Archive for the ‘ Khác ’ Category

THẦN HỌC TRUYỀN THÔNG

THẦN HỌC TRUYỀN THÔNG

Nền tảng cho việc đào tạo ngành truyền thông xã hội
Nguồn: vietcatholic.net
(của tác giả F. Paul A. Soukup, S.J., Trưởng khoa Phân khoa Truyền thông của đại học Santa Clara, tại Santa Clara, California, Hoa Kỳ.Đăng trong tạp chí Social Communication Formation in Priestly Ministry, do Franz-Josef Eilers, svd. chủ biên, Logos Publications, Inc. xuất bản tại Manila 2002)

Việc truyền thông hiện nay và những thay đổi do nó đưa vào trong xã hội đã tác động đến việc đào tạo linh mục, đến thần học và các lĩnh vực khác. Để chứng minh một cách thuyết phục hơn tại sao các chủng sinh – thật ra, tất cả mọi phân khoa thần học – cần quan tâm tới việc truyền thông, bài khảo luận này sẽ tìm hiểu tại sao một nền “thần học truyền thông”, tức là một nền thần học quan tâm tới việc truyền thông và mang ý tưởng truyền thông, sẽ giúp chúng ta hiểu biết về Thiên Chúa, Giáo Hội và đời sống con người. Chúng tôi sẽ tiến hành làm việc này qua bốn bước: 1/ xem lại ảnh hưởng của việc truyền thông trong Giáo Hội và xã hội; 2/ liệt kê một số hệ quả của việc truyền thông đối với thần học; 3/ liệt kê một số hệ quả của việc truyền thông đối với tác vụ linh mục; 4/ liệt kê một số hệ quả của thần học truyền thông đối với đời sống con người.

1. Ảnh hưởng của việc truyền thông

Trong vòng 20 năm qua, chúng ta đã chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của các phương tiện truyền thông trên hầu hết các khu vực của toàn thế giới. Nhờ phát minh được con chíp cực nhỏ mà các thiết bị viễn thông trở nên rẻ, nhỏ và dễ sử dụng hơn. Được sự hỗ trợ của các hệ thống truyền thông đang phát triển trên khắp thế giới, các phương tiện truyền thông này đã liên kết được với nhau, nối kết mọi người và mọi địa điểm thông qua các mạng thông tin toàn cầu (Internet), các mạng truyền thanh và các mạng truyền hình. Song song với sự phát triển cơ sở hạ tầng ấy, người ta cũng thấy việc thương mại hoá các mạng và các thiết bị tăng lên, kéo theo các cơ chế lập trình, quảng cáo và cả một nền văn hoá truyền thông đại chúng. Dựa trên những gì các nhà nghiên cứu đã khám phá về ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông tương đối “cũ” như truyền hình, chúng ta có thể biết được tại sao một thế giới truyền thông đang phát triển đã tác động lên xã hội loài người nói chung và thần học nói riêng bằng cách điểm qua chín lĩnh vực này1.

1.1. Các nguồn kiến thức

Con người hôm nay có thể tiếp cận một lượng thông tin khổng lồ về thế giới qua các bản tin từng giờ hay nhanh hơn nữa, các bài tường thuật từ mọi ngõ ngách trên thế giới, những bài bình luận và thảo luận từ vấn đề này tới vấn đề khác. Trong quá khứ, người ta chỉ biết những gì mình đã trải nghiệm, những gì hàng xóm nói và những gì nghe được tại các nơi tụ tập đông người như nhà thờ hay quán rượu. Còn bây giờ, chúng ta có kinh nghiệm gián tiếp về một thế giới rộng lớn hơn nhiều – thế giới được truyền thông. Chúng ta càng ngày càng thu thập được nhiều kiến thức qua các mạng truyền thông hơn là trực tiếp thu được qua nghiên cứu, học hỏi. Vì tiến trình ấy quá hiển nhiên, rõ ràng nên nhiều khi chúng ta quên mất đó là những kiến thức tiếp nhận được qua các phương tiện truyền thông. Nó được chọn lọc bởi các phóng viên, nhà xuất bản, nhà sản xuất và hệ thống các phương tiện truyền thông. Dù sao, bất kể theo phương cách nào, số thông tin về thế giới mà chúng ta thu được hiện nay lớn hơn bất cứ kỳ thời đại nào trước đây.

1.2. Sử dụng thời giờ

Tất cả chúng ta chỉ có một lượng thời gian hữu hạn, vì thế, chúng ta phải phân chia thời gian ra cho nhiều công việc khác nhau, kể cả giải trí và thư giãn. Các nhà nghiên cứu đã lập biểu đồ để biết được số lượng thời gian chúng ta dành cho việc sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng. Nhật báo, tạp chí, phim ảnh, phát thanh và truyền hình đã chiếm khá nhiều thời giờ của chúng ta, thường được xếp hàng thứ ba sau ngủ nghỉ và làm việc trong tổng số thời gian chúng ta phân phối. Một người lớn tiêu biểu ở phương Tây trung bình mỗi ngày xem truyền hình trên ba giờ đồng hồ. Truyền hình đã làm thay đổi cách người ta sử dụng thời gian rảnh của mình: người ta đã bỏ những công việc của cộng đồng, các việc đạo đức ở nhà thờ, các trò giải trí tại gia đình và nhiều hoạt động trao đổi trực tiếp khác để xem các chương trình ưa thích trên truyền hình hay chỉ để thư giãn với các phương tiện truyền thông. Những nghiên cứu gần đây cho thấy việc sử dụng Internet đã lấn vào số thời gian chúng ta quen dành cho các phương tiện truyền thông khác. Lần đầu tiên trong nhiều thập niên, việc xem truyền hình tại Hoa Kỳ chẳng hạn đã bị xếp sau các trò chơi điện tử, trao đổi thư điện tử và những hoạt động khác của Internet.

1.3. Đo lường tầm mức quan trọng

Người ta đang dựa vào các phương tiện truyền thông để biết đâu là điều quan trọng trên thế giới. Các bài tường thuật tin tức sẽ đặc biệt quan tâm đến một số sự kiện và biến cố, gián tiếp cho thấy rằng đó là những điều xứng đáng được văn hoá quan tâm. Nhà Xã hội học Bernard Cohen, người Hoa Kỳ, đã lưu ý điều này cách đây gần 40 năm, khi ông viết rằng các phương tiện truyền thông “có lẽ không thành công nhiều lắm khi muốn cho người ta biết phải suy nghĩ thế nào, mà chỉ thành công khi cho người ta biết phải suy nghĩ về điều gì”2. Chúng ta càng nghe nói nhiều về đề tài nào trên đài phát thanh, càng xem chương trình nào được trình diễn nhiều trên truyền hình hay càng đọc đề tài nào được viết nhiều trên báo, chúng ta càng cho đó là những vấn đề quan trọng. Một hiện tượng tương tự cũng xảy ra đối với điện ảnh: chúng ta thần tượng hoá các ngôi sao điện ảnh và trân trọng các vai họ diễn trong phim, không phải do phê phán một cách có lý luận mà chỉ vì họ đã xuất hiện nhiều trên các phương tiện truyền thông. Một số người, đặc biệt là Gaye Tuchmann, đã lý luận rằng có thể áp dụng cách đo lường này một cách ngược lại: cái gì không xuất hiện trên các phương tiện truyền thông thì đó là điều không quan trọng; và điều này có thể dẫn tới tình trạng “triệt tiêu một cách tượng trưng” các nhóm sắc tộc khác nhau, các phụ nữ và các ngành nghề khác. Cũng thế, nếu Chúa hay Giáo Hội không tìm được chỗ đứng trên thế giới này, thì đó là dấu chứng tỏ Chúa và Giáo Hội không còn quan trọng nữa đối với nhiều thành phần trong văn hoá truyền thông.

1.4. Hiểu biết đối kháng với thực tiễn

Nói tới truyền thông, nhiều người thường nghĩ tới việc chuyển giao một thông điệp, một hiểu biết hay một ý nghĩa từ chỗ này sang chỗ khác. Một nhà nghiên cứu khác, James Carey, người Hoa Kỳ, nhắc chúng ta rằng trình bày việc truyền thông theo “mô hình di chuyển” như thế sẽ khiến người ta có một cái nhìn về truyền thông không khác gì một công cụ và không thể hiểu hết kinh nghiệm con người trong đó. Ông đề xuất cái gọi là “mô hình nghi thức” để đưa việc truyền thông vào đúng chức năng của nó3. Việc truyền thông của con người là một cái gì còn hơn thế nữa, chứ không chỉ là gửi những thông điệp hay một mớ kiến thức từ chỗ này sang chỗ khác. Ngay cả khi chúng ta sử dụng các phương tiện truyền thông, chúng ta cũng đang cử hành một nghi thức: đọc báo vào buổi sáng, xem một chương trình nào đó mình thích trên truyền hình, nghe đài trong khi lái xe – tất cả những việc ấy đều là những nghi thức nối kết chúng ta với một cộng đồng lớn hơn. Bên cạnh việc xử lý kiến thức, truyền thông còn giúp xây dựng cộng đồng, một việc đưa chúng ta đến những cách thức gián tiếp hiểu biết của riêng mỗi cộng đồng.

1.5. Phát biểu cho có hiệu quả

Các phương tiện truyền thông cũng dạy người ta biết phải làm gì để phát ngôn cho có hiệu quả. Truyền hình dạy chúng ta những cách nói ngắn gọn, rõ ràng để cuốn hút sự chú ý của khán giả hoặc tóm tắt một quan điểm hay một lập trường. Hiện nay, rất ít người thuyết phục được người khác bằng lập luận dài dòng; chỉ có một số thành phần ưu tú còn được báo chí đề cao mới làm thế. Nhưng nói như thế không có nghĩa là các phương tiện truyền thông đại chúng không thể đề cập đến những vấn đề nghiêm túc hay phức tạp. Chúng vẫn làm được việc ấy, nhưng trình bày theo những cách thức phù hợp hơn với bản chất của các phương tiện ấy như kể truyện, cung cấp hình ảnh và trình bày với đầy cảm xúc. Khi đưa các vấn đề nghiêm túc đến với quần chúng theo những phương cách có thể tiếp cận được, các phương tiện truyền thông đại chúng đã trở thành một “diễn đàn văn hoá” cho mọi người tự do thảo luận và bàn bạc các vấn đề nóng bỏng4. Một cách thức bổ sung cho các hình thức ấy ít hấp dẫn hơn, là trình bày các vấn đề thành những bài viết, những bài nói chuyện có lý luận chặt chẽ, có lẽ không được công chúng dễ dàng tiếp nhận.

1.6. Thay đổi vị trí

Các phương tiện truyền thông còn có một ảnh hưởng sâu xa hơn trên xã hội, chứ không chỉ tạo ra kiến thức hay phát biểu tư tưởng. Joshua Meyrowitz5 đã cho thấy các phương tiện truyền thông như truyền hình, phim ảnh và phát thanh làm thay đổi “ý thức về nơi chốn” của chúng ta theo hai cách. Trước hết, chúng ta cảm nghiệm như mình đang cùng một lúc ở hai nơi, dù chỉ là tưởng tượng: trong khi ngồi thoải mái tại nhà, chúng ta có thể đồng thời nắm bắt những gì đang diễn ra trên khắp thế giới. Nhưng cái cảm nghiệm mình đang ở một thế giới xa hơn chung quanh mình cũng đưa chúng ta tới chỗ mong muốn được trông thấy, được tiếp cận những gì mà trước đây mình không thể trông thấy hay tiếp cận. Cách đây nhiều thế hệ, con người chỉ kinh nghiệm được những gì mà vị trí xã hội của mình cho phép. Dân thường không thể trao đổi với các nhà lãnh đạo hay với các chức sắc cao cấp của Giáo Hội. Nhưng cứ quen nhìn mọi thứ (khắp thế giới, đằng sau sân khấu, chỗ thân mật riêng tư của người khác như phim ảnh và truyền hình đã dàn dựng), chúng ta sẽ khao khát được trông thấy tất cả mọi sự. Và thế là, người ta đánh mất đi cái ý thức về vị trí, mà qua đó chúng ta đã từng tôn trọng sự riêng tư của người khác hay mặc nhiên tôn kính các vị có thẩm quyền. Ngày nay, người ta mong muốn được biết cả những chi tiết riêng tư nhất của đời sống các nhà chính trị, các diễn viên và cả các giáo sĩ.

1.7. Kiểm soát

Sự xuất hiện của các phương tiện truyền thông, và hiện nay là sự xuất hiện của các ngành công nghệ kỹ thuật số đã làm thay đổi việc kiểm soát thông tin. Trong quá khứ, các chính phủ và các tổ chức như Giáo Hội thường kiểm soát các thông tin ở một mức độ nào đó, như quyết định những gì người ta có thể xuất bản hay những gì công dân có thể phát hành. Thế nhưng, các tập đoàn công nghệ thông tin và giải trí hiện nay đã tước mất quyền kiểm soát khỏi tay các chính phủ và đòi quyền tự do phổ biến hay không phổ biến những thông tin mình đang có. Đã được tự do khỏi bị lề luật chèn ép, người ta cũng đòi quyền tác giả để bảo vệ những gì mình đã đầu tư trong lĩnh vực thông tin. Tuy nhiên, ngay cả điều này cũng đang bị công nghệ kỹ thuật số phá vỡ, như các vụ án gần đây liên quan đến chương trình Napster và nhiều chương trình thưởng thức âm nhạc chung đã cho thấy. Giáo Hội cũng mất hầu hết sự kiểm soát trên sách báo; rất ít người xin “Imprimatur” (xác nhận: được phép in); Internet cũng giúp người ta tự do phổ biến các tin tức tôn giáo bằng con đường trực tuyến.

1.8. Một cử toạ ngày càng khó tính

Sau 50 năm truyền hình và hơn 100 năm điện ảnh ra đời, khán giả bây giờ đã trở nên rất khó tính. Người ta không còn tiếp nhận một cách ngây thơ bất cứ điều gì được trình chiếu. Thay vào đó, họ lựa chọn các chương trình theo nhu cầu của mình và bình luận các chương trình ấy tuỳ theo quan điểm riêng của mình về xã hội, kinh tế, giáo dục hay giới tính. Nhiều khán giả tiếp nhận các sản phẩm của truyền thông với một chút nghi ngờ – nghi ngờ về động cơ của các nhà sản xuất, các nhà quảng cáo, các nhà điều hành chính phủ và của bất cứ ai muốn lợi dụng một điều gì đó nơi họ. So với trước đây, các nhà sáng tạo và sản xuất chương trình hiện nay không còn nhiều quyền ấn định thông điệp mình muốn chuyển tải nữa. Mà đúng hơn, ngay trong chương trình họ làm ra, họ phải tranh đua với khán giả để tìm ra cách minh giải. Nói thế không có nghĩa là khán giả bây giờ không thể nào bị lèo lái hay điều khiển nữa, nhưng chỉ muốn cho thấy rằng khán giả hôm nay bước một cách thận trọng theo hướng mà nhà sản xuất chương trình vạch ra. Khán giả có thể mang theo mình nhiều kỹ năng và tài cán, khiến cho Giáo Hội cũng có thể bị nghi ngờ và bị yêu sách khi làm công tác truyền thông của mình.

1.9. Những thay đổi trong nhận thức

Thay vì chỉ truyền đạt một thông điệp hay miêu tả một số nghi thức phải làm, các phương tiện truyền thông còn tác động lên cả cách thức suy nghĩ của người khác nữa. Khi nghiên cứu các nền văn hoá truyền khẩu và thành văn, người ta khám phá được việc làm thế nào để một thói quen căn bản như viết lách có thể tác động lên cách mỗi cá nhân hình thành nên kiến thức và tổ chức thế giới6. Đối với các nền văn hoá truyền khẩu, để nhớ những gì mình cho là có giá trị, người ta sẽ lưu ý tới trí nhớ và tìm cách xây dựng kiến thức bằng những truyện kể, dùng những nhân vật đặc biệt để nối kết các câu chuyện lại với nhau. Người ta cô đọng những gì mình biết thành những công thức và vần điệu dễ nhớ. Người ta bám vào những biến cố và những con người cụ thể, tìm cách làm cho chúng diễn lại trong hiện tại. Lịch sử của một nền văn hoá truyền khẩu phải có mặt thật sự đối với các thành viên vì đó chính là cách giúp các thành viên của nền văn hoá ấy giữ lại trong ký ức của mình những biến cố đã qua. Nền văn hoá truyền khẩu tìm cách triển khai các lược đồ dễ nhớ và các nghi thức tập thể để bảo đảm không bị tam sao thất bổn khi truyền thông.

Còn các nền văn hoá thành văn lại tìm hiểu thế giới cách khác hẳn. Các nền văn hoá ấy mang tính phân tích nhiều hơn vì chúng tách những kiến thức ra khỏi trí nhớ bằng cách ghi chép các kiến thức ấy. Nhờ khoảng cách mà một bản văn viết có thể mang lại, người ta sẽ có thể xem xét tỉ mỉ những gì mình biết. Người ta cũng có thể mở rộng kiến thức của mình bằng cách chia sẻ những thông tin đã viết ấy vượt khỏi không gian địa lý và bằng cách gia tăng số người cùng với mình xây dựng kho tàng kiến thức. Người ta không còn cần phải có mặt tại chỗ để có thể tham gia vào kiến thức của tập thể. Văn hoá chữ viết cũng sẽ giúp tổ chức các sự việc một cách khác. Muốn tổ chức các sự việc, người ta không cần phải theo các vần điệu hay những sự gom góp cụ thể. Thay vào đó, người ta có thể tổ chức các sự việc một cách trừu tượng hơn, theo thứ tự các mẫu tự chẳng hạn. Vì đọc và viết sẽ trở nên phổ biến rộng rãi hơn nhờ có sẵn vô số sách báo rẻ do các nhà in phát hành, nên văn hoá chữ viết sẽ càng phát huy nhiều tác dụng. Chẳng hạn học hành bây giờ không còn phải là luyện tập từng li từng tí hay học thuộc lòng từng điều một, mà đã chuyển sang đọc sách báo. Việc học trở nên cá nhân hơn, các tập quán mới để tư duy cũng được phổ biến, như các nước Tây Âu đã chứng kiến trong thời kỳ Ánh Sáng.

Điều này, cũng như những điều đã đề cập trước, sẽ ảnh hưởng tới thần học. Trong kỷ nguyên Kitô giáo, thần học đã chuyển từ một di sản truyền khẩu gồm các truyện kể của Thánh Kinh sang một lô công thức tín điều đã được các nhà thần học Trung Cổ bàn cãi. Rồi, khi chữ viết đã được phổ biến, người ta lại chuyển thần học thành một khoa học lý luận chặt chẽ, phân tích thấu đáo và có văn bản hẳn hoi7. Đến khi nền văn hoá đương đại tiếp xúc với các phương tiện truyền thông đại chúng, chúng ta lại chứng kiến một sự thay đổi nữa trong tư duy và trong cách tổ chức kiến thức, một phần trở lại với vài mô hình truyền khẩu như kể truyện, còn thì đa số dựa trên các bản văn viết. Sự xuất hiện của Internet là một nỗ lực khác của nền văn hoá đương đại muốn tổ chức các kiến thức của mình thông qua việc kết nối vô số bản văn và thông qua những thiết bị khác.

Tất cả những sự kiện này sẽ dẫn thần học đi đến đâu? Trước hết, là một môn học dựa trên văn bản, thần học không còn khả năng ảnh hưởng trực tiếp trên nhiều nền văn hoá lấy hình ảnh và truyện kể làm những phương cách gia tăng hiểu biết và tìm hiểu thế giới. Thứ đến, thần học không còn là nguồn hiểu biết cho những ai không coi đó là nguồn hiểu biết quan trọng, vì thần học hàn lâm không còn xuất hiện trong thế giới truyền thông nơi họ sinh sống nữa. Sau cùng, khi nhấn mạnh hiểu biết hơn thực tiễn và khi đòi khán giả phải toàn tâm toàn ý tin theo, thần học đã làm cho mình trở nên không còn thích hợp nữa với thế giới hôm nay.

Tuy nhiên, nói thế không có nghĩa là người ta đã mất hết sự quan tâm đối với thần học. Con người vẫn đi tìm câu trả lời cho những vấn nạn thần học hết sức căn bản, nhưng người ta sẽ tìm chúng trong thế giới truyền thông. Có bao nhiêu nhà thần học (hay chức sắc Giáo Hội), cách đây 10 năm, dám tiên đoán rằng người ta sẽ rất quan tâm tới khoa thiên thần học, như trong một chương trình truyền hình đang được nhiều người theo dõi, mang tên “Được một thiên thần chạm đến” (Touched by an Angel)? Điện ảnh và truyền hình liên tục nêu ra vấn đề sự dữ trên thế giới (qua hình ảnh của ma quỷ và các mối đe doạ khác), vấn đề có thụ tạo nào tốt lành bên ngoài thế giới chúng ta (như thường thấy qua hình ảnh các vị khách lạ từ hành tinh khác), có thể có một vị cứu tinh khác không (từ chính nền công nghệ của chúng ta, như trong phim “Ma trận”). Các nhà văn, nhà sản xuất, nhà đạo diễn và những người làm công tác truyền thông đã trở thành những nhà thần học của ngày hôm nay, khi họ đặt ra những câu hỏi căn bản của thần học: làm sao nói về Thiên Chúa cho con người hôm nay? Làm sao kinh nghiệm về Thiên Chúa? Chúng ta sống để làm gì?

Thế giới truyền thông hiện nay cho thấy thần học và suy tư tôn giáo đang đối diện với một thế giới khác hẳn cái thế giới mà thần học hàn lâm đã để lại. Nói thế không có nghĩa là thần học hàn lâm không có chỗ đứng, cũng không có mục tiêu, nhưng chỉ muốn nói là thần học cần phải quan tâm nhiều hơn tới việc truyền thông.

2. Một số hệ quả của việc truyền thông đối với thần học

Dùng viễn tượng truyền thông để nhìn thần học không có nghĩa là đưa ra một khoá học về truyền thông hay về các phương tiện truyền thông vào trong chương trình thần học. Mà đúng hơn, đó là lấy những cái nhìn của truyền thông để nhìn các vấn đề thần học, rồi nhìn xem làm thế nào để những cách hiểu thần học ấy có thể đến được với con người hôm nay. Trong phần này, chúng ta sẽ khảo sát vắn tắt sự việc ấy trong bốn lĩnh vực thần học là: thần học hệ thống và Kitô học, mặc khải, giáo hội học và thần học luân lý.

2.1. Thiên Chúa tự thông truyền chính mình

Hiến chế về Mạc khải và các tác phẩm của các nhà thần học, như Karl Rahner, đã trình bày lịch sử cứu độ như lịch sử Thiên Chúa tự thông truyền chính mình, lịch sử khai mở dần mầu nhiệm của Thiên Chúa, hoàn toàn do Chúa ban cho chúng ta để chúng ta có thể hiểu biết Ngài. Đồng thời, có thể nói chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và giống Thiên Chúa, nên cũng tham gia vào tiến trình tự thông truyền ấy8 qua chính công việc thông truyền của loài người chúng ta. Từ chỗ chỉ là một khoa nhân học mang tính thần học, việc khảo sát hoạt động truyền thông của con người sẽ đưa chúng ta vào sâu hơn trong mầu nhiệm Thiên Chúa, đồng thời cũng chính mầu nhiệm ấy sẽ giúp định hình lại việc truyền thông của chúng ta.

Mọi sự truyền thông đều bắt đầu với Thiên Chúa Ba Ngôi, tức là sự hiệp thông giữa ba ngôi vị9, ngôi này hoàn toàn nên một với ngôi kia. Thiên Chúa muốn chia sẻ sự kết hợp ấy cho các thụ tạo, trong thiên ý mầu nhiệm của Ngài, Ngài cũng muốn hiệp thông với các thụ tạo là chúng ta. Thế nên, Thiên Chúa đã tạo ra sự hiệp thông ấy trong hành động đầu tiên là tự thông truyền chính mình, rồi kiện toàn sự hiệp thông ấy bằng cách đích thân tham gia sự hiệp thông qua Mầu nhiệm Nhập thể. Toàn bộ lịch sử cứu độ chỉ là sự khai mở dần kế hoạch và việc tự thông truyền ấy. Thiên Chúa ban cho chúng ta một giao ước để chúng ta có thể cảm nghiệm được thế nào là kết hợp với Chúa, và Thiên Chúa hoàn thành giao ước ấy để chúng ta biết được thế nào là sự tự thông truyền của Thiên Chúa khi đạt tới mức viên mãn.

Nói theo ngôn ngữ truyền thông, nhập thể là sự mở rộng ra trong lịch sử và trong công trình tạo dựng sự hiệp thông (communio) của Ba Ngôi Thiên Chúa. Nhập thể không phải chỉ là truyền đạt một thông điệp như ngày nay người ta quen hiểu khi làm việc truyền thông, mà đó còn là cử hành “nghi thức” hay thực hiện cuộc sống từ ngày này sang ngày khác tới mức làm cho chúng ta trở thành người cùng hội cùng thuyền với Chúa.

