56: AAS 83 (1991), 304.

(157) Propositio 41.

(158) Ibid.

(159) Cf. ibid.

(160) Cf. John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 57: AAS 83 (1991), 305.

(161) Cf. John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Vita Consecrata (25 March, 1996), 8: AAS 88 (1996), 383.

(162) Cf. John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis (30 December 1987), 47: AAS 80 (1988), 582.

(163) Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 1.

(164) Bằng nhiều cách, điểm khởi phát là Tông Thư Rerum Novarum của Đức Giáo Hoàng Lêô XIII (15/5/1891) đã dẫn tới một loạt tuyên bố chính thức của Giáo Hội về nhiều phương diện khác nhau của vấn đề xã hội. Giữa những tuyên bố này là Tông Thư Populorum Progressio (26/3/1967) mà Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã phổ biến để đáp ứng những giáo huấn của Công Đồng Vatican II và hoàn cảnh thay đổi của thế giới. Để kỷ niệm 20 năm ngày Tông Thư này được ban hành, tôi đã cho ra Tông Thư Sollicitudo Rei Socialis (30/12/1987), tiếp nối Giáo Huấn trước đây, tôi kêu mời tất cả các Kitô hữu hãy xem chính mình như được gọi để lãnh sứ mạng phục vụ, việc này cần thiết để thăng tiến sự phát triển con người toàn diện.

(165) John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis (30 December 1987), 41: AAS 80 (1988), 570f.

(166) Cf. Congregation for the Doctrine of the Faith, Instruction on Christian Freedom and Liberation Libertatis Conscientia (22 March 1986), 72: AAS 79 (1987), 586.

(167) Cf. Propositio 22.

(168) Cf. Propositio 21.

(169) Cf. John Paul II, Post Synodal Apostolic Exhortation Christifideles Laici (30 December 1988), 5: AAS 81 (1989), 400-402; Encyclical Letter Evangelium Vitae (25 March 1995), 18: AAS 87 (1995), 419f.

(170) Propositio 22; cf. Propositio 39.

(171) John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis (30 December 1987), 42: AAS 80 (1988), 573; cf. Congregation for the Doctrine of the Faith, Instruction on Christian Freedom and Liberation Libertatis Conscientia (22 March 1986), 68: AAS 79 (1987), 583.

(172) Cf. Propositio 44.

(173) Cf. ibid.

(174) Cf. Propositio 39.

(175) Cf. Propositio 22.

(176) Cf. Propositio 36.

(177) Cf. Propositio 38.

(178) Cf. ibid.

(179) Cf. Propositio 33.

(180) Cf. ibid.

(181) Cf. Propositio 35.

(182) Cf. ibid.

(183) Propositio 32.

(184) Cf. John Paul II, Apostolic Letter Salvifici Doloris (11 February 1984), 28-29: AAS 76 (1984), 242-244.

(185) Cf. Propositio 20.

(186) Cf. ibid.

(187) Cf. Propositio 21.

(188) Cf. ibid.

(189) Cf. ibid.

(190) Cf. Propositio 23.

(191) Cf. ibid.

(192) Cf. Propositio 55.

(193) Cf. Propositio 49.

(194) John Paul II, Message for the World Day of Peace (1 January 1998), 3: AAS 90 (1998), 50.

(195) Cf. Propositio 49.

(196) Cf. Propositio 48.

(197) Cf. ibid.; John Paul II, Apostolic Letter Tertio Millennio Adveniente (10 November 1994), 51: AAS 87 (1995), 36.

(198) Cf. Propositio 48.

(199) Cf. Propositio 22; John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis (30 December 1987), 44: AAS 80 (1988), 576f.

(200) Cf. John Paul II, Encyclical Letter Redemptor Hominis (4 March 1979), 15: AAS 71 (1979), 287.

(201) Cf. ibid.

(202) Cf. Propositio 47.

(203) Homilies on the Gospel of Matthew, 50, 3-4: PG 58, 508-509.

(204) Cf. Decree on the Church’s Missionary Activity Ad Gentes, 2 and 35.

(205) Cf. John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 31: AAS 83 (1991), 277.

(206) Ibid. 42: loc. cit., 289.

(207) Ibid.

(208) Cf. Propositio 25.

(209) Cf. ibid.

(210) Cf. Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 46.

(211) Cf. Propositio 27.

(212) Cf. John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Vita Consecrata (25 March 1996), 103: AAS 88 (1996), 479.

(213) Cf. Paul VI, Apostolic Exhortation Evangelii Nuntiandi (8 December 1975), 69: AAS 68 (1976), 59.

(214) Cf. Propositio 27.

(215) Cf. ibid.

(216) Cf. ibid.

(217) Cf. Propositio 28.

(218) Ibid.

(219) Cf. Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 31.

(220) Cf. Propositio 29.

(221) Cf. ibid.

(222) Cf. ibid.

(223) John Paul II, Address at the General Audience (13 July 1994), 4: Insegnamenti XVII, 2 (1994), 40.

(224) Cf. Propositio 35.

(225) Cf. ibid.

(226) Second Vatican Ecumenical Council, Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 11.

(227) Cf. Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Relatio ante disceptationem: L’Osservatore Romano (22 April 1998), 6.

(228) Cf. Propositio 32.

(229) Cf. Propositio 33.

(230) John Paul II, Address to the Confederation of Family Advisory Bureaus of Christian Inspiration (29 November 1980), 4: Insegnamenti III, 2 (1980), 1454.

(231) Cf. Propositio 34.

(232) Ibid.

(233) John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 37: AAS 83 (1991), 285.

(234) Ibid.

(235) Ibid.

(236) Cf. Propositio 45.

(237) Cf. ibid.

(238) Cf. ibid.

(239) No. 13: AAS 91 (1999), 142.

(240) Cf. Propositio 59.

Nguồn: http://www.simonhoadalat.com

Advertisements
  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s