Trong việc này chúng ta thấy việc truyền thông đã được thực hiện một cách hoàn toàn vô vị lợi, truyền thông chỉ vì tình yêu. Chúng ta cũng thấy truyền thông là một sự mạc khải dần mầu nhiệm của một ngôi vị, ở đây là các ngôi Thiên Chúa. Việc truyền thông này không thể xảy ra một lần là xong, cũng không bao giờ có thể hoàn tất, mà luôn diễn ra trong thế biện chứng vừa tiết lộ vừa ẩn giấu. Vì Thiên Chúa tạo dựng chúng ta là để truyền thông – là để tiếp nhận sự tự thông truyền của Thiên Chúa – nên chúng ta có khả năng truyền thông và nhờ đó có khả năng nhìn ra mầu nhiệm của Thiên Chúa: là sự hiệp thông giữa các ngôi, cho phép chúng ta được tham gia vào sự hiệp thông ấy, nói năng với chúng ta như với những ngôi vị, tự mạc khải dần cho chúng ta theo một hướng càng ngày càng mang tính cá nhân10.

Nhìn sự truyền thông theo quan điểm nhân học có tính thần học như thế sẽ giúp chúng ta vừa hiểu biết bản thân mình vừa hiểu biết Thiên Chúa. Nó cũng bắt chúng ta phải tôn trọng việc truyền thông, vì từ nay chúng ta đã hiểu truyền thông là hành động sáng tạo của Thiên Chúa. Sau cùng, hiểu như thế cũng sẽ giúp chúng ta nhìn ra mục đích và tiêu chuẩn của việc truyền thông giữa con người với nhau, truyền thông của con người phải phỏng theo việc truyền thông của chính Đức Kitô11.

2.2. Mạc khải

Áp dụng những khái niệm truyền thông trên đây cho các chân lý thần học có thể giúp chúng ta hiểu các chân lý ấy sâu xa hơn, nhất là khi cho phép chúng ta mở rộng điều David Tracy gọi là phép “tưởng tượng loại suy”. Khi đọc lại “Dei Verbum”, Hiến chế của Công đồng Vatican II về Mạc khải, chúng ta được mời gọi suy niệm lại hành động của Thiên Chúa và sự tiếp nhận của chúng ta. Chúng ta cũng theo phép loại suy áp dụng những khái niệm truyền thông cho sự mạc khải của Thiên Chúa, ứng dụng những khái niệm ấy vừa cho việc truyền thông của con người vừa cho sự mạc khải của Thiên Chúa.

Hiến chế bắt đầu bằng cách nhìn nhận có một yêu cầu bắt phải truyền thông. Lấy lại câu mở đầu thư thứ nhất của Gioan, Hiến chế nêu ra một nguyên do đưa tới việc truyền thông: đó chính là vì muốn chia sẻ hồng ân của Thiên Chúa – chia sẻ điều chúng tôi đã thấy, đã nghe và đã đụng chạm đến. Hiến chế tiếp tục bằng cách ghi nhận rằng lời nói và việc làm của Chúa có liên quan với nhau. Lời Chúa cũng là việc làm của Chúa. Đức Kitô vừa là trung gian mạc khải vừa là chính mạc khải trọn vẹn (số 2). Hầu hết các bảng phân tích việc truyền thông đều tách cơ quan trung gian với thông điệp chuyển tới, xem xét hai điều ấy hoàn toàn riêng rẽ. Nhưng làm như thế là đã coi truyền thông chỉ là một dụng cụ không hơn không kém và đã để mất đi sự truyền thông sâu xa nhất của con người, qua đó mỗi người tỏ lộ chính bản thân mình. Lời nói và việc làm có thể liên kết với nhau, như lời thi sĩ Gerard Manley Hopkins12(…). Bản tính của Thiên Chúa được mặc khải là truyền thông, bản tính con người cũng vậy: nó vừa là trung gian mạc khải vừa là thông điệp được mạc khải. Hiến chế tiếp tục (số 4) đề cao vai trò của Chúa Thánh Thần: mạc khải là hành động của cả Ba Ngôi Thiên Chúa. Thánh Thần là sức mạnh truyền thông, đang kêu lên trong lòng chúng ta, đang gào lên vì mong nghe lời con người nói (x. Rm 8,26). Thánh Thần là sức mạnh của trí nhớ, nhắc chúng ta nhớ đến tất cả những gì Đức Giêsu đã dạy (x. Ga 14,26). Giống như văn hoá truyền khẩu cần giữ gìn sao cho thông điệp của mình được nguyên vẹn khi truyền thông, Chúa Thánh Thần cũng sẽ bảo đảm cho sự mạc khải của Thiên Chúa được nguyên vẹn.

Hiến chế tiếp tục khảo sát sự đáp trả của con người trước mạc khải của Chúa: vâng lời trong đức tin (số 5). Nói thế có nghĩa là việc truyền thông không chỉ đòi hỏi được đáp lại mà còn để đáp lại. “Người ta không thể không truyền thông”, đó là câu nói mà các học giả về truyền thông thường nói13. Ngay cả sự thinh lặng cũng là một cách trả lời, một hình thức truyền thông. Trong khuôn khổ ấy, chúng ta được mời gọi xem lại sự đáp trả của chúng ta trước việc Thiên Chúa tự truyền thông cho chúng ta, đáp trả một cách rộng rãi hơn bằng cả cuộc sống một con người. Sự mạc khải của Thiên Chúa đến với chúng ta qua Thánh Kinh và truyền thống (số 8), điều ấy càng củng cố cho điều chúng ta vừa nói, làm chúng ta nhớ tới những phương thức truyền thông khác nhau – truyền thông bằng văn bản, lời nói và việc làm. Cũng thế, chúng ta đáp trả Thiên Chúa là đáp trả bằng toàn bộ sự truyền thông của chúng ta. Trong tư cách là tôi tớ và là người giữ gìn Thánh Kinh, có thể nói Giáo Hội là một cộng đồng sống bằng văn bản – các nhà nghiên cứu về truyền thông thường áp dụng kiểu nói này cho những tập thể được quy tụ xoay quanh một bản văn đặc biệt nào đó. Mọi hoạt động của Giáo Hội – từ cầu nguyện, phụng vụ, chiêm ngắm, thần học cho đến các việc bác ái – đều khởi sự và thành hình trong Kinh Thánh (số 9).

Giáo Hội có thẩm quyền giảng dạy và đã nhận được sứ mạng giải thích Thánh Kinh cách chính thức (số 10), sự kiện ấy soi sáng cho chúng ta hiểu bản chất truyền thông của Thánh Kinh. Vì Thánh Kinh là sự truyền thông tập thể, chứ không phải là sự truyền thông cá nhân. Thánh Kinh làm chúng ta ý thức chiều kích cộng đoàn của việc truyền thông, như chúng ta đã thấy trong các nền văn hoá truyền khẩu hay trong các nhóm làm nên bản văn. Đây cũng là điều cần thiết để sửa chữa niềm tin phổ biến hiện nay cho rằng truyền thông luôn luôn là việc của cá nhân và riêng tư (có lẽ là do người ta quen đọc sách báo riêng, trong thinh lặng). Niềm tin này mạnh đến nỗi làm người ta quên mất sự cộng tác để làm ra những sản phẩm mang tính truyền thông cao nhất.

Điểm cuối cùng: Hiến chế về Mạc khải cho biết mầu nhiệm cứu độ được bày tỏ nơi Đức Giêsu đã được tường thuật trong Tân Ước (số 17) và từ đó được truyền đạt cho chúng ta. Nếu nhìn trong viễn tượng truyền thông, chúng ta sẽ tự hỏi làm sao một bản tường thuật thành văn hay một bản văn trung gian thuần tuý như thế lại có thể làm được điều mà “nguyên bản” làm. Muốn phân tích điều này, chúng ta cần trở lại các lý thuyết về “ý nghĩa”. Bản văn trung gian hay bản dịch nào bất kỳ cũng vừa là nguyên bản14 và vì thế, nó vừa có thể tự mình tác động lên người tiếp nhận, lại còn giúp chúng ta liên hệ đến nguyên bản. Viễn tượng truyền thông ấy cũng giúp chúng ta giải thích hoạt động của Chúa Thánh Thần trong Thánh Kinh, theo đó, việc Thiên Chúa tự truyền thông đã được thực hiện theo mô hình việc truyền thông của con người, nghĩa là biểu thị điều gì là đặt chúng ta quan hệ với điều được biểu thị.

Muốn tiếp xúc với thần học thông qua việc truyền thông dựa trên nền tảng là khoa nhân học mang tính thần học như trên đây, người ta cần phải tìm hiểu xem đâu là những điều kiện để có thể có được sự truyền thông ấy, theo phương pháp siêu nghiệm. Điều kiện nào giúp chúng ta thực hiện việc truyền thông cũng sẽ giúp chúng ta đón nhận lời mạc khải của Thiên Chúa.

2.3. Giáo hội học

Trong vài khảo luận của mình, cha Avery Dulles đã lý luận rằng “Giáo Hội là sự truyền thông”16 và “thần học truyền thông chính là khoa nghiên cứu xem Thiên Chúa đã làm thế nào mà tạo ra những niềm xác tín và những sự cam kết có liên quan đến niềm tin tôn giáo”. Nhìn theo viễn tượng ấy, truyền thông là một phần của khoa Giáo hội học, vì tìm hiểu Giáo Hội cũng là tìm hiểu làm sao đức tin được lan rộng trong lịch sử và làm sao đức tin được gìn giữ trong cuộc đời của các chi thể thuộc Thân Mình Đức Kitô. Trong một tác phẩm mới đây, Dulles đã trình bày Giáo hội học của Công đồng Vatican II và cho biết Công đồng đã giới thiệu ít là năm mô hình Giáo Hội: Giáo Hội xét như một tổ chức hay phẩm trật, Giáo Hội là sứ giả Tin Mừng, Giáo Hội là bí tích, Giáo Hội là sự hiệp thông và Giáo Hội là nữ tỳ17. Trong khảo luận năm 1989, Dulles còn móc nối các mô hình Giáo Hội ấy với các loại truyền thông điển hình. Chúng ta có thể thấy điều đáng giá trong bài giới thiệu ấy là Công đồng cho rằng không có mô hình nào có thể một mình miêu tả Giáo Hội đầy đủ. Cũng thế, không có hình thức truyền thông nào thoả mãn các nhu cầu truyền thông của Giáo Hội.

Mô hình Giáo Hội là tổ chức hay phẩm trật sẽ ủng hộ việc truyền thông đại chúng, vì tổ chức phẩm trật theo kiểu trung ương tập quyền như thế sẽ phù hợp với việc truyền thông đại chúng thường được tổ chức tập trung, chỉ có một trung tâm truyền phát một thông điệp y hệt nhau cho hết mọi người. Dulles đã triển khai mô hình ấy theo lược đồ sau đây:

Ai truyền thông?
Hàng giáo phẩm
Truyền thông điều gì?
Giáo lý
Bằng cách nào?
In ấn
Chờ đợi điều gì?
Thần phục, chấp nhận

Mô hình này chỉ làm người ta chú ý tới một khía cạnh của Giáo Hội; nó cũng cho thấy làm thế nào việc truyền thông có thể phù hợp với nhu cầu của mô hình ấy.

Còn nếu Giáo Hội là sứ giả Tin Mừng, điều ấy sẽ làm nổi rõ Giáo Hội đang công bố Tin Mừng của Đức Giêsu và đang cất tiếng nói của một ngôn sứ đối với thế giới. Việc truyền thông được ưa chuộng ở đây là công bố, có thể dưới nhiều hình thức truyền thông khác nhau, dù vẫn ưu tiên ủng hộ việc trực tiếp ngỏ lời. Tiếp xúc trực tiếp giữa hai bên vẫn là đặc điểm của mô hình này.

Ai truyền thông?
Toàn thể Giáo Hội
Truyền thông điều gì?
Tin Mừng của Đức Giêsu
Bằng cách nào?
Công bố
Chờ đợi điều gì?
Cải đạo

Mô hình bí tích là mô hình trình bày Giáo Hội như dấu chỉ hay bí tích của Đức Kitô; Ngài cũng là bí tích của giao ước với Thiên Chúa. Ở đây, việc truyền thông diễn ra qua các con người và biến cố, vì Đức Kitô là dấu chỉ bí tích cũng qua con người và việc làm của Ngài. Là Thân Thể Đức Kitô, Giáo Hội cũng tiếp tục sự hiện diện của Ngài trong thế giới.

Ai truyền thông?
Thiên Chúa và Giáo Hội
Truyền thông điều gì?
Sự cứu độ
Bằng cách nào?
Hoạt động có tính bí tích: phụng vụ…
Chờ đợi điều gì?
Thánh hoá

Giáo Hội cũng có thể theo mô hình hiệp thông hay mô hình cộng đoàn hoặc mô hình đối thoại. Dulles ghi nhận mô hình này bắt nguồn từ trong thần học đối thoại với thế giới, một nền thần học khám phá ra những giá trị trong thế giới và kêu gọi Giáo Hội dấn thân để có thể học hỏi nơi thế giới. Viễn tượng này có nền tảng sau cùng là do Thiên Chúa vừa là tạo hoá vừa là vị cứu tinh của thế giới, nên Ngài có thể nói lời cứu độ trong bất cứ công trình sáng tạo nào của Ngài. Phương pháp truyền thông được ưa chuộng ở đây là đối thoại, một sự đối thoại giúp tạo ra sự hiệp thông trong Giáo Hội.

Ai truyền thông?
Giáo Hội và thế giới
Truyền thông điều gì?
Hiểu biết nhau, tình bạn, sự sống, sự thật
Bằng cách nào?
Đối thoại
Chờ đợi điều gì?
Tôn trọng nhau hơn

Sau cùng, chúng ta có thể mô tả Giáo Hội là nữ tỳ, vì Giáo Hội noi gương Đức Kitô, Đấng đã đến không phải để được phục vụ mà là để phục vụ. Giáo Hội có mặt trong thế giới để làm nữ tỳ bằng cách làm việc cho người khác, bằng các việc công bình, bác ái… Việc truyền thông điển hình của mô hình này là làm nhiều hơn nói.

Ai truyền thông?
Toàn thể Giáo Hội
Truyền thông điều gì?
Yêu thương tha nhân
Bằng cách nào?
Mọi hành động phục vụ
Chờ đợi điều gì?
Đủ thứ khác nhau

Muốn liên kết các mô hình Giáo Hội khác nhau với các phương cách truyền thông khác nhau, chúng ta cần phải hiểu Giáo Hội sâu sắc hơn và kêu gọi Giáo Hội hưởng ứng với nhiều sức truyền thông hơn. Chúng ta cũng cần phải có một chiến thuật truyền thông với nhiều hướng khác nhau, để Giáo Hội có thể hiện diện giữa lòng thế giới và hiện diện với các thành viên của mình bằng nhiều cách khác nhau. Sau cùng, chúng ta phải sửa chữa một sai lầm về Giáo hội học, là chỉ bênh vực một hình thức truyền thông nhất định, khiến mọi người hiểu sai bản chất của Giáo Hội.

2.4. Thần học luân lý

Dù đây không phải là mục tiêu duy nhất của mình, nhưng các văn kiện của Giáo Hội về việc truyền thông cũng đều vạch ra một nền thần học luân lý, nhờ đó chúng ta có thể phê phán các sản phẩm truyền thông. Những nguyên tắc rút ra từ các văn kiện này đã gián tiếp cho thấy còn có một cách khác để đưa viễn tượng truyền thông vào thần học. Các văn kiện về truyền thông trong 50 năm qua luôn nhắc chúng ta truyền thông và các phương tiện truyền thông là những quà tặng của Thiên Chúa18 và vì thế, có liên quan đến con người, tuỳ theo cách con người sử dụng chúng. Đức Piô XII đã tiếp tục sự suy tư ấy khi xác định hai vai trò của việc truyền thông: đó là chia sẻ quyền năng sáng tạo của Thiên Chúa và tham gia vào tiến trình Thiên Chúa tự truyền thông bản thân mình. Những chân lý thần học này dẫn chúng ta tới những đòi hỏi luân lý, như rút ra kết luận từ luật tự nhiên vậy. Hiểu các mô hình truyền thông là quà tặng của Thiên Chúa, cũng như tham gia vào tiến trình mạc khải của Thiên Chúa, sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn mình phải sử dụng các phương tiện truyền thông ấy như thế nào.

Những tài liệu gần đây của Giáo Hội còn đi xa hơn khi nhìn nhận khả năng phạm tội trong việc truyền thông và khi nhắc nhở chúng ta rằng chính Đức Giêsu đã dạy: truyền thông là một hành vi luân lý19, và vì thế buộc con người phải hành động cho đúng. Theo viễn tượng luân lý ấy, việc truyền thông của con người có thể ví như một hành trình đi từ tháp Baben – nơi thất bại của việc truyền thông đến biến cố Ngày lễ Ngũ Tuần20. Dù sao, người Công giáo cũng phản ứng như thánh Phaolô: ở đâu có tội thì ở đó có nhiều ân sủng hơn. Thế nên, người ta có thể làm việc truyền thông hợp luân lý khi hiểu bản chất của việc truyền thông và những cách thế khiến việc truyền thông ấy thất bại.

Cũng trong viễn tượng ấy, các nhà thần học luân lý được mời gọi hãy chú ý hơn tới việc truyền thông trong các hoàn cảnh khác nhau. Nếu các văn kiện Giáo Hội tập trung vào việc truyền thông đại chúng, thì việc truyền thông ấy thất bại hay băng hoại thường là có kèm theo những sự sa sút trong luân lý: bất trung trong hôn nhân, tuyệt vọng, bất công, trộm cắp,… Các nhà thần học luân lý có thể dùng việc truyền thông làm công cụ phân tích sự việc.

Với những khảo sát sơ qua trên đây, chúng ta được mời gọi hãy để việc truyền thông liên hệ với những ngành thần học khác nhau, không phải như một điều gì đó từ bên ngoài mà là từ bên trong các ngành thần học ấy. Thí dụ nào – của thần học hệ thống và Kitô học, mạc khải, hay của Giáo hội học và thần học luân lý – cũng đều cho chúng ta thấy một phương pháp luận hơi khác, để chúng ta có thể sẵn sàng chấp nhận rằng việc truyền thông chính là cơ sở để chúng ta hiểu biết thần học rộng rãi hơn.

3. Một số hệ quả của việc truyền thông đối với tác vụ linh mục

Thần học truyền thông như vừa trình bày đưa tới ít nhất hai hệ quả cho tác vụ linh mục, một hệ quả do văn hoá và một hệ quả do các vai trò của người linh mục trong Giáo Hội và xã hội. Thần học truyền thông nhấn mạnh tới việc hội nhập văn hoá, nhưng không phải là những nền văn hoá khu vực hay của các sắc tộc, nhưng là điều mà Đức Gioan Phaolô II gọi là nền “văn hoá mới” trong thông điệp Sứ vụ Đấng Cứu Thế (số 37c) hay nền văn hoá của các phương tiện truyền thông. Văn hoá hiện nay – nhất là đối với giới trẻ – là văn hoá kỹ thuật số, văn hoá đại chúng, được quảng cáo là dành cho giới trẻ và có thần học riêng của mình. Như bất cứ nền văn hoá nào, nền văn hoá này cũng tự đặt ra và trả lời những câu hỏi thần học như: “Được cứu độ nghĩa là gì?”, “Chúng ta phải làm gì để được cứu độ ?” – những câu hỏi này rất thường được trả lời trong quảng cáo như phải mua sản phẩm nào, ăn mặc thế nào, hành động ra sao để được cứu. Cứ theo loại thần học về quảng cáo và văn hoá phổ biến này, một người có giá trị là tuỳ theo mức sản xuất và tiêu thụ của người ấy.

Nền văn hoá thời thượng này cũng đang là văn hoá của các chủng sinh và của những người mà họ sẽ phục vụ sau này. Thần học truyền thông bắt họ phải biết nền văn hoá ấy và biết cách bộc lộ chính mình một cách hiệu quả qua nền văn hoá ấy. Chúng ta sẽ không phục vụ họ chút nào khi lấy đi của họ cơ hội tiếp xúc với nền văn hoá ấy, khi cho rằng xem truyền hình là xấu và sử dụng Internet là có hại. Họ cần phải từ từ học hỏi văn hoá của mình, hiểu biết nền văn hoá ấy để có thể công bố Lời Chúa cho thế giới một cách có chất lượng hơn.

Dẫu vậy, tình trạng của các linh mục bây giờ và các linh mục tương lai còn phức tạp nhiều hơn nữa vì hai sự kiện không thể chối cãi được sau đây. Trước hết, nền văn hoá phổ biến, có sử dụng các phương tiện truyền thông, cùng tồn tại bên cạnh các nền văn hoá sắc tộc, khu vực và truyền thống. Thứ đến, con người trong thế giới hôm nay đang sống trong nhiều nền văn hoá thay vì chỉ có một, ngay khi con người tham gia vào các hoạt động khác nhau, mỗi hoạt động diễn tả một phần con người. Một người đàn ông có thể làm cha, làm thợ ống nước, làm người Công giáo và làm thành viên cộng đoàn; một người phụ nữ có thể làm vợ, làm giáo viên, làm huấn luyện viên cho một đội thể thao của thiếu nhi, làm giáo lý viên và làm nhà hoạt động chính trị. Mỗi hoạt động xã hội này đều kéo theo một tập hợp các điều mình phải kỳ vọng và các cách mình phải ứng xử theo văn hoá. Với sự phân cách ngày càng tăng giữa văn hoá và tôn giáo, tôn giáo chỉ còn là một hoạt động trong nhiều hoạt động. Các linh mục hôm nay đang phải làm việc trong tình thế ấy. Họ phục vụ dân chúng sống trong nhiều nền văn hoá – trong khi họ cũng như toàn thể dân chúng đều bị tác động bởi cả khối lượng lớn lao của nền văn hoá truyền thông đại chúng. Và cứ như thế các linh mục phải trở thành người chuyên môn trong lĩnh vực đa văn hoá này.

Thứ đến, nền thần học truyền thông kéo người ta chú ý đến các vai trò đa dạng của người linh mục. Cũng như khoa Giáo hội học muốn đầy đủ thì phải mô tả Giáo Hội theo nhiều mô hình khác nhau, không có mô hình nào đủ sức diễn tả tính phức tạp của Giáo Hội, muốn hiểu chức linh mục đầy đủ người ta cũng cần ý thức các linh mục đang cùng lúc chu toàn nhiều vai trò khác nhau. Theo truyền thống, chúng ta thường miêu tả Đức Kitô qua ba vai trò tư tế, ngôn sứ và lãnh đạo. Vì các vai trò này cho biết con người Đức Kitô, nên các linh mục cũng phải thi hành nhiều chức năng khác nhau. Dù không dám cho là đầy đủ, nhưng chúng ta có thể nói linh mục phải là một thừa tác viên bí tích, một người thánh, một giảng viên, một nhà truyền giảng Tin Mừng hay nhà truyền giáo, một người đại diện Giáo Hội, một người lãnh đạo cộng đoàn hay đào tạo cộng đoàn, một đại biểu trong hội đồng nhân dân. Thần học truyền thông sẽ cho chúng ta biết mỗi vai trò ấy đòi một cách thức truyền thông khác.

Vai trò bí tích và nên thánh của người linh mục nhắc chúng ta rằng người ta không thể tách biệt việc truyền thông xã hội với việc truyền thông cá nhân. Linh mục sẽ lấy Đức Kitô làm mẫu cho mình trong việc này – một Đức Kitô đã thống nhất việc làm, lời nói và cuộc sống. Linh mục được Lời Chúa đào tạo để có thể bày tỏ Lời ấy. Như trong bí tích Thánh Thể, chúng ta ăn gì thì trở nên cái ấy (Thánh Augustinô), khi nghe Lời Chúa chúng ta cũng truyền thông những gì đã nghe. Trên hết, linh mục là người bước theo Đức Kitô – nhà truyền thông tuyệt vời – “sẽ đồng hoá mình với những người tiếp nhận sự truyền thông và sẽ trao gửi thông điệp không chỉ bằng lời nói mà còn bằng toàn bộ cách sống của mình” (Hiệp thông và tiến bộ, số 11).

Với vai trò giảng dạy và rao giảng Tin Mừng, linh mục sẽ tận dụng mọi phương thế mình có được21, từ truyền thông luôn luôn giữa người với người đến truyền thông qua các phương tiện và công nghệ kỹ thuật số. Muốn làm thế, người linh mục phải học cách diễn đạt riêng của mỗi phương thế: nghệ thuật tu từ, hình ảnh, lời nói. Vì khán thính giả ngày nay ngày càng tinh vi, nên việc truyền thông tôn giáo cũng phải tinh vi như thế, dù đó là sự tinh vi xuất phát từ sự đơn sơ22. Sau cùng, linh mục còn đóng vai trò trung gian Lời Chúa và vì thế, là người “thông dịch” mạc khải. Những hình thức công bố xem ra phù hợp nhất với các vai trò này.

Còn trong vai trò lãnh đạo hay đào tạo cộng đoàn, linh mục sẽ mô phỏng theo sự hiệp thông hay đối thoại của Giáo Hội. Sự hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa thôi thúc họ cũng tạo sự bình đẳng tương tự trong cộng đoàn Giáo Hội. Việc truyền thông của người linh mục cần cổ vũ việc tự truyền thông của Thiên Chúa để toàn thể Giáo Hội có thể tham gia vào giao ước mà Chúa đã gởi đến nơi Đức Kitô Giêsu. Tinh thần đối thoại ấy cũng sẽ là tinh thần của người linh mục khi truyền thông với cộng đồng dân sự, trong đó cộng đoàn Giáo hội địa phương đang hoạt động.

Thần học truyền thông sẽ chỉ ra cho mọi người thấy nguy cơ thực sự đối với người linh mục chính là sự lẫn lộn không biết lựa chọn và áp dụng các kiểu truyền thông khác nhau đi đôi với các vai trò đa dạng của người linh mục. Lấy mô hình truyền thông bằng công bố thay cho mô hình truyền thông bằng đối thoại có thể khiến người linh mục bị cô lập khỏi những người đang cần được lắng nghe và từ đó, có thể làm hại tới sự hiệp thông mà linh mục đó muốn xây dựng. Cũng thế, lấy mô hình truyền thông bằng đối thoại thay cho mô hình truyền thông bằng công bố có thể làm người linh mục không chu toàn nhiệm vụ ngôn sứ của mình. Khi truyền thông, người linh mục phải biết phân định rõ ràng.

4. Một số hệ quả của việc truyền thông đối với đời sống con người

Suy tư thần học về việc truyền thông của con người còn giúp chúng ta có một cách khác để suy nghĩ về những gì mà thần học truyền thông có thể đóng góp cho việc đào tạo chủng sinh. Đức Hồng y Carlo Martini của giáo phận Milano có phác thảo một bài suy niệm Thánh Kinh về việc truyền thông trong thư mục vụ của ngài năm 1992 23 mà chúng tôi sẽ dựa vào để viết ra phần này, Ngài bắt đầu bằng cách đọc lại bản văn Thánh Kinh theo cách của nhà truyền thông, hay có thể nói đó là việc truyền thông nhìn dưới ánh sáng Thánh Kinh. (Phương pháp này khác với phương pháp đã nêu ra ở phần 1.9 trên đây, cho biết chúng ta sẽ học được gì nơi Thánh Kinh từ phương pháp nghiên cứu sự truyền thông, chẳng hạn nghiên cứu bản chất truyền khẩu của đoạn Thánh Kinh,…). Ở đây, chúng ta sẽ xem thử mình sẽ học được gì về việc truyền thông dựa vào chính sự truyền thông của Đức Giêsu.

Hồng y Martini bắt đầu với bài tường thuật của Marcô về việc chữa lành một người vừa không thể nghe cũng không thể nói (vừa điếc vừa câm) (x. Mc 7,31-37). Marcô cho biết dân chúng đưa người ấy đến với Đức Giêsu; Ngài tách anh ta ra khỏi đám đông, đặt tay lên tai anh, lấy nước bọt bôi lên lưỡi anh. Rồi Ngài cầu nguyện và hô lên: “Ephphatha! Hãy mở ra!” Lưỡi anh buông ra và tai anh mở ra, anh bắt đầu nói được và ca tụng Thiên Chúa.

Câu chuyện này có ba phần: tình trạng không thể truyền thông; những dấu chỉ và cử điệu chữa lành; phép lạ và hiệu quả sau đó. Nếu áp dụng vào bản thân mình, chúng ta cũng thấy mình đã đi vào từng giai đoạn như thế.

Do đâu chúng ta không có khả năng truyền thông? Dù có thể chúng ta không mất khả năng nghe và nói, nhưng chúng ta cảm thấy như sự truyền thông của mình bị tắc nghẽn. Hồng y Martini nêu ra bốn nguyên nhân của tình trạng ấy. (1) Có khái niệm hay ý nghĩ sai về truyền thông. Vì cứ đi tìm một sự truyền thông hoàn hảo, nên chúng ta đâm ra thất vọng khi thấy những giới hạn của mình. Chúng ta đã chờ đợi rất nhiều nơi người khác và lên án họ nên đã có những bước truyền thông sai lầm. (2) Chúng ta truyền thông là vì muốn chiếm lấy người khác. Chúng ta truyền thông không phải để chia sẻ, mà để chiếm lấy và vì thế làm người khác luôn cảnh giác chúng ta, không sẵn sàng truyền thông. (3) Sử dụng việc truyền thông như một cách cho thấy ước muốn thống trị người khác. Thay vì tìm sự hiệp thông dưới bất kỳ hình thức nào, chúng ta lại tìm quyền lực. (4) Vội vàng truyền thông, đòi trả lời ngay, đòi có quan hệ lập tức với người khác, đòi một sự thông tin đầy đủ. Những sự ngăn chặn truyền thông ấy ảnh hưởng lên chúng ta không chỉ trong tư cách cá nhân, mà chúng còn phản ảnh những triệu chứng của sự truyền thông đang bị ngăn chặn trong Giáo Hội hay trong một tổ chức nào khác.

Ở phần hai của câu chuyện, chúng ta thấy những dấu chỉ và cử điệu khai thông của Đức Giêsu. Đức Giêsu dẫn người ấy ra khỏi đám đông và khi như làm thế, Ngài cho anh thấy sự tôn trọng của Ngài dành cho anh. Ngài chữa bệnh không nhằm để làm những dấu lạ cho dân chúng thán phục. Nhưng bước đầu tiên của việc chữa lành, cũng là bước đầu tiên để phá vỡ bế tắc truyền thông là kính trọng nhau. Kế đó, Đức Giêsu tiếp xúc với người bệnh bằng đủ mọi hình thức truyền thông đang có, tượng trưng qua việc đụng chạm đến tai và lưỡi của anh. Rồi Ngài đọc một lời, tượng trưng cho khả năng truyền thông đã được phục hồi. Qua những dấu chỉ và cử điệu chữa lành ấy, Đức Giêsu đã làm cùng một cách như Thiên Chúa tự truyền thông: kính trọng và yêu mến, tiếp xúc hay đi bước trước, ngỏ lời với đương sự.

Trong phần ba – tức là phép lạ – chúng ta không những thấy sự lành bệnh mà còn thấy những hiệu quả của việc ấy: đương sự quay lại với cộng đoàn và được hội nhập hoàn toàn vào cộng đoàn. Đương sự cùng với người khác ca ngợi Chúa. Đây cũng là một khuôn mẫu cho chúng ta làm việc truyền thông, đó là liên kết việc phục vụ con người với việc phục vụ Chúa.

Hồng y Martini ghi nhận rằng muốn sự truyền thông của con người được tốt đẹp thì phải bắt chước việc Thiên Chúa tự truyền thông bản thân mình. Thiên Chúa đã chuẩn bị việc truyền thông ấy trong thinh lặng của Ngài, rồi dần dần trải ra trong dòng lịch sử nhân loại. Đó là một việc truyền thông tiệm tiến và diễn ra trong thế biện chứng hết mạc khải lại che giấu và cứ thế, vì truyền thông là một việc không bao giờ chấm dứt. Việc truyền thông của Thiên Chúa vừa có tính cá nhân vừa có tính liên vị, vì nó liên hệ đến mỗi người chúng ta, ngỏ lời với chính mỗi người chúng ta. Việc truyền thông của chúng ta cũng phải bắt chước như thế. Nó phải được cưu mang trong thinh lặng, từ chỗ biết mình và hiểu mình dần dần. Chúng ta cần phải nhìn nhận truyền thông là một việc làm không nóng vội, cho cả hai phía. Chúng ta cần có thời gian để biết mình và hiến mình, chúng ta cũng cần cho người khác thời gian. Truyền thông không bao giờ được có ngay, xong ngay. Vì được tạo dựng trong thời gian, nên chúng ta cũng cần nhớ rằng mọi sự truyền thông đều có hai mặt vừa sáng vừa tối – và đây là điều bình thường, không thể làm chúng ta thất vọng. Vì truyền thông bao gồm việc đối thoại hay trò chuyện giữa các thành viên hay đối tác, nên lắng nghe chính là một khía cạnh rất căn bản.

Giải thích đoạn Thánh Kinh trên đây theo thần học truyền thông đã đem lại một số hệ quả cho đời sống chúng ta và cho việc đào tạo chủng sinh. Việc truyền thông của cá nhân hay của Giáo Hội phải luôn được chuẩn bị trong thinh lặng, bằng cách lắng nghe tiếng Chúa và lắng nghe nhau. Chúng ta phải cho người khác được tự do, gác sang một bên những ước muốn thống trị và quyền lực. Ở đây, cũng như ở mọi chỗ khác, Đức Kitô luôn luôn là khuôn mẫu của chúng ta. Ngài không bám riết vào thiên tính của mình, nhưng đã trút bỏ tất cả và mang lấy bản tính của người nô lệ (x. Pl 2,7). Truyền thông là một việc diễn biến trong thời gian, không bao giờ xong hoàn toàn. Nó kêu gọi chúng ta phải kiên nhẫn và biết cảm thông. Một khi đã được tháo gỡ khỏi mọi trở ngại, việc truyền thông cũng đòi chúng ta phải hiểu mình và hiểu biết người khác.

Như thế, trong việc đào tạo truyền thông xã hội cần phải có nhiều bước thực hành, như chúng ta đã thấy qua bài khảo luận này. Chúng tôi chỉ xin liệt kê ra đây. (1) Chúng ta phải học hỏi các nền văn hoá của cộng đồng bằng cách lắng nghe họ. (2) Cần phải có kinh nghiệm về những nền văn hoá ấy để (3) chúng ta có thể tìm ra các phương cách diễn tả thích hợp nhất. (4) Cố gắng nhận ra đâu là những trở ngại cho việc truyền thông khi xem xét mình và xem xét tình cảnh của chúng ta. (5) Học hỏi những phương cách truyền thông có sẵn. Ở đây, chúng ta cần nhìn nhận các phương thế truyền thông không hề vô thưởng vô phạt. Các phương thế ấy là những dụng cụ vô cùng mềm dẻo, chúng mang theo những giá trị đặc biệt có thể ảnh hưởng nhiều hay ít trên cách chúng ta làm việc truyền thông. Chẳng hạn, việc truyền thông đại chúng có thể củng cố và giải thích tại sao người ta lại có ý thức về quyền lực tập trung – nghĩa là quyền lực của một người có thể ngỏ lời với nhiều người. Việc truyền thông ấy có thể gây hiểu sai về sự hiệp thông và cộng đồng, nhưng cũng có thể giúp tạo ra một loại cộng đồng đặc biệt nào đó. (6) Chúng ta luôn sẵn sàng ngỏ lời xin giúp đỡ, xin người khác phản hồi lại để có thể biết họ và trong khi biết họ, chúng ta sẽ yêu mến họ. (7) Cuối cùng, cần phải biết thông điệp mà mình muốn truyền đi. Chúng ta sẽ làm việc này thông qua cầu nguyện và suy niệm Thánh Kinh, thông qua việc Thiên Chúa tự truyền thông mình nơi Đức Kitô. Để đào tạo truyền thông xã hội và xây dựng nền thần học truyền thông, chúng ta cần nhìn nhận Đức Kitô là sự truyền thông viên mãn, Đức Kitô chính là trung tâm của việc truyền thông. Thiên Chúa tạo dựng chúng ta theo hình ảnh của Ngài, theo hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi, là hình ảnh có sức truyền thông và thông qua việc truyền thông ấy, sẽ đem lại sự sống, ơn cứu độ cho tất cả mọi người.

Lm. Phêrô Đặng Xuân Thành (chuyển dịch)

———

1 Paul Soukup, SJ., Francis Buckley và David C. Robinson, The Influence of Information Technologies on Theology, Theological Studies, May 2001.

2 Bernard Cohen, The Press and Foreign Policy (Princeton: Princeton University Press, 1963) 13.

3 James W. Carey, A cultural approach to communication, in lại trong J.W.Carey, Communication as Culture: Essays on the Media and Society (Boston: Unwin Hyman, 1989) 13-16.

4 Horace Newcomb và Paul Hirsch, Television as a cultural form. Trong H. Newcomb (ed.), Television: The Critical View (4th. Ed.) (New York: Oxford University Press, 1987), 455-470.

5 Joshua Meyrowitz, No Sense of Place: The Impact of Electronic Media on Social Behaviour (New York: Oxford University Press, 1985).

6 Walter J. Ong., S.J., Orality and Literacy: The Technologizing of the Word (London: Methuen, 1982).

7 Walter J. Ong, S.J., Communication medi a and the state of theology. Cross Currents, 19 (1969) 462-480.

8 Đức Piô XII, Miranda Prorsus, số 25.

9 Hội đồng Giáo hoàng về Truyền thông Xã hội, Hiệp thông và tiến bộ, số 8.

10 X. Hồng y Martini. Effata, Apriti. Communicating Christ to the Word: The pastoral Letters Effata, Apriti and Il Lembo del Mantello. Bản dịch của Thomas Lucas, S.J. Kansas City: Sheed & Ward, 1992, tr. 1-76.

11 Hội đồng Giáo hoàng, Hiệp thông và tiến bộ, số 11.

12 Gerard Manley Hopkins. As Kingfishers Catch Fire (bài thơ 34). Văn vần và văn xuôi của Gerard Manley Hopkins. Ed. W.H. Gardner. London: Penguin, 1988: tr. 51.

13 Paul Watzlawick, Janice Beavin và Don Jackson. The Pragmatics of Human Communication: A study of interactional patterns, pathologies and paradoxes, New York: Norton, 1967.

14 Ulbaldo Stecconi. Peirce’s Semiotics for Translation. Fidelity and Translation: Communicating the Bible in New Media. Eds. Paul A Soukup và Robert Hodgson. Franklin, WI: Sheed & Ward, New York: American Bible Society, 1999, tr. 249-261.

15 Avery Dulles, The Church is Communications. Multimedia International 1 (1971).

16 Dulles, Avery. Vatican II và truyền thông. Trong Latourelle, R. (ed.) Vatican II: Assessment and Perspective, ba tập. New York: Paulist Press, 1989, tr. 529.

17 Avery Dulles, Models of the Church, Garden City, NY: Doubleday, 1987: tr. 34-102. Xuất bản lần đầu 1974.

18 Đức Piô XI, Vigilanti Cura, số 9; Đức Piô XII, Miranda Prosrsus, số 24; Vatican II, Inter Mirifica, số 1.

19 Hội đồng Giáo hoàng về Truyền thông Xã hội, Đạo đức trong truyền thông, số 32.

20 Đạo đức trong truyền thông, số 3.

21 X. Đức Phaolô VI, Loan báo Tin Mừng, số 41.

22 Augustinô bàn về vấn đề này trong tập IV De Doctrina Christiana bằng cách sử dụng tu từ học, là công nghệ truyền thông hàng đầu thời ấy.

23 Martini, OP. cit., đặc biệt tr. 16-19.

Advertisements

Giáo hội tại Á Châu (3)

CHƯƠNG VI

PHỤC VỤ
CHO SỰ THĂNG TIẾN CON NGƯỜI

Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội

32. Trong việc phục vụ gia đình nhân loại, Giáo Hội tìm cách tiếp cận với mọi người nam nữ không phân biệt, ra sức cùng với họ xây dựng một nền văn minh tình yêu, đặt nền móng trên những giá trị phổ biến của hoà bình, công lý, liên đới và tự do, những giá trị đó tìm thấy sự viên mãn trong Đức Kitô. Như Công Đồng Vatican II đã nói qua những lời đáng ghi nhớ: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Đức Kitô. Quả thực, không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ” (163). Như vậy, Giáo Hội tại Á Châu, với đám đông dân chúng nghèo khổ và bị áp bức, được kêu gọi sống một sự hiệp thông đời sống. Sự hiệp thông đời sống này biểu lộ cách riêng trong việc phục vụ đầy yêu thương đối với các người nghèo và không được ai bênh đỡ.

Nếu trong thời gian gần đây, Huấn Quyền Giáo Hội càng ngày càng nhấn mạnh đến nhu cầu cổ võ sự phát triển đích thực và toàn vẹn con người (164), đó là có ý đáp ứng với hoàn cảnh hiện thực của các dân tộc trên thế giới, cũng như với một ý thức càng ngày càng gia tăng về sự kiện này là không chỉ các hành động của từng cá nhân, mà cả các cấu trúc của đời sống xã hội, chính trị và kinh tế, thường thù nghịch với hạnh phúc con người. Tình trạng mất cân bằng do khoảng cách càng ngày càng xa giữa những người hưởng lợi nhờ khả năng tăng trưởng của thế giới trong việc sản xuất của cải, và những người bị bỏ rơi bên lề sự phát triển, đòi hỏi phải sửa đổi tận gốc cả não trạng lẫn các cấu trúc nhắm lợi ích cho con người. Thách đố luân lyù lớn đối với các quốc gia và các cộng đồng quốc tế liên quan đến sự phát triển, là phải can đảm sống tình liên đới mới, có khả năng nghĩ ra và thực hiện những bước vượt thắng cả việc chậm phát triển bất nhân và việc “phát triển quá mức” có khuynh hướng giản lược con người thành một đơn vị kinh tế trong một mạng lưới tiêu thụ càng ngày càng có tính chất áp bức. Trong khi tìm cách cổ võ sự thay đổi đó, “Giáo Hội không có những giải pháp kỹ thuật để cống hiến”, nhưng “cống hiến sự đóng góp đầu tiên của mình cho việc giải quyết vấn đề cấp bách của phát triển, khi Giáo Hội loan báo chân lý về Đức Kitô, về chính mình và về con người, bằng cách áp dụng chân lý đó vào một hoàn cảnh cụ thể” (165). Rốt cuộc, sự phát triển con người không bao giờ chỉ là một vấn đề thuần kỹ thuật và kinh tế; nhưng cơ bản là một vấn đề nhân bản và luân lý.

Học thuyết xã hội của Giáo Hội, khi đề nghị một loạt những nguyên tắc để suy tư, những tiêu chuẩn để phán đoán và những hướng dẫn để hành động (166), trước tiên nhắm tới những thành viên của Giáo Hội. Điều thiết yếu là người tín hữu dấn thân trong việc thăng tiến con người, phải nắm chắc toàn bộ học thuyết quí báu này, và xem đó như một phần nguyên vẹn của sứ mạng rao giảng Tin Mừng của mình. Vì thế các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã nhấn mạnh tầm quan trọng phải trao ban cho người tín hữu -trong tất cả mọi hoạt động giáo dục, và đặc biệt trong các chủng viện và những nơi đào tạo- một nền huấn luyện vững chắc về học thuyết xã hội của Giáo Hội (167). Các nhà lãnh đạo Kitô hữu trong Giáo Hội và xã hội, và cách riêng các giáo dân nam nữ đang giữ trách nhiệm trong đời sống công cộng, cần được huấn luyện đầy đủ về học thuyết này, để họ có thể gợi hứng và ban sức sống cho xã hội dân sự cũng như các cấu trúc của nó bằng chất men Tin Mừng (168). Học thuyết xã hội của Giáo Hội không những sẽ nhắc nhở các nhà lãnh đạo Kitô hữu đó về bổn phận của họ, mà còn đem đến cho họ những hướng dẫn để hành động nhằm phát triển con người, và giải thoát họ khỏi những quan niệm dối trá về con người và hoạt động của con người.

Phẩm Giá Con Người

33. Con người, chứ không phải của cải hay kỹ thuật, là tác nhân chính và mục đích của sự phát triển. Vì thế, loại phát triển mà Giáo hội cổ võ, vượt quá những vấn đề kinh tế và kỹ thuật. Nó bắt đầu và kết thúc với sự nguyên vẹn của con người, được dựng nên giống hình ảnh của Thiên Chúa và được Thiên Chúa ban cho một phẩm giá và các nhân quyền không thể bị tước bỏ. Những tuyên ngôn quốc tế khác nhau về nhân quyền và về nhiều sáng kiến do các tuyên ngôn đó khởi xướng, là dấu chỉ của sự quan tâm càng ngày càng lớn hơn trên bình diện hoàn cầu tới phẩm giá của con người. Vô phúc thay, những tuyên ngôn đó thường bị vi phạm trong thực hành. Năm mươi năm sau khi long trọng công bố Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, nhiều người còn phải chịu những hình thức bóc lột và lừa bịp đê hèn nhất, biến con người thành những nô lệ thực sự cho những kẻ quyền thế hơn, cho một ý thức hệ, cho những thế lực kinh tế, những hệ thống chính trị đàn áp, cho chủ nghĩa kỹ thuật khoa học hay sự xâm nhập của các phương tiện truyền thông (169).

Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng biết rõ những vi phạm liên tục về các quyền con người trong nhiều nơi trên thế giới, và cách riêng tại Á Châu, nơi “hàng triệu người đang đau khổ do sự kỳ thị, bóc lột, nghèo đói và loại trừ” (170). Các ngài khẳng định rằng các dân tộc tại Á Châu cần hiểu rõ thách đố không tránh được và không loại bỏ được, gắn liền với việc bênh vực nhân quyền và cổ võ công lý và hoà bình.

Tình Yêu Ưu Tiên Dành Cho Người Nghèo

34. Khi tìm cách thăng tiến nhân phẩm, Giáo Hội bày tỏ một tình yêu ưu tiên dành cho người nghèo và những kẻ không có tiếng nói, bởi vì Chúa đã đồng hoá với họ một cách đặc biệt (x. Mt 25,40). Tình yêu không loại trừ ai, nhưng có một ưu tiên phục vụ mà toàn thể truyền thống Kitô giáo minh chứng. “Tình yêu ưu tiên dành cho người nghèo đó, cùng với những quyết định mà nó gợi hứng trong ta, không thể không ôm ấp đám đông những người đói khát, thiếu thốn, những người vô gia cư, những kẻ không được chăm sóc thuốc men và, trên hết, những kẻ không hy vọng có được một tương lai tốt đẹp hơn. Không thể không ghi nhận sự hiện hữu những thực tại này. Phớt lờ chúng tức là trở thành giống như người giàu có làm như vẻ không biết đến người nghèo Ladarô đang nằm ngoài cổng nhà mình” (x. Lc 16,19-31) (171). Điều nói trên đúng cách riêng đối với Á Châu, một lục địa đầy dẫy tài nguyên và những nền văn minh lớn, mà cũng là nơi người ta gặp thấy một số nước nghèo nhất thế giới, và cũng là nơi mà một nửa dân số đang chịu cảnh thiếu thốn, nghèo đói và bị bóc lột (172). Người nghèo Châu Á và thế giới sẽ luôn tìm thấy những lý do tốt nhất để hy vọng, trong giới luật Tin Mừng phải yêu mến nhau như Đức Kitô đã yêu chúng ta (x. Ga 13,34), và Giáo Hội tại Á Châu không thể không ra sức hết mình chu toàn giới luật đối với người nghèo, bằng lời nói và việc làm.

Tình liên đới với kẻ nghèo trở nên dễ tin hơn, nếu chính các Kitô hữu sống giản dị, theo gương Đức Giêsu. Sự đơn giản trong cách sống, đức tin sâu xa và tình yêu không giả dối đối với mọi người, nhất là người nghèo và bị loại trừ, là những dấu chỉ sáng chói của Tin Mừng bằng hành động. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng kêu gọi các người Công giáo Á Châu có một lối sống phù hợp với giáo huấn Tin Mừng, để có thể phục vụ tốt hơn trong việc truyền giáo của Giáo Hội và để chính Giáo Hội có thể trở nên một Giáo Hội của người nghèo và cho người nghèo (173).

Trong tình yêu đối người nghèo tại Á Châu, Giáo Hội lưu ý cách riêng đến những kẻ di dân, những người bản xứ và các dân tộc bộ lạc, những phụ nữ và trẻ em, bởi vì họ thường là nạn nhân của những hình thức bóc lột xấu xa nhất. Thêm vào đó, có số người vô danh, bị kỳ thị do văn hoá, màu da, chủng tộc, đẳng cấp, tình trạng kinh tế của họ, hay là do cách họ suy nghĩ. Gồm có cả những người là nạn nhân của sự kỳ thị vì trở lại Kitô giáo (174). Cùng với các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, tôi mời gọi mọi quốc gia nhìn nhận quyền tự do lương tâm và tôn giáo và những quyền căn bản khác của con người (175).

Vào lúc này tại Á Châu đang diễn ra một làn sóng chưa từng thấy những người tị nạn, những người tìm nơi trú ẩn, những người di cư và những người lao động ở hải ngoại. Tại những quốc gia họ tới, những người này thường không có bạn bè, bị tách biệt về mặt văn hoá, bị bất lợi vì ngôn ngữ và dễ bị tổn hại về mặt kinh tế. Họ cần được nâng đỡ và chăm sóc để bảo toàn được nhân phẩm và gia sản văn hoá cũng như tôn giáo của họ (176). Mặc dầu tài nguyên eo hẹp, Giáo Hội tại Á Châu quảng đại cố gắng trở nên một ngôi nhà đón tiếp những kẻ khó nhọc và gánh nặng, vì biết rằng trong Thánh Tâm Đức Giêsu, nơi không có ai là người xa lạ, họ sẽ được an nghỉ (x. Mt 11,28-29).

Trong hầu hết mọi miền của Á Châu, có một số lớn dân bản xứ, một số họ sống trong mức kinh tế thấp nhất. Thượng Hội Đồng lặp đi lặp lại rằng dân bản xứ và dân bộ lạc thường cảm thấy được lôi kéo đến với con người Đức Giêsu Kitô và đến với Giáo Hội như một cộng đồng tình yêu và phục vụ (177). Đây được coi là một lãnh vực bao la cho công tác giáo dục và chăm nom sức khỏe, cũng như cổ võ việc tham gia vào xã hội. Cộng đồng Công giáo cần tăng cường công tác mục vụ giữa những người dân này, bằng cách chú ý tới những âu lo của họ và tới những vấn đề công bình ảnh hưởng tới đời sống của họ. Điều này bao hàm một thái độ kính trọng sâu xa tôn giáo truyền thống của họ và các giá trị của nó; ngoài ra cũng bao hàm sự cần thiết giúp đỡ họ để họ tự giúp lấy mình, ngõ hầu họ có thể hành động để cải thiện hoàn cảnh của họ và trở nên những nhà rao giảng Tin Mừng cho nền văn hoá và xã hội của họ (178).

Không một ai có thể thờ ơ với đau khổ của nhiều trẻ em tại Á Châu, nạn nhân của sự bóc lột và bạo lực không thể chấp nhận được, không chỉ do sự dữ các cá nhân gây nên, nhưng thường do những cấu trúc xã hội thối nát. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng xem lao động trẻ em, tình dục với trẻ em và hiện tượng ma tuý là những sự dữ xã hội ảnh hưởng trực tiếp nhất tới trẻ em, và các ngài thấy rõ rằng những sự dữ đó kéo theo những tệ nạn khác như cảnh nghèo đói và các quan niệm lệch lạc về các chương trình phát triển quốc gia (179). Giáo Hội phải làm tất cả những gì có thể để thắng những sự dữ đó, để hành động nhân danh những kẻ bị bóc lột nhất, và để tìm cách dẫn đưa những người bé mọn tới tình yêu của Đức Giêsu, bởi vì Nước Thiên Chúa thuộc về những kẻ đó (x. Lc 18,16) (180).

Thượng Hội Đồng bày tỏ quan tâm cách riêng đối với phụ nữ, hoàn cảnh của họ vẫn là một vấn đề nghiêm trọng tại Á Châu, nơi mà sự kỳ thị và bạo lực đối với người phụ nữ thường xảy ra trong gia đình, tại nơi làm việc và cả trong hệ thống pháp lý nữa. Nạn mù chữ phổ biến trong giới phụ nữ và nhiều phụ nữ bị đối xử đơn thuần như những món hàng trong nghề mãi dâm, du lịch và công nghệ giải trí (181). Trong trận chiến chống lại mọi hình thức bất công và kỳ thị, người nữ phải tìm được đồng minh trong cộng đồng Kitô hữu, và vì lẽ đó, Thượng Hội Đồng đề nghị rằng, nơi nào có thể được, các Giáo Hội địa phương tại Á Châu phải cổ võ những hoạt động cho nhân quyền nhân danh người nữ. Mục tiêu phải là mang lại được một sự thay đổi thái độ, nhờ một hiểu biết đúng đắn hơn về vai trò của người nam và người nữ trong gia đình, trong xã hội và trong Giáo Hội, nhờ ý thức mạnh mẽ hơn về sự bổ túc nguyên thuỷ của người nam và người nữ, và nhờ sự đánh giá rõ ràng hơn về tầm quan trọng của chiều kích nữ tính trong mọi lãnh vực con người. Những đóng góp của người nữ cũng thường bị hạ giá hay không được biết tới, và điều này đưa tới kết quả là sự nghèo nàn tinh thần của nhân loại. Giáo Hội tại Á Châu phải đề cao phẩm giá và sự tự do của người nữ, một cách hữu hình và hữu hiệu hơn, bằng cách cổ võ vai trò của họ trong đời sống Giáo Hội, gồm cả đời sống trí thức của họ, và bằng cách mở ra cho họ những cơ hội lớn hơn để hiện diện và hoạt động trong sứ mạng tình yêu và phục vụ của Giáo Hội (182).

Tin Mừng Sự Sống

35. Việc phục vụ cho sự phát triển con người bắt đầu bằng việc phục vụ chính sự sống. Sự sống là một quà tặng to lớn mà Thiên Chúa giao phó cho chúng ta: người giao phó nó cho chúng ta, như là một dự án và một trách nhiệm. Do đó chúng ta là kẻ giữ gìn sự sống, chứ không phải là sở hữu chủ. Chúng ta nhận lãnh ân huệ cách tự do và, trong sự biết ơn, chúng ta không bao giờ được phép thôi kính trọng và bảo vệ nó, từ lúc nó bắt đầu cho tới lúc nó kết thúc cách tự nhiên. Từ lúc thụ thai, sự sống con người là do hành động sáng tạo của Thiên Chúa và luôn có một mối liên kết đặc biệt với Tạo Hoá, Đấng là nguồn sống và mục đích duy nhất của nó. Không có phát triển thật sự, không có xã hội dân sự thật sự, không có thăng tiến nhân bản thật sự, mà không kính trọng sự sống con người, cách riêng sự sống của những con người không có tiếng nói để bênh vực lấy mình. Sự sống của mỗi người, dù là thai nhi còn trong bụng mẹ hay là kẻ đau liệt, tàn tật hay già cả, là một ân huệ cho tất cả mọi người.

Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng hết lòng khẳng định lại giáo huấn của Công Đồng Vatican II và Huấn quyền tiếp theo sau đó, gồm có thông điệp Tin Mừng Sự Sống của tôi (Evangelium Vitae), nói về sự thánh thiêng của sự sống con người. Ở đây tôi hiệp ý với các Ngài để kêu gọi các tín hữu đang sống trong những quốc gia, nơi mà vấn đề dân số thường được sử dụng như một lý lẽ để biện minh cho việc phá thai, và những chương trình kiểm soát giả tạo dân số, nhằm chống lại “nền văn hoá sự chết” (183). Các tín hữu có thể chứng tỏ lòng trung thành với Thiên Chúa và sự dấn thân để thăng tiến con người thật sự, bằng cách ủng hộ và tham gia các chương trình bảo vệ sự sống cho những ai không có khả năng để tự bênh vực lấy mình.

Việc Chăm Sóc Sức Khoẻ

36. Bước theo vết chân Đức Giêsu Kitô, Đấng tỏ lòng thương xót mọi người và chữa lành “mọi thứ bệnh hoạn tật nguyền” (Mt 9,35), Giáo Hội tại Á Châu cam kết dấn thân hơn nữa trong việc chăm sóc người bệnh hoạn, bởi vì đây là một phần căn bản của sứ mạng Giáo Hội, là trao tặng ân sủng cứu độ của Đức Kitô cho con người toàn diện. Như người Samaritanô nhân lành trong dụ ngôn (x. Lc 10,29-37), Giáo Hội muốn chăm sóc người bệnh và tàn tật cách cụ thể, (184) đặc biệt tại những nơi dân chúng thiếu sự chăm sóc thuốc men cơ bản, do nạn nghèo đói và bị loại trừ.

Trong nhiều trường hợp khi tôi thăm viếng Giáo Hội tại những miền khác nhau trên thế giới, tôi bị xúc động sâu xa trước chứng tá phi thường của các tu sĩ và người được thánh hiến, các bác sĩ, y tá và những người chăm lo sức khoẻ khác, cách riêng những người dang làm việc bên cạnh những người tàn tật hoặc những bệnh nhân trong giai đoạn cuối, hay đang chống lại sự lan tràn của những thứ bệnh mới như Aids. Những Kitô hữu dấn thân lo cho sức khoẻ, càng ngày càng được kêu gọi sống quảng đại và hiến mình để săn sóc những nạn nhân nghiện ma tuý và Aids, những kẻ thường bị xã hội khinh chê và loại bỏ (185). Nhiều tổ chức y tế công giáo tại Á Châu phải đương đầu với các áp lực do các chính sách chăm sóc sức khoẻ của nhà nước không đặt nền tảng trên các nguyên tắc Kitô giáo, và nhiều tổ chức đó đang gặp khó khăn về mặt tài chính. Dầu có những khó khăn đó, chính tình yêu gương mẫu và vô vị lợi, và trình độ nghiệp vụ quảng đại của những người đang dấn thân vào công việc đó, đem lại một sự phục vụ đáng khâm phục và đáng giá cho cộng đoàn, và nên một dấu chỉ đặc biệt cụ thể và hữu hiệu cho tình yêu không bao giờ vơi của Thiên Chúa. Những người chăm lo sức khoẻ đó phải được khích lệ và nâng đỡ trong việc thiện họ làm. Sự dấn thân liên tục và hiệu năng của họ là phương cách dành động tốt nhất để những giá trị và đạo đức Kitô giáo thâm nhập vào những hệ thống chăm lo sức khoẻ của lục địa và biến đổi hệ thống đó từ bên trong (186).

Giáo Dục

37. Trên khắp Á Châu, sự dấn thân của Giáo Hội trong việc giáo dục thật rộng rãi và thấy được rõ ràng, và vì thế là một yếu tố chủ chốt nói lên sự hiện diện của Giáo Hội giữa các dân tộc của lục địa. Trong nhiều quốc gia, các trường học công giáo giữ vai trò quan trọng trong việc rao giảng Tin Mừng, hội nhập đức tin vào văn hóa, dạy dỗ sự cởi mở và kính trọng, và cổ võ sự hiểu biết liên tôn. Các trường của Giáo Hội thường cung cấp các cơ hội giáo dục duy nhất cho các thiếu nữ, các dân tộc bộ lạc thiểu số, những trẻ em nhà quê nghèo và ít được ưu đãi. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng xác tín đến nhu cầu mở rộng và phát triển việc tông đồ giáo dục tại Á Châu, với một sự lưu tâm đặc biệt đến những người xấu số, hầu giúp họ có được chỗ đứng chính đáng, như một người công dân trọn vẹn trong xã hội (187). Như các nghị Phụ Thượng Hội Đồng ghi nhận, điều đó có nghĩa là hệ thống giáo dục Công giáo phải hướng cách rõ nét hơn tới việc thăng tiến con người, tạo ra một môi trường cho các học sinh không chỉ nhận lấy những yếu tố giáo dục chính thức, nhưng tổng quát hơn, nhận lãnh một sự đào tạo nhân bản toàn vẹn, đặt nền tảng trên giáo huấn của Đức Kitô (188). Các trường Công giáo phải tiếp tục là những nơi mà đức tin có thể được trình bày và nhận lãnh cách tự do. Cũng vậy, các đại học Công giáo, ngoài việc theo đuổi sở trường học thuật mà chúng được nổi tiếng, cần phải giữ lấy một căn tính Kitô hữu rõ rệt, ngõ hầu trở nên men Kitô giáo trong các xã hội Á Châu (189).

Kiến Tạo Hoà Bình

38. Vào cuối thế kỷ XX, thế giới vẫn còn bị đe doạ bởi các vũ lực làm phát sinh những xung đột và chiến tranh, và Á Châu chắc chắn không thoát khỏi những điều đó. Giữa những vũ lực đó có sự bất bao dung và mọi thứ loại trừ -xã hội, văn hoá, chính trị, và cả tôn giáo nữa. Ngày qua ngày bạo lực mới ập xuống trên từng cá nhân và toàn thể dân chúng, và nền văn hoá sự chết được thiết lập bằng việc sử dụng bất chính bạo lực để giải quyết các căng thẳng. Trong hoàn cảnh xung đột khủng khiếp ấy tại nhiều nơi trên thế giới, Giáo Hội được mời gọi dấn thân trong những nỗ lực quốc tế và liên tôn để mang lại hoà bình, công lý và hoà giải. Giáo Hội tiếp tục nhấn mạnh việc thương thuyết và không dùng quân sự để giải quyết các cuộc xung đột, và trông đợi ngày mà các nước sẽ từ bỏ chiến tranh như là một phương thế để đạt các yêu sách hay là phương tiện để giải quyết các khác biệt. Giáo Hội xác tín rằng chiến tranh gây nên nhiều vấn đề hơn là giải quyết chúng, rằng đối thoại là con đường đúng đắn và cao thượng duy nhất để đạt đến thoả thuận và hoà giải, và cái tài kiên nhẫn và khôn ngoan của việc kiến tạo hoà bình được Thiên Chúa chúc phúc cách riêng.

Điều đặc biệt lo lắng tại Á Châu là sự liên tục chạy đua vũ trang có sức tàn phá hàng loạt, đó là chi phí vô luân và phí phạm ngân sách quốc gia, ngân sách mà trong nhiều trường hợp không đủ thoả mãn các nhu cầu cơ bản của dân chúng. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cũng nói tới số lượng mìn bẫy to lớn tại Á Châu, gây tàn tật và giết chết hàng trăm ngàn kẻ vô tội, còn làm cằn cỗi mảnh đất phì nhiêu có thể dùng để sản xuất ra lương thực (190). Đó là trách nhiệm của tất cả mọi người, nhất là những nhà lãnh đạo quốc gia, là hành động tích cực hơn nữa để giải giáp vũ khí. Thượng Hội Đồng kêu gọi ngưng sản xuất, bán và sử dụng vũ khí hạt nhân, hoá học và sinh học, và thúc giục những kẻ đặt mìn bẫy phải tiếp tay trong công tác phục hồi và sửa chữa (191). Trên hết mọi sự,ï các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cầu xin Thiên Chúa, Đấng thấu suốt lương tâm mỗi người, đặt những tâm tình hoà bình trong con tim những kẻ bị cám dỗ đi theo những con đường bạo lực, ngõ hầu điều mơ thấy trong Kinh Thánh trở nên sự thật: “họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến” (Is 2,4).

Thượng Hội Đồng đã nghe nhiều chứng từ liên can tới những đau khổ của dân Iraq, và về sự kiện là nhiều người dân Iraq, đặc biệt các trẻ em, đã chết vì thiếu thuốc men và những mặt hàng cơ bản do việc cấm vận tiếp diễn. Cùng với các Nghị Phụ của Thượng Hội Đồng, tôi muốn một lần nữa diễn tả sự liên đới của tôi với dân tộc Iraq và tôi đặc biệt gần gũi trong kinh nguyện và hy vọng, với các con cái nam nữ của Giáo Hội tại xứ này. Thượng Hội Đồng cầu xin Chúa soi sáng tâm trí của tất cả những người mang lấy trách nhiệm tìm kiếm một giải pháp chính đáng cho cuộc khủng hoảng, ngõ hầu dân tộc đã bị thử thách cay đắng có thể thoát khỏi đau khổ và ưu phiền hơn nữa (192).

Toàn Cầu Hoá

39. Khi đề cập đến vấn đề thăng tiến con người tại Á Châu, các Nghị phụ Thượng Hội Đồng công nhận tầm quan trọng của quá trình toàn cầu hoá về mặt kinh tế. Tuy nhìn nhận nhiều kết quả tích cực của nó, các ngài cho thấy rằng việc toàn cầu hoá cũng đã gây thiệt hại cho kẻ nghèo (193), có khuynh hướng đẩy những nước nghèo ra bên lề những liên hệ kinh tế và chính trị quốc tế. Nhiều nước Á Châu không có khả năng giữ được nền kinh tế của riêng mình trong một nền kinh tế thị trường thế giới. Và có lẽ điều còn có ý nghĩa hơn, là cũng có khía cạnh toàn cầu hoá về mặt văn hoá, thực hiện được là nhờ những phương tiện truyền thông tân thời, mau chóng lôi kéo các xã hội Á Châu vào trong một nền văn hoá toàn cầu về chủ nghĩa tiêu thụ, nền văn hoá chủ trương tục hoá và duy vật. Kết quả là sự xói mòn gia đình truyền thống và các giá trị xã hội mà cho tới ngày nay vẫn nâng đỡ các dân tộc và các xã hội. Tất cả những sự việc đó cho thấy rõ rằng những khía cạnh đạo đức và luân lý của việc toàn cầu hoá cần được các nhà lãnh đạo quốc gia và những tổ chức liên can tới việc thăng tiến con người đề cập đến cách trực tiếp hơn.

Giáo Hội nhấn mạnh đến sự cần thiết của việc “toàn cầu hoá mà không loại trừ” (194). Cùng với các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, tôi kêu gọi các Giáo Hội địa phương khắp nơi, và cách riêng các Giáo Hội ở các nước Phương Tây, hành động để làm cho học thuyết xã hội của Giáo Hội có tác động thích đáng trong việc soạn thảo các quy tắc đạo đức và pháp lý, để điều hoà các thị trường tự do trên thế giới và các phương tiện truyền thông xã hội. Những nhà lãnh đạo và những nhà chuyên nghiệp Công giáo phải thúc giục các chính phủ, các cơ quan tài chính và thương mại, nhìn nhận và tôn trọng những quy tắc đó (195).

Nợ Nước Ngoài

40. Hơn nữa, trong việc tìm kiếm sự công bằng trong một thế giới bị các bất bình đẳng xã hội và kinh tế làm hư hỏng, Giáo Hội không thể không biết đến gánh nặng nợ nần mà các nước đang mở mang tại Á Châu mắc phải, với ảnh hưởng tác động trên hiện tại và tương lai. Trong nhiều trường hợp, những xứ này bị bắt buộc cắt giảm chi tiêu trong những nhu cầu cần thiết để sống như lương thực, sức khoẻ, nhà ở, giáo dục, ngõ hầu có thể trả các món nợ cho các cơ quan tài chánh quốc tế và ngân hàng. Điều này có nghĩa là nhiều người dân bị đặt vào trong những điều kiện sống gây nhục nhã đối với nhân phẩm con người. Tuy ý thức những phức tạp về mặt chuyên môn của vấn đề này, Thượng Hội Đồng nhìn nhận rằng sự việc đó là một trắc nghiệm về khả năng của các dân tộc, các xã hội và các chính quyền có biết coi trọng con người và sự sống của hàng triệu con người hơn lợi lộc tài chánh và vật chất không (196).

Đại năm thánh 2000 gần tới, là một thời gian thuận tiện để các Hội Đồng Giám Mục thế giới, cách riêng ở tại những nước giàu có hơn, khuyến khích các cơ quan tài chánh thế giới và ngân hàng, khảo sát phương cách làm nhẹ bớt hoàn cảnh nợ nần quốc tế. Trong những phương cách hiển nhiên hơn, thấy có sự điều chỉnh lại nợ nần, với việc giảm phần đáng kể hoặc xoá nợ toàn bộ, xem đó như những dự án kinh doanh và đầu tư để giúp nền kinh tế của những nước nghèo hơn (197). Đồng thời các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cũng ngõ lời với các nước đang mắc nợ. Các ngài nhấn mạnh đến nhu cầu phát triển ý thức trách nhiệm quốc gia, nhắc họ nhớ tới tầm quan trọng của kế hoạch kinh tế lành mạnh, sự trong sáng và quản lý tốt, và mời gọi họ mở chiến dịch quyết liệt chống tham nhũng (198). Các Nghị Phụ kêu gọi các Kitô hữu Á Châu lên án mọi hình thức tham nhũng và biển thủ công quĩ, do những kẻ nắm quyền lực chính trị (199). Các công dân của những quốc gia đang mắc nợ thường là nạn nhân của sự lãng phí và vô hiệu năng tại quốc gia họ, trước khi trở nên nạn nhân của cuộc khủng hoảng nợ nần quốc tế.

Môi Trường

41. Khi mối quan tâm đến sự phát triển kinh tế và kỹ thuật không đi kèm theo mối quan tâm đến sự cân bằng của hệ thống sinh thái, quả đất chúng ta chắc chắn bị hứng chịu những thiệt hại nghiêm trọng về môi trường, với những hậu quả tai hại cho con người. Sự thiếu kính trọng hiển nhiên đối với môi trường sẽ tiếp tục bao lâu mà quả đất và tiềm năng của nó bị coi như những đồ vật để sử dụng và tiêu dùng tức thời, bị thao túng bởi lòng ham muốn vô độ tìm lợi nhuận (200). Nhiệm vụ của các Kitô hữu và của tất cả những ai nhìn nhận Chúa là Đấng Sáng Tạo, là bảo vệ môi trường, bằng cách phục hồi một cảm thức tôn kính đối với toàn thể thọ tạo của Thiên Chúa. Ý muốn Đấng Tạo Hoá là con người đối đãi với thiên nhiên không như một nhà khai thác tàn nhẫn, nhưng như một nhà quản trị tài trí và có trách nhiệm (201). Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nài xin cách đặc biệt những nhà lãnh đạo quốc gia, những nhà làm luật, những nhà kinh doanh và tất cả những ai dấn thân trực tiếp trong việc quản trị tài nguyên của trái đất hãy có một tinh thần trách nhiệm lớn hơn (202). Các ngài nhấn mạnh đến sự cần thiết phải giáo dục dân chúng, cách riêng giới trẻ, có tinh thần trách nhiệm đối với môi trường, bằng cách huấn luyện họ cách thức quản trị thọ tạo mà Thiên Chúa đã giao phó cho nhân loại. Việc bảo vệ môi trường không chỉ là một vấn đề kỹ thuật, nó cũng là và hơn hết là một vấn đề đạo đức. Mọi người đều có bổn phận luân lý phải chăm lo môi trường, không những vì lợi ích cho riêng mình, nhưng cũng vì lợi ích cho các thế hệ mai sau.

Để kết luận, cũng nên nhắc lại rằng, khi kêu gọi các Kitô hữu hành động và hy sinh chính mình để phục vụ việc phát triển con người, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã qui chiếu về một vài giá trị nền tảng của truyền thống Kinh Thánh và Giáo Hội. Dân Israen xưa kia nhấn mạnh đến mối ràng buộc không thể phân rẽ giữa việc thờ phượng Chúa và chăm sóc người yếu đuối, điển hình trong Kinh Thánh là “người goá bụa, người ngoại kiều, và kẻ mồ côi” (x. Xh 22,21-22, Đnl 1018; 27,19), là những người trong các xã hội thời đó, dễ bị đối xử bất côngï. Nhiều lần trong các sách Ngôn Sứ, chúng ta nghe tiếng kêu gào đến công lý, đến sự tổ chức đúng đắn xã hội con người, mà không có những thứ đó thì không thể có sự thờ phượng Chúa đích thực (x. Is 1,10-17; Am 5,21-24). Trong lời mời gọi của các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, chúng ta nghe tiếng vang của các vị ngôn sứ đầy Thần Khí Thiên Chúa, Đấng muốn “lòng thương xót chứ không cần nghi lễ” (Hs 6,6). Đức Giêsu lấy những lời đó làm của mình (x. Mt 9,13), và các thánh trong mọi thời và mọi nơi cũng làm như vậy. Hãy suy nghĩ những lời nói của thánh Gioan Kim Khẩu: “Anh có muốn tôn vinh thân thể Đức Kitô không? Vậy thì đừng phớt lờ Người khi Người trần truồng. Đừng tôn vinh Người trong đền thờ bằng hàng nhung lụa, mà lại để Người ở bên ngoài lạnh cóng và trần truồng. Đấng đã nói: “Này là mình Ta”, cũng là Đấng đã nói, “Anh thấy Ta đói mà không cho Ta ăn”. Ích gì nếu Bàn Tiệc Thánh Thể đầy chén thánh bằng vàng, khi Đức Kitô đang chết đói? Anh hãy khởi sự thoả mãn cơn đói của Người, rồi với cái gì còn lại, anh hãy lấy đó mà trang hoàng bàn thờ cũng được” (203). Trong lời mời gọi của Thượng Hội Đồng về việc phát triển con người và thực thi công bình trong các tương quan nhân loại, chúng ta nghe một tiếng nói vừa cũ vừa mới. Cũ vì nó xuất phát từ bề sâu của truyền thống Kitô giáo, mong có sự hoà hợp sâu xa mà Đấng Tạo Hoá muốn; còn mới, vì nó nói về hoàn cảnh hiện thời của vô số dân tộc tại Á Châu ngày hôm nay.

CHƯƠNG VII

NHỮNG CHỨNG NHÂN TIN MỪNG

Một Giáo Hội Làm Chứng

42. Công đồng Vatican II đã dạy rõ rằng, toàn thể Giáo Hội phải truyền giáo, và công tác Phúc âm hóa là nhiệm vụ của toàn thể Dân Chúa (204). Bởi vì toàn Dân Chúa được sai đi để rao giảng Tin Mừng, việc Phúc âm hoá không bao giờ là một hành động cá nhân hay biệt lập; nó luôn luôn là một nhiệm vụ mang tính Giáo Hội, cần được thực hiện trong sự hiệp thông với toàn thể cộng đồng đức tin. Chỉ có một sứ mạng duy nhất và không thể phân chia, vì chỉ có một nguồn gốc và một cùng đích; nhưng trong nó có nhiều trách nhiệm khác nhau và nhiều thứ hoạt động khác nhau (205). Trong mọi trường hợp, rõ ràng là không thể có được sự rao giảng Tin Mừng đích thực nếu người Kitô hữu không trao tặng một chứng tá đời sống phù hợp với sứ vụ rao giảng: “Hình thức chứng tá đầu tiên là chính đời sống của vị thừa sai, của gia đình Kitô hữu, và của cộng đồng Giáo Hội, một cộng đồng bày tỏ một nếp sống mới. Mỗi người trong Giáo Hội, khi cố gắng bắt chước Thầy chí thánh, thì có thể và phải làm chứng theo kiểu này; trong nhiều trường hợp, đó là phương cách duy nhất có thể được, để trở thành nhà truyền giáo” (206). Cách riêng bây giờ, cần chứng tá Kitô hữu chính hiệu, bởi vì “ngày nay dân chúng tin các chứng nhân hơn là các Thầy dạy, tin vào kinh nghiệm hơn là lời giảng dạy, và tin vào đời sống và hành động hơn là vào lý thuyết” (207). Điều này càng đúng trong bối cảnh Á Châu, nơi mà dân chúng được thuyết phục do đời sống thánh thiện hơn là do lý lẽ trí thức. Như thế, kinh nghiệm về đức tin và về những ân ban của Chúa Thánh Thần, trở thành nền tảng của mọi hoạt động tông đồ, nơi thành thị hay ở thôn quê, trong trường học hay bệnh viện, giữa những kẻ tàn tật, di dân và dân bộ lạc, hay là khi theo đuổi công lý hoặc nhân quyền. Mọi hoàn cảnh đều thuận lợi để người Kitô hữu chứng tỏ quyền năng mà chân lý của Đức Kitô đã hoà nhập trong đời sống của họ. Do đó, được gợi hứng bởi nhiều vị thừa sai đã làm chứng anh dũng cho tình yêu Thiên Chúa giữa các dân tộc của lục địa trong quá khứ, Giáo Hội tại Á Châu bây giờ ra sức làm chứng, không kém sốt sắng hơn, cho Đức Giêsu Kitô và Tin Mừng của Người. Sứ vụ kitô giáo đòi hỏi ít nhất điều đó.

Ý thức về đặc tính truyền giáo của Giáo Hội và trông đợi Chúa Thánh Thần lại đổ xuống năng lực mới, đang lúc Giáo Hội đi vào ngàn năm mới, Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng yêu cầu rằng Tông Thư hậu Thượng Hội Đồng nêu lên một số chỉ thị và hướng dẫn cho những ai đang làm việc trong cánh đồng mênh mông của việc Phúc âm hoá tại Á Châu.

Các Chủ Chăn

43. Chính Chúa Thánh Thần là Đấng ban cho Giáo Hội khả năng hoàn thành sứ mạng Đức Kitô giao phó. Trước khi sai các môn đệ đi làm chứng nhân, Đức Giêsu ban cho họ Chúa Thánh Thần (x. Ga 20,22), Đấng đã hành động qua họ và đánh động con tim của những kẻ nghe họ (x. Cv 2,37). Cũng xảy ra như vậy đối với những kẻ Người sai đi ngày hôm nay. Một mặt, tất cả những ai đã lãnh bí tích Rửa Tội, do chính ân sủng của bí tích, đã được đề cử dự phần vào việc tiếp tục sứ vụ cứu rỗi của Đức Kitô, và họ có khả năng làm công tác này chính vì tình yêu Thiên Chúa đã được đổ xuống tâm hồn họ nhờ Chúa Thánh Thần mà Người ban cho họ (Rm 5,5). Nhưng mặt khác, sứ vụ chung này được chu toàn nhờ sự đa dạng của nhiều chức năng và đoàn sủng đặc biệt trong Giáo Hội. Trách nhiệm chính yếu để thực hành sứ vụ của Giáo Hội được Đức Kitô giao phó cho các Tông Đồ và những người kế vị các ngài. Do việc truyền chức Giám Mục và do sự hiệp thông phẩm trật với Vị đứng đầu Giám Mục đoàn, các Giám Mục lãnh nhận sự ủy thác và quyền bính để giảng dạy, cai quản và thánh hoá Dân Chúa. Do ý muốn của chính Đức Kitô, Đấng kế vị thánh Phêrô -tảng đá mà trên đó Giáo Hội được xây dựng (x. Mt 16,18)- thực thi sứ vụ đặc biệt là hiệp nhất bên trong Giám mục đoàn. Do đó, các Giám Mục phải chu toàn thừa tác vụ của mình trong sự hiệp nhất với Đấng Kế Vị thánh Phêrô, người bảo đảm chân lý của giáo huấn của các ngài và sự hiệp thông trọn vẹn của các ngài trong Giáo Hội.

Liên kết với các Giám Mục trong công việc loan báo Tin Mừng, các Linh mục được kêu gọi, qua việc truyền chức, trở nên mục tử của đoàn chiên, người rao giảng Tin Mừng cứu độ và thừa tác viên các bí tích. Để phục vụ Giáo Hội như Đức Kitô muốn, các Giám Mục và Linh mục cần được đào tạo vững chắc và liên tục, sự đào tạo đó sẽ cung cấp những thuận lợi để canh tân về mặt nhân bản, thiêng liêng và mục vụ, cũng như liệu cho có các khoá thần học, thiêng liêng và các khoa học nhân văn (208). Dân chúng tại Á Châu cần khám phá nơi hàng giáo sĩ không chỉ là những người chuyên lo việc bác ái hoặc những người quản trị cơ chế, nhưng những con người mà tâm trí hướng về những gì thâm sâu của Thần Khí (x. Rm 8,5). Lòng tôn kính mà các dân tộc Á Châu dành cho những kẻ nắm giữ quyền bính, cần đi đôi với sự liêm chính đạo đức rõ nét nơi những người có trách nhiệm thừa tác trong Giáo Hội. Nhờ có đời sống cầu nguyện, sự nhiệt thành phục vụ và cách sống gương mẫu, hàng giáo sĩ làm chứng hùng hồn cho Tin Mừng trong các cộng đoàn họ chăn dắt nhân danh Đức Kitô. Tôi thiết tha cầu nguyện để những thừa tác viên có chức thánh của Giáo hội tại Á Châu sống và làm việc trong một tinh thần hiệp thông và cộng tác với các Giám mục và mọi tín hữu, bằng cách làm chứng cho tình yêu mà Đức Giêsu đã công bố là dấu chỉ đích thực các môn đệ Người (x. Ga 13,35).

Đặc biệt tôi muốn nhấn mạnh đến quan tâm của Thượng Hội Đồng về việc chuẩn bị những người linh hoạt và dạy dỗ trong các chủng viện và các phân khoa thần học (209). Sau khi được đào tạo nghiêm chỉnh về các môn khoa học thánh và những môn học liên hệ, các vị đó phải được đào tạo cách đặc biệt về linh đạo linh mục, nghệ thuật linh hướng, và các phương diện khác của công tác khó khăn và tế nhị đang chờ đợi các vị trong việc giáo dục các linh mục tương lai. Đây là một công tác tông đồ quan trọng nhất vì lợi ích và sức sống của Giáo Hội.

Đời Sống Thánh Hiến Và Các Hội Truyền giáo

44. Trong Tông Thư Hậu Thượng Hội Đồng Vita Consecrata, tôi đã nhấn mạnh tới sự liên kết mật thiết giữa đời sống thánh hiến và sứ mạng truyền giáo. Qua ba khía cạnh của nó là tuyên xưng Ba Ngôi, dấu chỉ tình huynh đệ và phục vụ bác ái, đời sống thánh hiến tỏ bày tình yêu Thiên Chúa trong thế giới, qua chứng tá đặc biệt của nó về sứ vụ cứu rỗi mà Đức Giêsu hoàn thành bằng cách hiến thánh mình hoàn toàn cho Chúa Cha. Nhìn nhận rằng mọi hành động trong Giáo Hội tìm được sự nâng đỡ trong kinh nguyện và hiệp thông với Thiên Chúa, với lòng tôn kính và ngưỡng mộ sâu xa, Giáo Hội tại Á Châu xem các cộng đoàn tu trì sống đời chiêm ngưỡng như là nguồn mạch đặc biệt ban sức mạnh và soi sáng. Dựa theo những đề nghị của các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, tôi đặc biệt khuyến khích việc thiết lập những cộng đoàn đan tu và chiêm ngưỡng, nơi nào có thể được. Bằng cách thức ấy, như Công đồng Vatican II nhắc nhở chúng ta, việc xây dựng xã hội trần thế luôn đặt nền móng nơi Chúa và luôn hướng về Người, kẻo những kẻ xây dựng xã hội trần thế lại lao động cách luống công (210).

Sự tìm kiếm Chúa, một đời sống hiệp thông huynh đệ, và việc phục vụ kẻ khác, là ba đặc tính chủ yếu của đời sống thánh hiến, có khả năng trao tặng một chứng tá Kitô giáo hấp dẫn đối với các dân tộc Á Châu ngày nay. Hội Nghị Đặc Biệt về Á Châu thúc giục những người sống đời thánh hiến trở nên chứng nhân cho lời mời gọi mọi người nên thánh, và nên gương mẫu lôi cuốn những Kitô hữu và không Kitô hữu, về tình yêu quên mình cho mọi người, nhất là những kẻ bé nhỏ nhất trong anh chị em mình. Trong một thế giới mà cảm thức về sự hiện diện của Thiên Chúa thường bị giảm sút, những người thánh hiến cần phải nêu lên những chứng tá thuyết phục và có tính ngôn sứ về địa vị tối thượng của Thiên Chúa và của cuộc sống muôn đời. Sống trong cộng đoàn, họ làm chứng cho những giá trị của tình huynh đệ Kitô giáo và quyền năng biến đổi của Tin Mừng (211). Tất cả những ai dấn thân vào đời sống thánh hiến, đều được kêu gọi trở nên những người hướng dẫn trên con đường tìm kiếm Thiên Chúa, một sự tìm kiếm đã luôn luôn lay động con tim loài người và đặc biệt khả kiến dưới nhiều hình thức tu đức và khổ hạnh tại Á Châu (212). Trong nhiều truyền thống tôn giáo tại Á Châu, những người nam nữ hiến mình trong đời sống chiêm ngưỡng và khổ tu, rất được kính trọng, và chứng tá của họ có một khả năng thuyết phục đặc biệt. Cuộc đời của họ sống trong cộng đoàn, qua một chứng tá thầm lặng và an bình, có thể gợi hứng cho con người tạo nên một cuộc sống hoà hợp hơn trong xã hội. Người ta không mong chờ ít hơn nơi những người nam nữ thánh hiến trong truyền thống Kitô giáo. Gương âm thầm của họ về sự nghèo khó và bỏ mình, về sự khiết tịnh và chân thành, về sự từ bỏ mình trong vâng phục, có thể trở nên một chứng tá hùng hồn có khả năng đánh động mọi người thiện chí và đưa tới một đối thoại mang lại kết quả với các nền văn hoá và tôn giáo xung quanh, và với người nghèo cùng với kẻ không thể tự vệ. Điều đó làm cho đời sống thánh hiến trở nên một phương tiện đặc biệt để rao giảng Tin Mừng cho hữu hiệu (213).

Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhìn nhận vai trò sinh động của các Dòng Tu và Tu Hội, của những Hội truyền giáo và những Hội đời sống tông đồ trong việc rao giảng Tin Mừng tại Á Châu các thế kỷ qua. Vì sự đóng góp vĩ đại này của họ, Thượng Hội Đồng tỏ bày với họ lòng biết ơn của Giáo Hội và thúc giục họ không nao núng trong dấn thân truyền giáo của ho. (214). Tôi hiệp ý với các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng mà kêu gọi những người sống đời thánh hiến, canh tân sự nhiệt thành của họ trong việc loan báo chân lý cứu độ của Đức Kitô. Tất cả phải được huấn luyện và đào tạo xứng hợp; nền huấn luyện này cần tập trung vào Đức Kitô và trung thành với đoàn sủng nền tảng của họ, nhấn mạnh đến sự thánh thiện và chứng tá cá nhân; tu đức và kiểu sống của họ phải nhạy cảm với gia sản tôn giáo của dân tộc mà họ đang sống và phục vụ (215). Tuy vẫn tôn trọng đoàn sủng riêng của họ, họ phải hoà nhập trong chương trình mục vụ của Giáo Phận nơi họ làm việc. Về phần mình, các Giáo Hội địa phương cần đẩy mạnh sự hiểu biết về lý tưởng của các tu sĩ và đời sống thánh hiến, và cổ võ những ơn gọi đó. Điều này đòi hỏi mỗi giáo phận phải lập ra một chương trình mục vụ cho ơn gọi, gồm có việc chỉ định các Linh mục và tu sĩ làm việc toàn thời gian giữa giới trẻ để giúp họ lắng nghe và nhận định tiếng gọi của Chúa (216).

Trong bối cảnh hiệp thông của Giáo Hội toàn cầu, tôi không thể không thúc giục Giáo Hội tại Á Châu cử đi các vị thừa sai, mặc dầu chính họ cũng cần những người thợ làm việc trong vườn nho. Tôi vui mừng thấy trong nhiều nước Á Châu, những hội Thừa sai sống đời sống tông đồ mới được thành lập; điều đó chứng tỏ rằng đặc tính truyền giáo của Giáo Hội được nhìn nhận và các Giáo Hội địa phương tại Á Châu ý thức đến trách nhiệm phải rao giảng Tin Mừng cho toàn thế giới (217). Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng khuyến khích “trong mỗi Giáo Hội địa phương tại Á Châu nơi nào chưa có, nên thành lập những Hội Thừa Sai sống đời sống tông đồ, với đặc tính là dấn thân cách đặc biệt lo việc truyền giáo ad gentes, ad exteros và ad vitam” (218). Một sáng kiến như thế chắc chắn mang lại kết quả phong phú, không những cho các Giáo Hội đón nhận các vị thừa sai, nhưng còn cho những Giáo Hội sai họ đi.

Người Giáo Dân

45. Như Công đồng Vatican II chỉ rõ, ơn gọi của người giáo dân đặt họ hoàn toàn vào trong thế gian, để họ chu toàn những công tác đa dạng nhất, và chính nơi đây mà họ được mời gọi truyền bá Tin Mừng Đức Giêsu Kitô (219). Do ân sủng và ơn gọi do bí tích Rửa Tội và Thêm sức, tất cả giáo dân là thừa sai; và sân khấu hoạt động tông đồ của họ là thế giới mênh mông và phức tạp, gồm có chính trị, kinh tế, kỹ nghệ, giáo dục, truyền thông, khoa học, kỹ thuật và thể thao. Trong nhiều nước tại Á Châu, người giáo dân đã phục vụ như những nhà truyền giáo thực thụ, tiếp xúc những người bạn Á Châu, những người có lẽ chưa bao giờ gặp được hàng giáo sĩ và tu sĩ (220). Tôi thay mặt toàn thể Giáo Hội bày tỏ lòng biết ơn với họ, và tôi khuyến khích tất cả những người giáo dân nhận lấy vai trò riêng của mình trong đời sống và sứ mạng của Dân Chúa, như là những chứng nhân cho Đức Kitô ở bất cứ nơi nào họ hiện diện.

Bổn phận của các vị Chủ Chăn là bảo đảm cho người giáo dân được huấn luyện thành người rao giảng Tin Mừng, có khả năng đương đầu với các thách thức của thế giới ngày nay, không phải với sự khôn ngoan và hiệu năng thế gian, nhưng với tâm hồn được đổi mới và được vững mạnh bằng chân lý Đức Kitô (221). Khi làm chứng cho Tin Mừng trong mọi lãnh vực của đời sống xã hội, người giáo dân có thể đóng vai duy nhất trong việc nhổ tận gốc sự bất công và áp bức, và để làm được vậy họ phải được huấn luyện cách thích hợp. Để đạt tới mục đích đó, tôi hiệp ý với các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng mà đề nghị thiết lập, ở cấp giáo phận hay quốc gia, những trung tâm huấn luyện người giáo dân, để chuẩn bị người giáo dân thi hành công tác truyền giáo của họ như những chứng nhân cho Đức Kitô tại Á Châu ngày nay (222).

Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng quan tâm hơn hết đến sự kiện Giáo Hội phải là một Giáo Hội cho mọi người tham gia, nơi đây không một ai bị loại trừ, và các ngài xét rằng sự tham gia rộng rãi hơn của người nữ trong đời sống và sứ mạng của Giáo Hội tại Á Châu, là một nhu cầu thúc bách cách đặc biệt. “Người nữ có khả năng hết sức đặc biệt trong việc chuyển trao đức tin, đến nỗi chính Đức Giêsu kêu gọi tới khả năng đó trong việc rao giảng Tin Mừng. Đó là điều đã xảy ra với người phụ nữ xứ Samari mà Đức Giêsu gặp tại giếng nước Giacóp: Chúa chọn bà để phổ biến, lần đầu tiên, đức tin mới trong vùng đất không phải là Do Thái” (223). Để nâng cao việc phục vụ của họ trong Giáo Hội, phải tạo ra nhiều điều kiện thuận tiện hơn cho người nữ theo học những khoá thần học và những lãnh vực khác; và người nam trong các chủng viện hay các cơ sở đào tạo cần được dạy cho biết nhìn người nữ như là những người cộng tác trong việc tông đồ (224). Phải để người nữ tham gia, cách hiệu quả hơn, vào các chương trình mục vụ, những Hội Đồng Mục Vụ cấp giáo phận và giáo xứ, và các Thượng Hội Đồng giáo phận. Những khả năng và phục vụ của người nữ trong lãnh vực chăm sóc sức khỏe, giáo dục, chuẩn bị người tín hữu nhận lãnh các bí tích, xây dựng cộng đồng và kiến tạo hoà bình cần được nhìn nhận đầy đủ hơn. Như các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng ghi nhận, sự hiện diện của người nữ trong sứ vụ tình yêu và phục vụ của Giáo Hội, góp phần to lớn để đem Đức Giêsu hay thương xót, Đấng chữa lành và hoà giải, đến với dân Á Châu, đặc biệt là đối với người nghèo và người bị loại trừ (225).

Gia Đình

46. Gia đình là chỗ bình thường để giới trẻ lớn lên tới độ trưởng thành cá nhân và xã hội. Gia đình còn là nơi mang lấy gia sản nhân loại, bởi vì nhờ gia đình mà sự sống truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Gia đình chiếm một chỗ rất quan trọng trong nền văn hoá Á Châu; và, như các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng ghi nhận, các giá trị gia đình như lòøng hiếu thảo, tình yêu và sự chăm sóc người già cả và bệnh hoạn, tình yêu đối với trẻ nhỏ và sự hài hoà, rất được quý trọng trong mọi nền văn hoá và truyền thống tôn giáo Á Châu.

Theo cái nhìn kitô giáo, gia đình là “Giáo Hội tại gia” (226). Gia đình kitô hữu, cũng như Giáo Hội xét chung, phải là một nơi mà chân lý Tin Mừng là luật sống và là ân huệ mà các thành viên trong gia đình mang đến cho cộng đồng rộng lớn hơn. Gia đình không đơn thuần là đối tượng chăm sóc mục vụ của Giáo Hội, gia đình còn là một trong những thành viên hữu hiệu nhất của việc rao giảng Tin Mừng. Các gia đình Kitô hữu ngày nay được kêu gọi làm chứng cho Tin Mừng trong những thời gian và hoàn cảnh khó khăn, khi chính gia đình bị một loạt những quyền lực đe dọa (227). Muốn trở nên tác nhân rao giảng Tin Mừng trong một giai đoạn như thế, gia đình Kitô hữu cần phải trở nên thật sự là “Giáo Hội tại gia”, sống ơn gọi Kitô hữu cách khiêm tốn và trong tình yêu.

Như các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng chỉ rõ, điều này có nghĩa là gia đình phải tham gia cách tích cực vào đời sống giáo xứ, chia sẻ các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể và bí tích Sám Hối, và dấn thân phục vụ kẻ khác. Điều đó cũng có nghĩa là cha mẹ phải cố gắng làm sao, trong những khi gia đình tụ tập lại, có thời gian để cầu nguyện, đọc và suy niệm Kinh Thánh, cử hành những nghi lễ xứng hợp do cha mẹ chủ sự, và có những giải trí lành mạnh. Điều đó sẽ giúp gia đình Kitô hữu trở nên trung tâm của việc Phúc âm hoá, nơi mà mỗi thành viên cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa và truyền nó sang cho kẻ khác (228). Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cũng nhìn nhận các trẻ em có vai trò trong việc Phúc âm hoá, vừa ở gia đình của chúng vừa ở trong cộng đồng rộng lớn hơn (229). Vì xác tín “tương lai thế giới và Giáo Hội thông qua gia đình” (230), một lần nữa tôi đề nghị nên học hỏi và đem ra áp dụng những gì tôi đã viết về chủ đề gia đình trong Tông Thư Familiaris Consortio, được ban hành sau Đại Hội khoáng đại thường kỳ của Thượng Hội Đồng các Giám Mục năm 1980.

Giới Trẻ

47. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đặc biệt nhạy cảm với chủ đề giới trẻ trong Giáo Hội. Nhiều vấn đề phức tạp mà giới trẻ bây giờ đang đương đầu, trong thế giới Á Châu đang đổi thay, thúc giục Giáo Hội nhắc giới trẻ nhớ đến trách nhiệm đối với tương lai của xã hội và Giáo Hội, khuyến khích và nâng đỡ giới trẻ ở mọi giai đoạn để bảo đảm rằng họ đã saün sàng đón nhận trách nhiệm này. Giáo Hội trao ban cho giới trẻ chân lý Tin Mừng như là một mầu nhiệm đem lại niềm vui và giải phóng; mầu nhiệm mà họ phải học hỏi, sống và chia sẻ với niềm xác tín và can đảm.

Nếu giới trẻ phải trở nên những tác nhân hữu hiệu của việc truyền giáo, thì Giáo Hội cần cung ứng cho họ sự chăm sóc mục vụ xứng hợp (231). Đồng ý với các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, tôi khuyên bảo rằng, nơi nào có thể, mỗi giáo phận tại Á Châu phải chỉ định các tuyên úy giới trẻ hay lãnh đạo, để cổ võ việc huấn luyện thiêng liêng và việc tông đồ của giới trẻ. Các trường công giáo và các giáo xứ giữ vai trò trọng yếu trong việc cung ứng nền huấn luyện toàn diện cho giới trẻ, bằng cách tìm phương thế hướng dẫn chúng trên con đường làm môn đệ thật sự và làm phát huy nơi chúng những đức tính nhân bản mà sứ vụ đòi hỏi. Những tổ chức tông đồ giới trẻ và những câu lạc bộ giới trẻ có thể là nơi thuận tiện để cảm nghiệm tình bạn kitô hữu, rất quan trọng đối với người trẻ. Giáo xứ, các hội đoàn và các phong trào có thể giúp người trẻ đối diện tốt hơn với những áp lực xã hội, bằng cách trao tặng cho họ không những khả năng tăng trưởng đến một đời sống kitô hữu trưởng thành hơn, mà còn giúp họ dưới hình thức hướng nghiệp, đào tạo về ơn gọi và cố vấn cho giới trẻ.

Trong việc huấn luyện Kitô hữu cho giới trẻ tại Á Châu, phải nhìn nhận rằng giới trẻ không những là đối tượng của việc chăm sóc mục vụ của Giáo Hội, mà còn là “những tác nhân và cộng tác viên trong sứ mệnh của Giáo Hội qua các việc tông đồ đa dạng của Giáo Hội nhằm yêu thương và phục vụ” (232). Do đó, trong các giáo xứ và giáo phận, người trẻ và phụ nữ phải được mời gọi tham gia vào việc tổ chức các hoạt động có liên can tới họ. Sự tươi trẻ và lòng hăng say, tinh thần liên đới và niềm hy vọng của họ, có thể biến họ thành những người kiến tạo hoà bình trong một thế giới chia rẽ; và, trên phương diện này, điều đáng khích lệ là thấy giới trẻ dấn thân vào những chương trình trao đổi giữa các Giáo Hội địa phương và những quốc gia tại Á Châu và bất cứ nơi nào đang cổ võ sự đối thoại liên tôn và liên văn hoá.

Truyền Thông Xã Hội

48. Trong thời đại toàn cầu hoá, “những phương tiện truyền thông xã hội đã trở nên quan trọng đến nỗi đối với nhiều người, nó trở thành những phương tiện chính để thông tin và giáo dục, hướng dẫn và tác động trên cách cư xử cá nhân, gia đình và xã hội. Đặc biệt, giới trẻ đang lớn lên trong một thế giới bị điều kiện hoá bởi truyền thông đại chúng” (233). Ta thấy xuất hiện trên thế giới một nền văn hoá mới “xuất phát từ sự kiện có những cách thức thông tin mới, với ngôn ngữ mới, kỹ thuật mới và tâm lý mới” (234). Vai trò đặc biệt mà các phương tiện truyền thông xã hội nắm giữ trong việc hình thành thế giới, các nền văn hoá và những cách suy nghĩ của nó, đã đưa tới những thay đổi mau lẹ và lan rộng trong các xã hội tại Á Châu.

Chắc chắn, sứ mạng rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội cũng chịu ảnh hưởng sâu xa do tác động của truyền thông đại chúng. Bởi vì truyền thông đại chúng có một ảnh hưởng càng ngày càng lớn mạnh tại Á Châu dẫu cả ở những vùng xa xôi, nó có thể góp phần rất lớn vào việc rao giảng Tin Mừng cho mọi hang cùng ngõ hẽm của lục địa. Tuy nhiên, “việc dùng truyền thông để phổ biến sứ điệp Kitô giáo và giáo huấn đích thực của Giáo Hội thì chưa đủ. Cần phải hội nhập sứ điệp này vào trong ‘văn hoá mới’ do những phương tiện truyền thông hiện đại tạo ra” (235). Để đạt được mục đích này, Giáo Hội cần khám phá những cách thế hội nhập hoàn toàn truyền thông đại chúng vào kế hoạch và hoạt động mục vụ của mình, để nhờ cách dùng hiệu năng của chúng, quyền năng của Tin Mừng có thể tác động tới các cá nhân và toàn bộ các dân tộc, và những giá trị Nước Trời thấm nhập vào các nền văn hoá Á Châu.

Tôi muốn hợp lời tán dương của các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng về Đài Phát Thanh Chân lý Á Châu, đài phát thanh duy nhất có tầm lục địa cho Giáo Hội tại Á Châu, đã gần 30 năm phát thanh rao giảng Tin Mừng. Các Hội Đồng Giám Mục và các Giáo phận tại Á Châu cần phải củng cố khí cụ truyền giáo tuyệt hảo này, nhờ việc soạn thảo chương trình theo các ngôn ngữ cho xứng hợp, nhờ sự giúp đỡ nhân sự và tài chánh (236). Ngoài việc phát thanh, những nhà xuất bản và những cơ quan thông tin Công giáo có thể giúp phổ biến thông tin và cung ứng việc giáo dục và đào tạo tôn giáo thường xuyên trên khắp lục địa. Ở những nơi người Kitô hữu là thiểu số, những thứ đó có thể là phương tiện quan trọng để nâng đỡ và nuôi dưỡng một cảm thức về căn tính Công giáo và để phổ biến kiến thức về những nguyên tắc luân lý Công giáo (237).

Tôi hiệp ý với lời nhắn nhủ của các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng về việc Phúc âm hoá bằng các phương tiện truyền thông xã hội, là “arêôpagô của thời đại mới”, với hy vọng là chúng có thể giúp thăng tiến con người và loan truyền chân lý Đức Kitô cũng như giáo huấn của Giáo Hội (238). Thật là hữu ích nếu mỗi Giáo phận có thể thiết lập, nơi nào có thể, một văn phòng truyền thông đại chúng. Việc giáo dục về các phương tiện truyền thông, chứ không chỉ việc lượng giá về các sản phẩm của truyền thông, cần phải là một phần càng ngày càng gia tăng trong việc đào tạo linh mục, chủng sinh, tu sĩ, giáo lý viên, những chuyên viên giáo dân, những học sinh trong các trường Công giáo và các cộng đoàn giáo xứ. Xét vì ảnh hưởng sâu rộng và kỳ diệu của truyền thông xã hội, nên những người Công giáo cần làm việc với các thành viên của các Giáo Hội và Cộng Đồng Giáo Hội khác, và với những người theo các tôn giáo khác, để bảo đảm một chỗ đứng cho các giá trị thiêng liêng và luân lý trong các phương tiện truyền thông. Cùng với các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, tôi khuyến khích việc phát triển những chương trình mục vụ cho truyền thông ở cấp quốc gia và Giáo phận, tuân theo những chỉ dẫn của Huấn Thị Mục Vụ Aetatis Novae, với những quan tâm phù hợp với hoàn cảnh riêng của Á Châu.

Các Thánh Tử Đạo

49. Dù những chương trình đào tạo và các kế hoạch rao giảng Tin Mừng có quan trọng như thế nào đi nữa, cuối cùng thì việc tử đạo mới mạc khải cho thế giới thấy điều cốt yếu nhất của sứ điệp Kitô giáo. Từ “tử đạo” (martyr), có nghĩa là chứng tá, và những ai đã đổ máu mình vì Đức Kitô đã nêu lên chứng tá tột bực cho giá trị thật của Tin Mừng. Trong Sắc Chỉ ấn định Đại Năm Thánh 2000, Incarnationis Mysterium (Mầu nhiệm Nhập Thể), tôi đã nhấn mạnh sự kiện có tính cách thiết yếu là tưởng nhớ Các Thánh Tử đạo: “Đứng trên quan điểm tâm lý học, việc tử đạo là một bằng chứng hùng hồn nhất của chân lý đức tin, bởi vì đức tin có thể đem lại một gương mặt nhân bản cả cho cái chết tàn bạo nhất, và biểu lộ vẻ đẹp của nó ngay trong những cuộc bách hại khốc liệt nhất” (239). Qua các thời đại, Á Châu đã cung cấp cho Giáo Hội và thế giới một đoàn đông đảo các vị Anh Hùng Đức Tin, và từ con tim của Á Châu, trổi lên bài ca vĩ đại: Te martyrum candidatus laudat exercitus (đoàn tử đạo quang huy hùng dũng, máu đào đổ ra minh chứng về Ngài). Đó là bài ca của những vị đã chết vì Đức Kitô trên phần đất Á Châu trong các thế kỷ đầu của Giáo Hội, và đó cũng là tiếng kêu đầy vui mừng của những người nam và nữ của các thời gần đây, như thánh Phaolô Miki và các bạn tử đạo, thánh Lôrensô Ruiz và các bạn tử đạo, thánh Anrê Dũng Lạc và các bạn tử đạo, thánh Anrê Kim Taegon và các bạn tử đạo. Xin đoàn đông đảo Các Thánh Tử Đạo Á Châu xưa cũng như nay, không ngừng dạy dỗ Giáo Hội tại Á Châu biết thế nào là làm chứng cho Chiên Con mà các ngài đã giặt trắng áo trong máu của Người (x. Kh 7,14). Ưùớc chi các ngài luôn là những chứng nhân bất khuất cho chân lý này, là các Kitô hữu được kêu gọi, luôn luôn và mọi nơi, loan báo không điều gì khác ngoài quyền lực của Thánh Giá Chúa! Và xin cho máu Các Thánh Tử Đạo Á Châu, bây giờ cũng như mãi mãi, là hạt giống sinh sự sống mới cho Giáo Hội tại mọi hang cùng ngõ hẻm của lục địa!

KẾT THÚC

Lời Cám Ơn Và Khuyến Khích

50. Các anh chị em Á Châu thân mến, cuối Tông Thư Hậu Thượng Hội Đồng này, với mục đích biện phân Lời Của Thần Khí cho Giáo Hội tại Á Châu (x. Kh 1,11), và nêu lên những hoa quả của Hội Nghị Đặc Biệt về Á Châu của Thượng Hội Đồng các Giám Mục, tôi muốn tỏ bày lòng biết ơn đối với tất cả những người đã góp phần nào đó vào sự thành công của biến cố quan trọng này của Giáo Hội. Trước hết và hơn hết, một lần nữa, chúng ta tạ ơn Thiên Chúa vì sự phong phú của các nền văn hoá, ngôn ngữ, truyền thống và cảm thức tôn giáo tại đại lục này. Chúc tụng Thiên Chúa vì các dân tộc Á Châu, thật phong phú trong sự đa dạng, nhưng lại hiệp nhất trong niềm khát khao hoà bình và sự sống viên mãn. Cách riêng, ngày hôm nay, khi gần ngày kỷ niệm Sinh Nhật lần thứ 2000 của Đức Giêsu Kitô, chúng ta cảm tạ Thiên Chúa vì đã chọn Á Châu làm nơi trú ngụ trần thế cho Người Con Nhập Thể, Đấng Cứu Độ trần gian.

Tôi không thể không diễn tả lòng ngưỡng mộ của tôi đối với các Giám Mục Á Châu, vì lòng yêu mến sâu sa của các Ngài đối với Đức Giêsu Kitô, Giáo Hội và các dân tộc Á Châu, và vì chứng tá hiệp thông và dâng hiến quảng đại của các ngài trong công tác rao giảng Tin Mừng. Tôi cám ơn tất cả những ai họp thành đại gia đình của Giáo Hội tại Á Châu: hàng giáo sĩ, các nam nữ tu sĩ và những người được thánh hiến khác, các nhà truyền giáo, các giáo dân, các gia đình, giới trẻ, dân bản xứ, những công nhân, những người nghèo và khốn cực. Tận đáy lòng tôi có một chỗ đặc biệt dành cho những người bị bắt bớ vì lòng tin vào Đức Kitô. Họ là những trụ cột ẩn khuất của Giáo Hội. Chính Đức Giêsu nói những lời đầy an ủi nầy với họ: “Anh em được chúc phúc trong Nước Trời” (x. Mt 5,10).

Những lời nói của Đức Giêsu khích lệ Giáo Hội tại Á Châu: “Hỡi đoàn chiên bé nhỏ, đừng sợ, vì Cha anh em đã vui lòng ban Nước của Người cho anh em” (Lc 12,32). Những kẻ tin vào Đức Kitô vẫn là một thiểu số bé nhỏ trong lục địa mênh mông và đông dân nhất này. Nhưng không phải là một thiểu số nhút nhát, họ có một đức tin sống động, họ tràn đầy hy vọng và sức sống mà duy chỉ tình yêu mới có thể mang lại. Qua lối sống khiêm tốn nhưng can đảm của họ, họ đã gây ảnh hưởng đến các nền văn hoá và các xã hội tại Á Châu, cách riêng đến cuộc sống của kẻ nghèo và không ai giúp đỡ, nhiều người trong số này chưa được chia sẻ đức tin Công giáo. Họ là gương sáng cho tất cả Kitô hữu khắp nơi về thái độ saün sàng chia sẻ kho tàng Tin Mừng “lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện” (2 Tm 4,2). Họ tìm được sức mạnh trong quyền năng vô biên của Chúa Thánh Thần, nhờ Người mà, dẫu con số thành viên của Giáo Hội tại Á Châu chung chung rất nhỏ nhoi, sự hiện diện của Giáo Hội giống như chút men trộn vào khối bột, vẫn làm cho toàn khối dậy men một cách âm thầm và kín đáo (x. Mt 23,33).

Các dân tộc Á Châu cần đến Đức Giêsu Kitô và Tin Mừng của Người. Á Châu đang khao khát nước hằng sống mà chỉ một mình Đức Giêsu có thể ban phát cho (x. Ga 4,10-15). Vì thế, các môn đệ Đức Kitô tại Á Châu phải quảng đại trong nỗ lực chu toàn sứ mạng họ đã lãnh nhận từ Chúa, Đấng đã hứa ở với họ cho tới tận thế (x. Mt 28,20). Với hết lòng tin tưởng vào Chúa, Đấng không bao giờ bỏ rơi những kẻ Người kêu gọi, Giáo Hội tại Á Châu vui vẻ làm cuộc hành trình tiến vào ngàn năm thư ba. Niềm vui duy nhất của Giáo Hội là niềm vui xuất phát từ sự chia sẻ với đông đảo các dân tộc Á Châu, ân huệ vô biên mà Giáo Hội đã lãnh nhận -tình yêu của Đức Giêsu Cứu Thế. Tham vọng duy nhất của Giáo Hội là tiếp tục sứ mạng phục vụ và yêu thương của mình, để tất cả mọi người Á Châu “có được sự sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).

Lời Cầu Nguyện Với Mẹ Đức Kitô

51. Đối diện với sứ mạng đầy thách đố như thế, chúng ta hướng về Đức Maria, Đấng mà như các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã nói, các Kitô hữu Á Châu rất yêu mến và thiết tha, tôn kính Người như là Mẹ mình và là Mẹ Đức Kitô (240). Khắp nơi tại Á Châu, có hàng trăm thánh đường và đền thờ kính Đức Maria, nơi đó tụ họp không những người Công giáo, mà còn các người theo các tôn giáo khác nữa.

Trước ngưỡng cửa ngàn năm thứ ba của kỷ nguyên Kitô giáo, tôi phó thác Giáo Hội tại Á Châu cho Đức Maria, gương mẫu của tất cả các môn đệ và là Ngôi Sao Sáng của việc Phúc âm hoá, tuyệt đối tin rằng đôi tai của Ngài là đôi tai luôn lắng nghe, quả tim của Ngài là quả tim luôn đón tiếp, và lời cầu của Ngài là lời cầu không bao giờ không được đáp ứng:

Lạy Đức Maria Rất Thánh, Nữ Tử của Thiên Chúa Tối Cao,
Mẹ Đồng Trinh của Đấng Cứu Thế
và Mẹ của tất cả chúng con
xin Mẹ âu yếm nhìn đến Giáo Hội của Con Mẹ
được gieo trồng trên mảnh đất Á Châu.
Xin Mẹ làm người hướng dẫn và mẫu gương cho Giáo Hội
khi Giáo hội tiếp tục sứ mạng của Con Mẹ,
sứ mạng tình yêu và phục vụ tại Á Châu.

Mẹ đã chấp nhận cách hoàn toàn và tự do
tiếng gọi của Chúa Cha để làm Mẹ Thiên Chúa;
xin dạy chúng con loại bỏ ra khỏi lòng chúng con
tất cả những gì không thuộc về Chúa,
để chúng con cũng được tràn đầy
Chúa Thánh Thần từ trời cao.
Mẹ suy niệm các mầu nhiệm của thánh ý Chúa
trong tĩnh lặng của lòng Mẹ;
xin giúp chúng con trong cuộc hành trình
biết biện biệt những dấu chỉ của bàn tay uy quyền của Chúa.
Mẹ đã mau mắn đi thăm viếng bà Elizabeth
và giúp bà trong những ngày chờ đợi của bà;
xin cầu cho chúng con
cũng được một tinh thần sốt mến và phục vụ
trong sứ mạng rao giảng Tin Mừng của chúng con.
Mẹ đã hát bài ngợi khen Chúa;
xin dẫn dắt chúng con
biết hân hoan loan báo niềm tin vào Đức Kitô,
Đấng Cứu Độ chúng con.
Mẹ đã xót thương những kẻ thiếu thốn
và nói với Con Mẹ giùm cho họ;
xin dạy chúng con đừng bao giờ e sợ
phải nói về thế giới cho Đức Giêsu
và phải nói về Đức Giêsu cho thế giới.
Mẹ đứng dưới chân Thánh Giá
khi Con Mẹ thở hơi cuối cùng;
xin Mẹ ở với chúng con
khi chúng con tìm cách nên một
trong tinh thần và trong phục vụ
với tất cả những ai đau khổ.
Mẹ đã cầu nguyện với các môn đệ trên Lầu Cao;
xin giúp chúng con biết trông chờ Thần Khí
và đi tới nơi nào Thần Khí hướng dẫn chúng con.

Xin bảo vệ Giáo Hội khỏi mọi quyền lực
đang đe doạ Giáo Hội.
Xin giúp Giáo Hội trở nên một hình ảnh đích thực
của Chúa Ba Ngôi Chí Thánh.
Xin cầu giúp nguyện thay
để nhờ tình yêu và phục vụ của Giáo Hội
tất cả các dân tộc Á Châu có thể biết Con của Mẹ,
Đức Giêsu Kitô,
Đấng Cứu Độ duy nhất của thế giới,
và hưởng nếm niềm vui sự sống viên mãn.

Ôi Maria, Mẹ của Thọ Tạo Mới
và Mẹ của Á Châu,
xin cầu cho chúng con là con cái Mẹ,
bây giờ và mãi mãi!

(Ban hành tại New Delhi, Ấn Độ, ngày 6/11/1999
năm thứ 22 Triều Giáo Hoàng của TA)

CHÚ THÍCH:

(1) John Paul II, Address to the Sixth Plenary Assembly of the Federation of Asian Bishops’ Conferences (FABC), Manila (15 January 1995), 11: Insegnamenti XVIII, 1 (1995), 159.

(2) Apostolic Letter Tertio Millennio Adveniente (10 November 1994), 38: AAS 87 (1995), 30.

(3) No. 11: Insegnamenti XVIII, 1 (1995), 159.

(4) John Paul II, Apostolic Letter Tertio Millennio Adveniente (10 November 1994), 38: AAS 87 (1995), 30.

(5) Cf. Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Nuntius (Final Message), 2.

(6) Address to the Sixth Plenary Assembly of the Federation of Asian Bishops’ Conferences (FABC), Manila (15 January 1995), 10: Insegnamenti XVIII, 1 (1995), 159.

(7) John Paul II, Letter Concerning Pilgrimage to the Places Linked to the History of Salvation (29 June 1999), 3: L’Osservatore Romano (30 June – 1 July 1999), 8.

(8) Cf. Propositio 3.

(9) Propositio 1.

(10) Cf. Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Lineamenta, 3.

(11) Cf. ibid.

(12) Cf. Propositio 32.

(13) Cf. Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Instrumentum Laboris, 9.

(14) Cf. Propositiones 36 and 50.

(15) Propositio 44.

(16) Propositio 27.

(17) Cf. Propositio 45.

(18) Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Instrumentum Laboris, 9.

(19) Cf. Propositio 39.

(20) Propositio 35.

(21) Cf. Propositio 38.

(22) Cf. Propositio 22.

(23) Cf. Propositio 52.

(24) Cf. Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Lineamenta, 6.

(25) Cf. Propositio 56.

(26) John Paul II, Apostolic Letter Tertio Millennio Adveniente (10 November 1994), 18: AAS 87 (1995), 16.

(27) Cf. Propositio 29.

(28) Cf. Propositiones 29 and 31.

(29) Propositio 51.

(30) Cf. Propositiones 51, 52 and 53.

(31) Propositio 57.

(32) Cf. ibid.

(33) Propositio 54.

(34) No. 3: AAS 83 (1991), 252.

(35) Cf. Propositio 5.

(36) Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Relatio ante disceptationem: L’Osservatore Romano (22 April 1998), 5.

(37) Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Relatio post disceptationem, 3.

(38) Propositio 8.

(39) No. 11: AAS 83 (1991), 260.

(40) Ibid.

(41) Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Relatio post disceptationem, 3.

(42) Roman Missal: Eucharistic Prayer I for Masses of Reconciliation.

(43) John Paul II, Encyclical Letter Redemptor Hominis (4 March 1979), 10: AAS 71 (1979), 274.

(44) Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 22.

(45) No. 9: AAS 71 (1979), 272f.

(46) Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Relatio post disceptationem, 3.

(47) Cf. ibid.

(48) Ibid.

(49) Propositio 5.

(50) John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 6: AAS 83 (1991), 255.

(51) John Paul II, Encyclical Letter Redemptor Hominis (4 March 1979), 7: AAS 71 (1979), 269.

(52) Cf. John Paul II, Encyclical Letter Dominum et Vivificantem (18 May 1986), 54: AAS 78 (1986), 875.

(53) Cf. ibid., 59: loc. cit., 885.

(54) John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 28: AAS 83 (1991), 274; cf. Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 26.

(55) Cf. Propositio 11; Second Vatican Ecumenical Council, Decree on the Missionary Activity of the Church Ad Gentes, 4 and 15; Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 17; Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 11, 22 and 38; John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 28: AAS 83 (1991), 273f.

(56) Cf. Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Relatio ante disceptationem: L’Osservatore Romano (22 April 1998), 5.

(57) John Paul II, Encyclical Letter Dominum et Vivificantem, (18 May 1986), 50: AAS 78 (1986), 870; cf. Saint Thomas Aquinas, Summa Theologiae, III, 2, 10-12; 6, 6; 7, 13.

(58) Cf. John Paul II, Encyclical Letter Dominum et Vivificantem (18 May 1986), 50: AAS 78 (1986), 870.

(59) Cf. ibid., 24: loc. cit., 832.

(60) Cf. John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 28: AAS 83 (1991), 274.

(61) No. 29: AAS 83 (1991), 275; cf. Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 45.

(62) Cf. John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 29: AAS 83 (1991), 275.

(63) Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 13.

(64) Propositio 12.

(65) Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 17.

(66) Apostolic Exhortation Evangelii Nuntiandi (8 December 1975), 22: AAS 68 (1976), 20.

(67) Propositio 8.

(68) John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 45: AAS 83 (1991), 292.

(69) Cf. ibid., 46: loc.cit., 292f.

(70) Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Declaration on Religious Freedom Dignitatis Humanae, 3-4; John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 39: AAS 83 (1991), 287; Propositio 40.

(71) Paul VI, Apostolic Exhortation Evangelii Nuntiandi (8 December 1975), 53: AAS 68 (1976), 41f.

(72) Address to Representatives of Non-Christians Religions, Madras (5 February 1986), 2: AAS 78 (1986), 767.

(73) Cf. Propositiones 11 and 12; John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 28: AAS 83 (1991), 273f.

(74) Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Relatio ante disceptationem: L’Osservatore Romano (22 April 1998), 5.

(75) Propositio 58.

(76) Cf. John Paul II, Encyclical Letter Fides et Ratio (14 September 1998), 72: AAS 91 (1999), 61.

(77) Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Relatio post disceptationem, 15.

(78) Cf. ibid.

(79) Ibid.

(80) Propositio 6.

(81) Cf. Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Relatio post disceptationem, 6.

(82) Ibid.

(83) Cf. Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Relatio ante disceptationem: L’Osservatore Romano (22 April 1998), 5.

(84) Cf. Apostolic Exhortation Evangelii Nuntiandi (8 December 1975), 20: AAS 68 (1976), 18f.

(85) John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 52: AAS 83 (1991), 300.

(86) Cf. Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Relatio post disceptationem, 9.

(87) Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 22; John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 28: AAS 83 (1991), 273f.

(88) Cf. John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 56: AAS 83 (1991), 304.

(89) John Paul II, Homily at the Mass for the Catholics of West Bengal, Calcutta (4 February 1986), 3: Insegnamenti IX, 1 (1986), 314.

(90) Cf. Propositio 43.

(91) Cf. Propositio 7.

(92) Ibid.

(93) John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 54: AAS 83 (1991), 302.

(94) Cf. ibid.: loc. cit., 301.

(95) Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Constitution on the Sacred Liturgy Sacrosanctum Concilium, 10; Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Relatio post disceptationem, 14.

(96) Cf. Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Relatio post disceptationem, 14; Propositio 43.

(97) Cf. Propositio 43.

(98) Cf. Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Relatio post disceptationem, 13.

(99) Cf. Propositio 17.

(100) Cf. Propositio 18.

(101) Cf. Propositio 17.

(102) Nos. 60; 62; 105: AAS 91 (1999), 52f.; 54; 85f.

(103) Cf. Propositio 24.

(104) Cf. Propositio 25.

(105) Cf. ibid.

(106) Cf. Propositio 27.

(107) Cf. Propositio 29.

(108) Cf. Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 91: AAS 83 (1991), 338.

(109) Propositio 19.

(110) Propositio 8.

(111) Declaration on Religious Freedom Dignitatis Humanae, 2.

(112) Propositio 6.

(113) Saint Augustine, De Civitate Dei, XVIII, 51, 2: PL 41, 614; cf. Second Vatican Ecumenical Council, Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 8.

(114) Second Vatican Ecumenical Council, Decree on the Missionary Activity of the Church Ad Gentes, 7; cf. Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 17.

(115) Paul VI, Address to the College of Cardinals (22 June 1973): AAS 65 (1973), 391.

(116) John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Christifideles Laici (30 December 1988), 18: AAS 81 (1989), 421.

(117) Cf. ibid.; Second Vatican Ecumenical Council, Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 4.

(118) Cf. Catechism of the Catholic Church, 775.

(119) Cf. ibid.

(120) John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Christifideles Laici (30 December 1988), 32: AAS 81 (1989), 451f.

(121) Cf. Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 16.

(122) Propositio 13.

(123) Ibid.

(124) Cf. Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Relatio ante disceptationem: L’Osservatore Romano (22 April 1998), 6.

(125) Propositio 13; cf. Second Vatican Ecumenical Council, Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 22.

(126) Cf. Propositio 13.

(127) Cf. Propositio 15; Congregation for the Doctrine of the Faith, Letter to the Bishops of the Catholic Church on Some Aspects of the Church Understood as Communion Communionis Notio (28 May 1992), 3-10: AAS 85 (1993), 839-844.

(128) Cf. Propositio 15.

(129) Cf. ibid.

(130) Cf. Propositio 16.

(131) Propositio 34.

(132) Cf. Propositio 30; cf. John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 51: AAS 83 (1991), 298.

(133) Cf. Apostolic Exhortation Evangelii Nuntiandi (8 December 1975), 58: AAS 68 (1976), 46-49; John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio, 51: AAS 83 (1991), 299.

(134) Cf. Propositio 31.

(135) Cf. Propositio 14.

(136) Cf. Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Relatio ante disceptationem: L’Osservatore Romano (22 April 1998), 6.

(137) Cf. Propositio 50.

(138) Cf. Propositiones 36 and 50.

(139) Cf. John Paul II, Address to the Synod of Bishops of the Syro-Malabar Church (8 January 1996), 6: AAS 88 (1996), 41.

(140) Cf. Propositio 50.

(141) Cf. Propositio 56.

(142) Cf. Propositio 51.

(143) Cf. Propositio 52.

(144) Propositio 53.

(145) Cf. Propositio 57.

(146) Cf. Letter Concerning Pilgrimage to the Places Linked to the History of Salvation (29 June 1999), 7: L’Osservatore Romano (30 June – 1 July 1999), 9.

(147) AAS 56 (1964), 613.

(148) Cf. Propositio 42.

(149) Ibid.

(150) John Paul II, Address at the General Audience (26 July 1995), 4: Insegnamenti XVIII, 2 (1995), 138.

(151) Cf. John Paul II, Address at the General Audience (20 January 1982), 2: Insegnamenti V, 1 (1982), 162.

(152) Cf. No. 53: AAS 87 (1995), 37.

(153) Cf. John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 55: AAS 83 (1991), 302.

(154) Cf. ibid.: loc. cit., 304.

(155) No. 4: AAS 83 (1991), 101f.

(156) No. 56: AAS 83 (1991), 304.

(157) Propositio 41.

(158) Ibid.

(159) Cf. ibid.

(160) Cf. John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 57: AAS 83 (1991), 305.

(161) Cf. John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Vita Consecrata (25 March, 1996), 8: AAS 88 (1996), 383.

(162) Cf. John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis (30 December 1987), 47: AAS 80 (1988), 582.

(163) Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 1.

(164) Bằng nhiều cách, điểm khởi phát là Tông Thư Rerum Novarum của Đức Giáo Hoàng Lêô XIII (15/5/1891) đã dẫn tới một loạt tuyên bố chính thức của Giáo Hội về nhiều phương diện khác nhau của vấn đề xã hội. Giữa những tuyên bố này là Tông Thư Populorum Progressio (26/3/1967) mà Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã phổ biến để đáp ứng những giáo huấn của Công Đồng Vatican II và hoàn cảnh thay đổi của thế giới. Để kỷ niệm 20 năm ngày Tông Thư này được ban hành, tôi đã cho ra Tông Thư Sollicitudo Rei Socialis (30/12/1987), tiếp nối Giáo Huấn trước đây, tôi kêu mời tất cả các Kitô hữu hãy xem chính mình như được gọi để lãnh sứ mạng phục vụ, việc này cần thiết để thăng tiến sự phát triển con người toàn diện.

(165) John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis (30 December 1987), 41: AAS 80 (1988), 570f.

(166) Cf. Congregation for the Doctrine of the Faith, Instruction on Christian Freedom and Liberation Libertatis Conscientia (22 March 1986), 72: AAS 79 (1987), 586.

(167) Cf. Propositio 22.

(168) Cf. Propositio 21.

(169) Cf. John Paul II, Post Synodal Apostolic Exhortation Christifideles Laici (30 December 1988), 5: AAS 81 (1989), 400-402; Encyclical Letter Evangelium Vitae (25 March 1995), 18: AAS 87 (1995), 419f.

(170) Propositio 22; cf. Propositio 39.

(171) John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis (30 December 1987), 42: AAS 80 (1988), 573; cf. Congregation for the Doctrine of the Faith, Instruction on Christian Freedom and Liberation Libertatis Conscientia (22 March 1986), 68: AAS 79 (1987), 583.

(172) Cf. Propositio 44.

(173) Cf. ibid.

(174) Cf. Propositio 39.

(175) Cf. Propositio 22.

(176) Cf. Propositio 36.

(177) Cf. Propositio 38.

(178) Cf. ibid.

(179) Cf. Propositio 33.

(180) Cf. ibid.

(181) Cf. Propositio 35.

(182) Cf. ibid.

(183) Propositio 32.

(184) Cf. John Paul II, Apostolic Letter Salvifici Doloris (11 February 1984), 28-29: AAS 76 (1984), 242-244.

(185) Cf. Propositio 20.

(186) Cf. ibid.

(187) Cf. Propositio 21.

(188) Cf. ibid.

(189) Cf. ibid.

(190) Cf. Propositio 23.

(191) Cf. ibid.

(192) Cf. Propositio 55.

(193) Cf. Propositio 49.

(194) John Paul II, Message for the World Day of Peace (1 January 1998), 3: AAS 90 (1998), 50.

(195) Cf. Propositio 49.

(196) Cf. Propositio 48.

(197) Cf. ibid.; John Paul II, Apostolic Letter Tertio Millennio Adveniente (10 November 1994), 51: AAS 87 (1995), 36.

(198) Cf. Propositio 48.

(199) Cf. Propositio 22; John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo Rei Socialis (30 December 1987), 44: AAS 80 (1988), 576f.

(200) Cf. John Paul II, Encyclical Letter Redemptor Hominis (4 March 1979), 15: AAS 71 (1979), 287.

(201) Cf. ibid.

(202) Cf. Propositio 47.

(203) Homilies on the Gospel of Matthew, 50, 3-4: PG 58, 508-509.

(204) Cf. Decree on the Church’s Missionary Activity Ad Gentes, 2 and 35.

(205) Cf. John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 31: AAS 83 (1991), 277.

(206) Ibid. 42: loc. cit., 289.

(207) Ibid.

(208) Cf. Propositio 25.

(209) Cf. ibid.

(210) Cf. Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 46.

(211) Cf. Propositio 27.

(212) Cf. John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Vita Consecrata (25 March 1996), 103: AAS 88 (1996), 479.

(213) Cf. Paul VI, Apostolic Exhortation Evangelii Nuntiandi (8 December 1975), 69: AAS 68 (1976), 59.

(214) Cf. Propositio 27.

(215) Cf. ibid.

(216) Cf. ibid.

(217) Cf. Propositio 28.

(218) Ibid.

(219) Cf. Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 31.

(220) Cf. Propositio 29.

(221) Cf. ibid.

(222) Cf. ibid.

(223) John Paul II, Address at the General Audience (13 July 1994), 4: Insegnamenti XVII, 2 (1994), 40.

(224) Cf. Propositio 35.

(225) Cf. ibid.

(226) Second Vatican Ecumenical Council, Dogmatic Constitution on the Church Lumen Gentium, 11.

(227) Cf. Special Assembly for Asia of the Synod of Bishops, Relatio ante disceptationem: L’Osservatore Romano (22 April 1998), 6.

(228) Cf. Propositio 32.

(229) Cf. Propositio 33.

(230) John Paul II, Address to the Confederation of Family Advisory Bureaus of Christian Inspiration (29 November 1980), 4: Insegnamenti III, 2 (1980), 1454.

(231) Cf. Propositio 34.

(232) Ibid.

(233) John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 37: AAS 83 (1991), 285.

(234) Ibid.

(235) Ibid.

(236) Cf. Propositio 45.

(237) Cf. ibid.

(238) Cf. ibid.

(239) No. 13: AAS 91 (1999), 142.

(240) Cf. Propositio 59.

Nguồn: http://www.simonhoadalat.com

Giáo hội tại Á Châu (2)

CHƯƠNG III

CHÚA THÁNH THẦN:
ĐỨC CHÚA VÀ ĐẤNG BAN SỰ SỐNG

Thần Khí Chúa trong Cuộc Sáng Tạo và trong Lịch Sử

15. Nếu quả thật ý nghĩa cứu thế của Đức Giêsu chỉ có thể hiểu được trong khung cảnh mạc khải của Người về chương trình cứu độ của Thiên Chúa Ba Ngôi, thì như thế Chúa Thánh Thần là một phần tuyệt đối cần thiết của mầu nhiệm Đức Giêsu và ơn cứu rỗi mà Người mang đến. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng thường xuyên quy chiếu về vai trò Chúa Thánh Thần trong lịch sử cứu rỗi, các Ngài lưu ý rằng sự chia cách giả tạo giữa Đấng Cứu Thế và Chúa Thánh Thần, có thể phương hại tới chân lý về Đức Giêsu Đấng Cứu độ duy nhất của mọi người.

Theo truyền thống Kitô giáo, Chúa Thánh Thần luôn luôn được liên kết với sự sống và việc ban sự sống. Kinh Tin Kính của Công đồng Niceno-Constantino gọi Chúa Thánh Thần là “là Đức Chúa, Đấng ban sự sống”. Cho nên không phải là điều đáng ngạc nhiên khi nhiều chú giải về bài tường thuật Sáng tạo trong sách Sáng Thế đã nhìn thấy Chúa Thánh Thần trong ngọn gió mạnh lướt qua trên mặt nước (x. St 1,2). Chúa Thánh Thần hiện diện từ giây phút đầu việc của cuộc sáng tạo -là biểu lộ đầu tiên của tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi-, và luôn hiện diện trong thế giới được xem như sức mạnh ban sự sống của Người (52). Vì sự sáng tạo là khởi đầu lịch sử, nên Thần khí nói được là một quyền lực ẩn giấu đang hành động trong lịch sử, hướng dẫn lịch sử theo những con đường chân lý và điều thiện.

Mạc khải về thân thế của Chúa Thánh Thần, tình yêu hỗ tương giữa Chúa Cha và Chúa Con, là điều riêng biệt của Tân Ước. Trong tư tưởng Kitô giáo, Người được thấy như là nguồn mạch sự sống của mọi tạo vật. Công cuộc sáng tạo là sự thông ban tình yêu trong tự do của Thiên Chúa, một sự thông ban mà từ cái không, đem mọi sự vào trong hiện hữu. Không có gì đã được tạo dựng mà không được lấp đầy bởi sự trao đổi tình yêu không ngừng, là đặc tính của sự sống sâu thẳm của Ba Ngôi, nghĩa là tràn đầy Chúa Thánh Thần: “Thần khí Chúa đã tràn đầy thế giới” (Kn 17). Sự hiện diện của Thần Khí trong tạo thành phát sinh trật tự, hài hoà và lệ thuộc lẫn nhau trong tất cả những gì hiện hữu.

Được tạo dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, những con người trở nên nơi trú ngụ của Thần Khí một cách mới mẻ, khi họ được nâng lên tới phẩm giá làm con Thiên Chúa (x. Gl 4,5). Được tái sinh trong Bí tích Thánh Tẩy, con người cảm nghiệm sự hiện diện và quyền lực của Thần Khí, không chỉ là Tác giả sự sống, nhưng còn là Đấng thanh tẩy và cứu chuộc, sản sinh những hoa quả “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ” (Gl 5,22-23). Những hoa quả đó của Thần Khí là tín hiệu “Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5,5). Khi được tiếp nhận trong tự do, tình yêu này biến những người nam nữ thành những dụng cụ khả kiến của hoạt động không ngừng bên trong của Thánh Thần. Trên hết tất cả, chính khả năng cho và nhận tình yêu mới mẻ này minh chứng sự hiện diện bên trong và quyền lực của Chúa Thánh Thần. Như là hậu quả của việc biến đổi và tái tạo dựng mà Người thực hiện trong tâm trí dân chúng, Chúa Thánh Thần gây ảnh hưởng trên xã hội và văn hoá nhân loại (53). “Thật vậy, Thánh Thần là nguồn gốc những lý tưởng cao thượng và những công trình phúc lợi cho nhân loại đang hành trình qua dòng lịch sử. “Qua việc quan phòng kỳ diệu, Thánh Thần Chúa hướng dẫn dòng chảy thời gian và đổi mới mặt địa cầu” (54).

Theo hướng dẫn Công Đồng Vatican II, Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng để ý tới vô vàn hành động đa dạng của Chúa Thánh Thần, Ngài liên tục gieo những hạt giống chân lý giữa các dân tộc, tôn giáo, văn hoá và triết học của họ (55). Điều này có nghĩa là những tôn giáo, những văn hoá và triết lý đó có khả năng giúp đỡ dân chúng, cá nhân hay tập thể, chống lại sự dữ và phục vụ sự sống cũng như tất cả những gì là thiện hảo. Các quyền lực sự chết cô lập dân chúng, xã hội và các cộng đồng tôn giáo khác nhau, và sinh ra sự nghi ngờ và cạnh tranh đưa tới xung đột. Ngược lại, Chúa Thánh Thần nâng đỡ dân chúng trong việc tìm kiến sự hiểu biết và chấp nhận lẫn nhau. Do đó Chúa Thánh Thần nâng đỡ dân chúng trong việc tìm kiến sự hiểu biết và chấp nhận lẫn nhau.

Chúa Thánh Thần và Mầu Nhiệm Ngôi Lời Nhập thể

16. Dưới sự hướng dẫn của Thần Khí, lịch sử cứu độ diễn ra trên sân khấu của thế giới, và của của vũ trụ nữa, theo chương trình đời đời của Chúa Cha. Chương trình đó, do Thánh Thần khởi sự từ khi bắt đầu việc sáng tạo, được mạc khải trong Cựu Ước, được hoàn thành nhờ ân sủng của Đức Giêsu Kitô, và được tiếp nối trong công cuộc sáng tạo mới nhờ cũng một Thần Khí cho tới khi Chúa lại đến trong vinh quang vào lúc kết thúc thời gian (56). Mầu nhiêm Nhập thể của Con Thiên Chúa là công trình cao trọng nhất của Chúa Thánh Thần: “Sự cưu mang và sinh ra Đức Giêsu Kitô thực tế là công trình cao cả nhất được thực hiện do Chúa Thánh Thần trong lịch sử sáng tạo và cứu chuộc: ân sủng tuyệt diệu – “ân sủng hiệp nhất”, nguồn mạch mọi ơn khác” (57). Mầu nhiệm Nhập thể là biến cố mà trong đó Chúa tập hợïp về với chính mình, qua sự hợp nhất mới mẻ và chung cuộc, không những con người, mà còn toàn thể thọ tạo và tất cả lịch sử (58).

Được cưu mang trong lòng Đức Trinh Nữ Maria bởi phép Chúa Thánh Thần (x. Lc 1,35; Mt 1,20), Đức Giêsu thành Nadareth, Đấng Mêsia và Cứu Thế duy nhất, được đầy tràn Chúa Thánh Thần. Thần Khí xuống trên Người khi Người chịu phép rửa (x. Mc 1,10) và dẫn đưa Người vào hoang địa để được nên mạnh sức trước khi thi hành sứ vụ công khai của Người (Mc 1,12; Lc 4,1; Mt 4,1). Trong hội đường thành Nadareth, Người bắt đầu sứ vụ ngôn sứ của Người, bằng cách áp dụng cho chính mình thị kiến của ngôn sứ Isaia về sự xức dầu Thần Khí, dẫn tới việc rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó, tự do cho kẻ bị giam cầm và một năm hồng ân của Thiên Chúa (x. Lc 4,18-19). Nhờ quyền năng của Thần Khí, Đức Giêsu chữa lành bệnh nhân và xua đuổi ma quỷ, như là một tín hiệu Nước Thiên Chúa đã đến (x. Mt 12,28). Sau khi từ kẻ chết chỗi dậy, Người đã thông ban cho các môn đệ Chúa Thánh Thần, Đấng mà Người đã hứa đổ tràn trên Giáo Hội khi Người trở về với Chúa Cha (x. Ga 20,22-23).

Tất cả những sự kiện đó chứng tỏ rằng sứ vụ của Đức Giêsu mang dấu vết rõ ràng sự hiện diện của Thần Khí: sự sống, sự sống mới. Giữa sự sai đi Chúa Con từ Chúa Cha và sự sai đi Thần Khí từ Chúa Cha và Chúa Con, có một sự liên hệ chặt chẽ và thiết yếu (59). Hành động của Thánh Thần trong sáng tạo và lịch sử nhân loại, đạt được một ý nghĩa hoàn toàn mới đối với hành động của Người trong đời sống và sứ vụ của Đức Giêsu. Những “hạt giống Lời” nhờ Thần Khí gieo xuống, chuẩn bị cho toàn thể thọ tạo, lịch sử và con người để đạt tới sự trưởng thành viên mãn trong Đức Kitô (60).

Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã diễn tả mối quan tâm đối với khuynh hướng tách biệt hoạt động của Chúa Thánh Thần với hoạt động của Đức Giêsu Cứu thế. Đáp lại quan tâm đó, tôi lặp lại ở đây những gì tôi đã viết trong Thông Điệp Redemptoris Missio: “(Thánh Thần) không thay thế Đức Kitô và cũng không lấp đầy một thứ chỗ trống mà đôi khi được gợi lên là hiện hữu giữa Đức Kitô và Ngôi Lời (Logos). Bất cứ cái gì mà Thánh Thần mang đến trong tâm hồn con người và lịch sử các dân tộc, trong các nền văn hoá và tôn giáo, thì giúp chuẩn bị cho Tin Mừng và chỉ có thể hiểu khi quy chiếu về Đức Kitô, Ngôi Lời đã mặc lấy thể xác nhờ quyền lực Thần Khí ‘ngõ hầu đã là con người hoàn hảo, Người cứu rỗi mọi người và qui tụ mọi sự’ ” (61).

Cho nên sự hiện diện phổ quát của Chúa Thánh Thần không được dùng như lời bào chữa để khỏi công bố Đức Giêsu Kitô cách công khai như là Đấng Cứu độ độc nhất và duy nhất. Ngược lại, sự hiện diện phổ quát của Chúa Thánh Thần không thể tách biệt khỏi sự cứu độ phổ quát trong Đức Giêsu. Sự hiện diện của Thần Khí trong tạo vật và lịch sử chỉ về Đức Giêsu Kitô, nhờ Người mà tạo vật và lịch sử được cứu chuộc và thành toàn. Sự hiện diện của Thần Khí cả trước biến cố Nhập Thể và trong cao điểm lễ Ngũ Tuần luôn chỉ về Đức Giêsu và về sự cứu độ Người mang đến. Cũng thế, sự hiện diện phổ quát của Chúa Thánh Thần không bao giờ có thể bị tách biệt khỏi sự hoạt động của Người trong Thân Thể Đức Kitô, tức là Giáo Hội (62).

Chúa Thánh Thần và Thân Thể Đức Kitô

17. Chúa Thánh Thần gìn giữ nguyên vẹn sợi giây hiệp thông giữa Đức Giêsu và Giáo Hội Người. Ngự trong Giáo Hội cũng như ngự trong một đền thờ (x. 1 Cr 3,16), Thần Khí hướng dẫn Giáo Hội, trước hết để đạt đến chân lý toàn vẹn về Đức Giêsu. Sau đó chính Thần Khí ban sức mạnh cho Giáo Hội để tiếp tục sứ vụ của Đức Giêsu, trước nhất bằng cách làm chứng cho chính Đức Giêsu, sau đó hoàn thành điều Người đã hứa trước lúc chết và sống lại, tức là Người sẽ sai Thần Khí đến với các môn đệ để họ có sức làm chứng về Người (x. Ga 15,26-27). Công trình của Thần Khí trong Giáo Hội cũng là để làm chứng rằng các tín hữu là dưỡng tử của Thiên Chúa, những người được tiền định hưởng ơn cứu độ, được trọn vẹn hiệp thông với Chúa Cha, như đã hứa (x. Rm 8,15-17). Khi ban cho Giáo Hội những đoàn sủng và ân huệ khác nhau, Thần Khí làm cho Giáo Hội lớn lên trong hiệp thông, như một thân thể gồm nhiều chi thể khác nhau (x. 1 Cr 12,4: Ep 4,11-16). Thần Khí hợp nhất mọi dân tộc, với những tập quán, những tài nguyên và tài năng khác nhau, biến Giáo Hội thành một dấu chỉ hiệp thông của toàn thể nhân loại dưới quyền lãnh đạo của Đức Kitô (63). Thần Khí uốn nắn Giáo Hội thành một cộng đoàn những chứng nhân để, nhờ quyền lực của Người, Giáo Hội làm chứng cho Đức Giêsu Cứu Thế (x. Cv 1,8). Theo nghĩa này, Chúa Thánh Thần là tác nhân chủ yếu của việc Phúc Âm hoá. Từ đó các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng có thể kết luận rằng, cũng như sứ vụ trần thế của Đức Giêsu được hoàn thành trong quyền lực Chúa Thánh Thần, thì “cũng một Thần Khí đã được ban cho Giáo Hội bởi Chúa Cha và Chúa Con trong ngày lễ Ngũ Tuần, để hoàn thành sứ vụ tình yêu và phục vụ của Đức Giêsu tại Á Châu” (64).

Chương trình cứu độ con người của Chúa Cha, không kết thúc với sự chết và phục sinh của Đức Giêsu. Nhờ ân huệ của Thần Khí Đức Kitô, hoa quả sứ vụ cứu rỗi của Người được Giáo Hội ban tặng cho mọi dân tộc thuộc mọi thời đại, qua sự loan truyền Tin Mừng và phục vụ yêu thương đối với gia đình nhân loại. Như Công Đồng Vatican II nhận xét, “Chúa Thánh Thần thúc đẩy Giáo Hội cộng tác với Người để hoàn tất trọn vẹn kế hoạch của Thiên Chúa là Đấng đã đặt Đức Kitô làm nguồn ơn cứu độ cho cả thế giới” (65). Được Thần Khí ban quyền thực hiện sự cứu độ của Đức Kitô trên mặt đất, Giáo Hội là hạt giống của Nước Chúa và tha thiết mong đợi sự hình thành chung cuộc của nó. Căn tính và sứ mạng của Giáo Hội không tách biệt khỏi Nước Chúa, Nước mà Đức Giêsu đã loan báo và khai mào trong tất cả những gì Người đã nói và đã làm, nhất là trong sự chết và sống lại của Người. Thần Khí nhắc Giáo Hội nhớ rằng Giáo Hội không phải là cùng đích cho chính mình; trong tất cả những gì Giáo Hội là và làm, thì Giáo Hội hiện hữu để phục vụ Đức Kitô và sự cứu độ thế giới. Trong nhiệm cục cứu độ này, những công trình của Chúa Thánh Thần trong tạo vật, trong lịch sử và trong Giáo Hội, tất cả là thành phần của một kế hoạch đời đời của Ba Ngôi trên tất cả những gì hiện hữu.

Chúa Thánh Thần và Sứ Vụ của Giáo Hội tại Á Châu

18. Thánh Thần, Đấng đã hành động trên Á Châu trong thời các Tổ Phụ và ngôn sứ, và còn mãnh liệt hơn nữa trong thời Đức Giêsu và Giáo Hội sơ khai, bây giờ vẫn tác động giữa các người Kitô hữu Á Châu, bằng cách củng cố chứng tá đức tin của họ giữa các dân tộc, các nền văn hoá và tôn giáo của lục địa. Cũng như cuộc đối thoại tình yêu vĩ đại giữa Thiên Chúa và con người được Thần Khí chuẩn bị và được thực hiện trên phần đất Á Châu qua mầu nhiệm Đức Kitô, thì ngày nay cuộc đối thoại giữa Chúa Cứu Thế và các dân tộc trên lục địa, vẫn tiếp tục nhờ quyền lực của cùng một Chúa Thánh Thần hoạt động trong Giáo Hội. Trong tiến trình này, các giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân nam nữ, tất cả đều có một vai trò thiết yếu, vì nhớ lời Đức Giêsu, vừa là lời hứa và cũng là lệnh truyền: “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8).

Giáo Hội xác tín rằng, sâu trong lòng dân chúng, các nền văn hoá và tôn giáo tại Á Châu, có một cơn khát “Nước Hằng sống” (x. Ga 4,10-15), một cơn khát chính Thần Khí đã tạo ra và chỉ mình Đức Giêsu Cứu Thế mới có thể thoả mãn trọn vẹn. Giáo Hội trông chờ Chúa Thánh Thần tiếp tục chuẩn bị các dân tộc Á Châu vào cuộc đối thoại cứu độ với Đấng Cứu Thế của mọi người. Được Thần Khí hướng dẫn trong sứ vụ phục vụ và tình yêu, Giáo Hội có thể trao tặng một cuộc gặp gỡ giữa Đức Kitô và các dân tộc tại Á Châu khi họ đi tìm cuộc sống viên mãn. Chỉ trong cuộc gặp gỡ đó, mới gặp được nguồn Nước Hằng Sống vọt đến sự sống đời đời, nghĩa là, sự hiểu biết một Thiên Chúa duy nhất và Đức Giêsu Kitô mà Người đã sai đến (x. Ga 17,3).

Giáo Hội biết rõ rằng mình chỉ có thể hoàn thành sứ vụ khi nghe theo sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần. Khi dấn thân làm dấu hiệu và dụng cụ đích thực cho hoạt động của Thần Khí trong những thực tại phức tạp tại Á Châu, Giáo Hội phải biện phân, giữa tất cả hoàn cảnh khác nhau của lục địa, tiếng Thần Khí mời gọi làm chứng cho Đức Giêsu bằng những cung cách mới và có hiệu quả. Chân lý trọn vẹn về Đức Giêsu và sự cứu độ mà họ đã đạt được luôn là một ân huệ, chớ không bao giờ là thành quả của nỗ lực con người. “Chính Thần Khí chứng thực cho thần khí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa. Vậy, đã là con, thì cũng là thừa kế, mà được Thiên Chúa cho thừa kế, thì tức là đồng thừa kế với Đức Kitô” (Rm 8,16-17). Do đó Giáo Hội không ngừng kêu lên: “Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đến! Xin hãy tràn đầy tâm hồn các tín hữu Chúa và đốt lên trong họ ngọn lửa tình yêu của Chúa!” Đó là ngọn lửa mà Đức Giêsu ném trên mặt đất. Giáo Hội tại Á Châu chia sẻ niềm ước mong của Người cho ngọn lửa đó giờ đây lại bừng cháy lên (x. Lc 1249). Với lòng ao ước nồng cháy này, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã tìm cách biện biệt những lãnh vực truyền giáo chính yếu cho Giáo Hội tại Á Châu, đang lúc Giáo Hội này bước qua ngưỡng cửa ngàn năm thứ ba.

CHƯƠNG IV

ĐỨC GIÊSU ĐẤNG CỨU THẾ:
LOAN BÁO ƠN HUỆ

Vị trí Ưu Tiên của Việc Loan Báo

19. Ở ngưỡng cửa ngàn năm thứ ba, tiếng Đức Giêsu phục sinh lại vang dội trong tâm hồn mỗi người Kitô hữu: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,18-20). Xác tín vào sự giúp đỡ liên lỉ của chính Đức Giêsu cũng như sự hiện diện và quyền năng của Thần khí của Người, các tông đồ ra đi tức khắc sau lễ ngũ tuần để hoàn thành lệnh truyền này: “các Tông Đồ ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông” (Mc 16,20). Những gì các ông loan báo có thể tóm tắt trong những lời Thánh Phaolô: “Bởi chúng tôi không rao giảng chính mình, mà chỉ rao giảng Đức Kitô Giêsu là Chúa; còn chúng tôi, chúng tôi chỉ là tôi tớ của anh em, vì Đức Giêsu” (2 Cr 4,5). Được chúc phúc với ơn đức tin, Giáo Hội, sau 2000 năm, tiếp tục ra đi gặp gỡ các dân tộc của thế giới, để chia sẻ cho họ Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô. Giáo Hội là một cộng đồng rực cháy sự hăng say truyền giáo, để làm cho Đức Giêsu được biết, yêu mến và đi theo.

Không thể có Phúc Âm hoá thực sự mà không có loan báo công khai về Đức Giêsu là Chúa. Để trả lời cho một sự lầm lẫn về bản tính chân thật của sứ mạng Giáo Hội, thì Công Đồng Vatican II và huấn quyền từ đó, đã luôn luôn nhấn mạnh vị trí ưu tiên của việc rao giảng về Đức Giêsu Kitô trong mọi hoạt động Phúc Âm hoá. Như Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã minh nhiên viết rằng “không thể có việc Phúc Âm hoá thật nếu danh xưng, lời giảng dạy, sự sống, những lời hứa, vương quốc và mầu nhiệm Đức Giêsu thành Nadareth, Con Thiên Chúa, không được loan báo” (66). Đó là điều các thế hệ Kitô hữu đã làm suốt bao thế kỷ. Với một sự hãnh diện có thể hiểu được, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhắc lại rằng: “Nhiều cộng đoàn Kitô hữu tại Á Châu đã gìn giữ đức tin của mình suốt bao thế kỷ dẫu trải qua những đau khổ lớn lao, và đã bám trụ vào gia sản thiêng liêng này với sự kiên trì dũng cảm. Đối với họ, chia sẻ kho tàng lớn lao này là một niềm vui lớn và cấp thiết” (67).

Đồng thời, các vị tham gia Hội nghị đặc biệt đã xác nhận không biết bao nhiêu lần sự cần thiết tái dấn thân vào việc rao giảng Đức Giêsu Kitô chính trên lục địa đã thấy khởi sự việc rao giảng này cách đây 2000 năm. Những lời thánh Phaolô Tông đồ lại càng trở nên nhức nhối hơn, bởi lẽ nhiều người trên lục địa này chưa bao giờ gặp được con người Đức Giêsu cách rõ ràng và ý thức: “Tất cả những ai kêu cầu Danh Đức Chúa sẽ được cứu thoát. Thế nhưng làm sao họ kêu cầu Đấng họ không tin? Làm sao họ có thể tin Đấng họ không được nghe? Làm sao mà nghe nếu không có ai rao giảng?” (Rm 10,13-14). Câu hỏi lớn mà Giáo Hội tại Á Châu đang giáp mặt là làm sao chia sẻ với các anh chị em tại Á Châu về kho tàng chúng ta có, như là một ân huệ chứa đựng tất cả các ân huệ khác, đó là Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô.

Loan Báo Đức Giêsu Kitô tại Á Châu

20. Giáo Hội tại Á Châu tha thiết hơn với công tác rao giảng, vì biết rằng “nhờ hoạt động của Thần Khí, đã có saün nơi các cá nhân và các dân tộc một sự mong chờ, cho dầu vô ý thức, mong chờ được biết chân lý về Thiên Chúa, về con người, và về cách thức thoát khỏi tội lỗi và sự chết” (68). Sự nhấn mạnh đến việc rao giảng đó không bị thúc đẩy bởi áp lực các bè phái, cũng không phải bởi tinh thần xúi nhập đạo, cũng không phải do ý thức tự tôn nào cả. Giáo Hội rao giảng Tin Mừng vì vâng lời lệnh truyền của Đức Kitô, biết rằng mọi người có quyền nghe Tin Mừng của Thiên Chúa, Đấng mạc khải và hiến mình trong Đức Kitô (69). Làm chứng về Đức Giêsu Kitô là công việc phục vụ cao cả nhất mà Giáo Hội có thể trao tặng cho các dân tộc Á Châu, bởi vì việc đó đáp ứng với sự ước mong sâu xa của họ được gặp Đấng Tuyệt Đối, và nó cũng vén mở những chân lý và những giá trị bảo đảm sự phát triển toàn diện con người.

Vì ý thức sâu xa đến tính phức tạp của rất nhiều hoàn cảnh khác nhau tại Á Châu, và phải “nói sự thật trong tình bác ái” (Ep 4,15), nên Giáo Hội loan báo Tin Mừng với lòng kính nể và tôn trọng đầy yêu thương đối với thính giả của mình. Việc loan báo mà tôn trọng các quyền của lương tâm thì không xúc phạm tự do, bởi vì đức tin luôn đòi hỏi một sự đáp trả tự do về phía cá nhân (70). Tuy nhiên sự kính trọng không loại đi sự cần thiết phải rao giảng công khai Tin Mừng trong sự toàn vẹn của nó. Cách riêng trong bối cảnh nhiều nền văn hoá và tôn giáo tại Á Châu, phải nêu rõ rằng “không phải sự kính nể và tôn trọng các tôn giáo này, cũng không phải tính phức tạp của các vấn đề nẩy sinh, là một lời mời gọi Giáo Hội rút lui khỏi sự rao giảng Đức Giêsu cho những người không Kitô hữu này” (71). Khi viếng thăm Aán Độ năm 1986, tôi đã phát biểu rõ ràng rằng: “việc Giáo Hội tiếp xúc với các tôn giáo khác là một tiếp xúc đầy kính trọng chân thành…Sự kính trọng này có hai mặt: kính trọng đối với con người khi họ tìm câu trả lời cho các vấn đề sâu xa nhất về cuộc sống của họ, và sự kính trọng đối với hoạt động Thần Khí trong con người” (72). Thật vậy, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng saün sàng nhìn nhận hoạt động của Thần Khí trong các xã hội, văn hoá và tôn giáo Á Châu, nhờ đó mà Chúa Cha chuẩn bị tâm hồn cho các dân tộc Á Châu đón nhận đầy đủ sự sống trong Đức Kitô (73).

Trong các cuộc thăm dò trước khi họp Thượng Hội Đồng, nhiều Giám Mục Á Châu nhắc đến các khó khăn khi rao giảng Đức Giêsu như Đấng Cứu độ duy nhất. Trong Hội Nghị, hoàn cảnh được diễn tả như vầy: “Một số người theo các tôn giáo lớn tại Á Châu, không có vấn đề gì khi chấp nhận Đức Giêsu như một hiển hình của Thần Thánh hay Đấng Tuyệt Đối, hay là một minh chủ (enlightened one). Nhưng đối với họ thật khó mà công nhận Người như một hiển hình duy nhất của Thiên Chúa” (74). Thật thế, nỗ lực chia sẻ ơn huệ đức tin vào Đức Giêsu như Đấng Cứu Độ duy nhất, gặp đầy dẫy những khó khăn về phương diện triết học, văn hoá và thần học, đặc biệt trong ánh sáng của những niềm tin của các tôn giáo lớn tại Á Châu, đan kết sâu xa với các giá trị văn hoá và những lối nhìn riêng biệt về thế giới.

Theo ý kiến của các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, cái khó là do sự kiện Đức Giêsu thường bị coi xa lạ với Á Châu. Điều nghịch lý là phần lớn người Á Châu có khuynh hướng nhìn Đức Giêsu -sinh ra trong phần đất Á Châu- như là một nhân vật Âu Châu hơn là Á Châu. Việc rao giảng Tin Mừng do các nhà truyền giáo Âu Châu chịu ảnh hưởng bởi các nền văn hoá nơi các Ngài phát xuất là điều không thể tránh được. Các nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã công nhận đó là sự kiện không thể tránh được trong lịch sử truyền giáo. Đồng thời các Nghị Phụ trong dịp này “bày tỏ cách hết sức đặc biệt lòng biết ơn của các ngài đối với tất cả các vị thừa sai, nam cũng như nữ, tu sĩ cũng như giáo dân, ngoại kiều hay bản xứ, đã mang đến sứ điệp của Đức Giêsu Kitô và ơn huệ đức tin. Một lời cảm ơn đặc biệt nữa phải được biểu lộ đối với những Giáo Hội địa phương đã sai và còn sai các vị thừa sai đến Á Châu” (75).

Những nhà truyền giáo có thể tin tưởng, dựa vào kinh nghiệm của thánh Phaolô, vị đã lao mình vào cuộc đối thoại với những giá trị mang tính triết học, văn hoá và tôn giáo của những thính giả (x. Cv 14, 13-17; 17, 22-31). Chính các công đồng chung của Giáo Hội, khi soạn thảo những công thức đức tin của Giáo Hội, đã phải sử dụng những vốn ngôn ngữ, triết học, văn hoá mà họ có trong tầm tay. Như vậy, những vốn đó trở thành một tài sản chung của toàn thể Giáo Hội, có khả năng phát biểu học thuyết Kitô của mình một cách xứng hợp và phổ quát. Chúng thuộc về gia tài đức tin, mà ta phải chiếm hữu và không ngừng chia sẻ lại khi gặp gỡ với các nền văn hoá khác nhau (76). Như vậy sứ vụ rao giảng Đức Giêsu theo một cách thức làm cho các dân tộc Á Châu được đồng hoá với Người, đang khi vẫn trung thành với giáo thuyết thần học của Giáo Hội và với những nguồn gốc Á Châu của mình, sứ vụ đó là một thách đố tột bậc.

Việc trình bày Đức Giêsu Kitô là một Đấng Cứu Độ duy nhất, cần phải theo một khoa sư phạm, từng bước dẫn đưa dân chúng đến việc đón nhận trọn vẹn mầu nhiệm. Rõ ràng là việc loan báo Tin mừng lần đầu tiên những người không kitô hữu, và việc rao giảng Đức Giêsu tiếp theo đó cho những kẻ tin, phải khác nhau trong cách tiếp cận. Trong lần loan báo đầu tiên, chẳng hạn, “có thể trình bày Đức Giêsu Kitô như sự hoàn thành những khát vọng được diễn tả trong các thần thoại và văn học dân gian của các dân tộc Á Châu” (77). Nói chung, phương pháp kể truyện, quen thuộc với văn hoá Á Châu, thì đáng được dùng ưu tiên. Quả thực, việc rao giảng Đức Giêsu Kitô có thể có hiệu quả nhất bằng cách kể lại câu chuyện về Người, như sách Phúc Âm làm. Các khái niệm hữu thể học có liên quan, mà phải luôn luôn được hàm ý và diễn tả khi đang trình bày về Đức Giêsu, có thể được bổ sung nhờ những viễn tượng có tính cách tương quan, lịch sử và cả đến tính vũ trụ. Các Nghị Phụ lưu ý, Giáo Hội phải cởi mở với những phương cách mới và gây ngạc nhiên, nhờ vậy mà gương mặt Đức Giêsu có thể được trình bày tại Á Châu (78).

Thượng Hội Đồng khuyến cáo rằng việc dạy giáo lý tiếp sau đó, phải theo “một khoa sư phạm có tính gợi ý, sử dụng những câu truyện, những dụ ngôn và những biểu tượng rất đặc trưng của phương pháp giảng dạy Á Châu” (79). Sứ vụ của chính Đức Giêsu cho thấy rõ giá trị của việc tiếp xúc cá nhân, điều này đòi hỏi nhà truyền giáo phải lưu tâm đến hoàn cảnh người nghe, để có thể cống hiến một sự loan báo tương xứng với trình độ trưởng thành của người nghe, qua một hình thức và ngôn ngữ xứng hợp. Trong viễn tượng này, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhiều lần đã nhấn mạnh đến nhu cầu loan báo Tin mừng bằng một cách thức có thể lôi cuốn tính nhạy cảm của người dân Á Châu, và các ngài nêu lên những hình ảnh về Đức Giêsu có thể hiểu được theo tâm trí và văn hoá Á Châu và đồng thời, trung thành với Kinh Thánh và truyền thống. Trong những hình ảnh đó, có những hình ảnh “Đức Giêsu là Thầy dạy sự khôn ngoan, Vị Lương y, Đấng Giải phóng, Vị Hướng dẫn đàng thiêng liêng, Minh chủ, Người Bạn giàu lòng thương xót của kẻ nghèo, Người Samaritanô nhân hậu, Vị Mục tử nhân lành, Đấng vâng phục” (80). Đức Giêsu có thể được trình bày như là sự khôn ngoan nhập thể của Thiên Chúa. Ân sủng của Người mang lại hoa trái cho “những hạt giống” của Đấng khôn Ngoan đã hiện diện trong cuộc sống, tôn giáo và các dân tộc của Á Châu (81). Giữa nhiều đau khổ các dân tộc Á Châu phải gánh chịu, Đức Giêsu có thể được rao giảng tốt nhất như là Đấng Cứu độ, “Đấng có thể đem lại ý nghĩa cho những ai đang trải qua những đau khổ và đau đớn không thể tả được” (82).

Đức tin mà Giáo Hội cống hiến như một ân huệ cho con cái mình, không thể bị giam giữ bên trong những giới hạn của sự hiểu biết và sự diễn tả riêng của một nền văn hoá nhân bản nào, bởi vì nó vượt lên trên những giới hạn này và còn thách thức mọi nền văn hoá tiến lên những chiều cao mới mẻ của sự hiểu biết và diễn tả. Nhưng đồng thời, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng ý thức rõ về nhu cầu khẩn khiết của Giáo Hội tại Á Châu, muốn trình bày mầu nhiệm Đức Kitô cho các dân tộc mình, theo những kiểu mẫu văn hoá và cách suy nghĩ của họ. Các Ngài chỉ rõ rằng việc hội nhập đức tin như thế trên lục địa các Ngài, gồm có việc tái khám phá khuôn mặt Á Châu của Đức Giêsu và việc tìm ra những phương cách để các nền văn hoá Á Châu có thể nắm bắt ý nghĩa cứu độ phổ quát của mầu nhiệm Đức Giêsu và Giáo Hội Người (83). Trong thời đại hôm nay, cần làm sống lại sự hiểu biết sâu sắc về các dân tộc và văn hoá mà đã có được một cách gương mẫu nơi những con người như Gioan Montecorvino, Matteo Ricci và Roberto de Nobili, đây chỉ nhắc tới một ít người thôi.

Thách Đố của việc Hội Nhập Văn Hoá

21. Văn hoá là không gian sống trong đó con người đến với Tin Mừng, mặt giáp mặt. Cũng như văn hoá là thành quả của sự sống và hoạt động của một nhóm người, thì những con người thuộc nhóm đó cũng được uốn nắn trong phạm vi rộng rãi bởi nền văn hoá trong đó họ đang sống. Vì con người và xã hội thay đổi, nền văn hoá cũng bị thay đổi theo. Vì văn hoá biến đổi nên con người và xã hội cũng biến đổi theo nó. Từ viễn ảnh này, ta thấy rõ ràng hơn tại sao việc Phúc Âm hoá và hội nhập văn hoá liên hệ với nhau cách tự nhiên và mật thiết. Tin Mừng và việc rao giảng Tin Mừng chắc chắn không đồng nhất với văn hoá; chúng độc lập với văn hoá. Tuy nhiên Nước Thiên Chúa đến với những con người gắn bó sâu xa với một nền văn hoá, và việc xây dựng Vương Quốc không tránh khỏi mượn các yếu tố từ các nền văn hoá nhân bản. Vì thế Đức Phaolô VI nói sự chia tách giữa Tin Mừng và văn hoá là thảm trạng của thời đại chúng ta, với một tác động sâu xa trên cả việc rao giảng Tin Mừng lẫn văn hoá (84).

Trong quá trình gặp gỡ các nền văn hoá khác nhau của thế giới, Giáo Hội không những truyền đạt các chân lý và những giá trị của mình và đổi mới các nền văn hoá từ bên trong, nhưng Giáo Hội cũng tiếp thu từ các nền văn hoá khác nhau, những yếu tố tích cực có saün trong các nền văn hoá đó. Đó là con đường bắt buộc cho những nhà rao giảng Tin Mừng khi trình bày đức tin Kitô giáo và làm cho nó trở nên một thành phần của di sản văn hoá của một dân tộc. Về phần mình, khi các nền văn hoá khác nhau được hoàn thiện và canh tân dưới ánh sáng của Tin mừng, chúng có thể trở nên những diễn tả đích thực của đức tin kitô giáo duy nhất. “Nhờ hội nhập văn hoá mà Giáo Hội, về phần mình, đã trở nên một dấu chỉ dễ hiểu hơn về bản tính của mình, và trở nên một dụng cụ hữu hiệu hơn cho việc truyền giáo” (85). Sự giao kết đó với các nền văn hoá đã luôn là thành phần cuộc hành trình của Giáo Hội qua lịch sử. Nhưng ngày nay sự giao kết đó càng cấp bách cách đặc biệt trong cảnh huống đa-dân-tộc, đa-tôn-giáo, đa-văn-hoá tại Á Châu, nơi mà Kitô giáo vẫn thường còn bị coi là ngoại lai.

Tới đây, quả là tốt khi nhớ lại những gì thường được lặp đi lặp lại trong Thượng Hội Đồng: Chúa Thánh Thần là tác nhân chính của sự hội nhập văn hoá của đức tin Kitô giáo tại Á Châu (86). Cũng một Chúa Thánh Thần, Đấng dẫn dắt chúng ta đến chân lý toàn diện, làm cho có thể thực hiện được một cuộc đối thoại có hiệu quả với các giá trị văn hoá và tôn giáo các dân tộc khác nhau. Người hiện diện giữa họ trong một mức độ nào đó, ban sức mạnh cho các người nam nữ thành tâm thiện chí, để họ chiến thắng sự dữ và sự lừa đảo của Thần Dữ, và ban tặng cho mỗi người khả năng thông dự vào mầu nhiệm Phục Sinh, bằng cách nào đó Chúa biết (87). Sự hiện diện của Thần Khí bảo đảm rằng sự đối thoại diễn ra trong chân lý, trong lương thiện, khiêm tốn và kính trọng (88). “Khi ban tặng cho kẻ khác Tin Mừng cứu rỗi, Giáo Hội cố gắng tìm hiểu nền văn hoá của họ. Giáo Hội tìm hiểu tâm trí kẻ nghe, các giá trị và tập quán của họ, các vấn đề và những khó khăn của họ, những hy vọng và những ước mơ của họ. Một khi Giáo Hội hiểu biết những khía cạnh văn hoá khác nhau đó, thì bấy giờ Giáo Hội mới có thể bắt đầu cuộc đối thoại cứu rỗi; Giáo Hội có thể trao tặng, cách kính cẩn nhưng rõ ràng và đầy xác tín, Tin Mừng cứu chuộc cho những ai muốn nghe và tự do đáp trả” (89). Do đó, các dân tộc Á Châu nào, trong tư cách là người Á Châu, mà muốn chiếm hữu đức tin Kitô giáo, thì có thể yên tâm rằng những hy vọng, những trông đợi, những âu lo và đau khổ của họ không những được Đức Giêsu ôm lấy, mà còn trở thành điểm đích thực để ân huệ đức tin và quyền năng Thần Khí đi vào trong cốt lõi thâm sâu nhất của đời sống họ.

Nhiệm vụ của các vị Chủ Chăn, do đoàn sủng của các ngài, là phải hướng dẫn cuộc đối thoại này cách sáng suốt. Cũng vậy, những chuyên viên về các khoa học đạo và đời, đóng những vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập văn hoá. Nhưng quá trình phải bao gồm toàn thể dân Chúa, bởi vì đời sống Giáo Hội như một toàn thể, phải tỏ bày đức tin đang được rao giảng và được tiếp thu. Để bảo đảm cho việc này được thực hiện có chiều sâu, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng xác định một vài lãnh vực đáng chú ý riêng – suy tư thần học, phụng vụ, đào tạo các linh mục và tu sĩ, dạy giáo lý và tu đức (90).

Những Lãnh Vực Chủ Chốt của Việc Hội Nhập Văn Hoá

22. Thượng Hội Đồng khích lệ các nhà thần học trong công tác tế nhị của họ làm phát triển khoa thần học hội nhập (une théologie inculturée), cách riêng trong lãnh vực Kitô học (91). Các ngài lưu ý rằng “việc suy tư thần học này phải được thực hiện cách can đảm, trong sự trung thành với Kinh Thánh và truyền thống của Giáo hội, trong sự gắn bó chân thành với Huấn Quyền và trong sự hiểu biết về những thực tại mục vụ” (92). Tôi cũng thôi thúc các nhà thần học làm việc trong tinh thần hợp nhất với các Chủ Chăn và dân chúng, những người- luôn hợp nhất với nhau và không bao giờ chia tách nhau- “phản chiếu cảm thức đức tin chân chính mà ta không bao giờ được thôi nhìn” (93). Công trình thần học phải luôn luôn được hướng dẫn bởi sự kính trọng đối với những nhạy cảm của người Kitô hữu, để nhờ sự tăng trưởng dần dần hướng về những hình thức hội nhập biểu tỏ đức tin, dân chúng không bị hoang mang hay bị vấp phạm. Trong mọi trường hợp, việc hội nhập văn hoá phải được hướng dẫn bởi sự tương hợp với Tin Mừng và sự hiệp thông với đức tin của toàn thể Giáo Hội, trong sự thuận theo hoàn toàn với truyền thống Giáo Hội và với mục đích làm cho đức tin dân chúng nên vững mạnh (94). Trắc nghiệm của việc hội nhập văn hoá đích thực, là xem dân chúng có trở nên gắn bó hơn với đức tin Ki tô giáo của mình hay không, bởi vì họ thấy đức tin rõ hơn bằng cặp mắt thuộc về văn hoá của họ.

Phụng Vụ là nguồn gốc và là tuyệt đỉnh của tất cả đời sống Kitô hữu và truyền giáo (95). Phụng Vụ là một phương tiện quyết định của việc rao giảng Tin Mừng, nhất là tại Á Châu, nơi mà những người theo đạo khác nhau rất ưa thích việc tế tự, những lễ hội tôn giáo và những việc đạo đức bình dân (96). Phụng Vụ của các Giáo Hội Phương Đông phần lớn đã được hội nhập văn hoá có kết quả sau bao thế kỷ tương tác với nền văn hoá xung quanh, nhưng những Giáo Hội được thành lập mới đây cần làm sao để phụng vụ trở nên nguồn mạch nuôi dưỡng hơn cho dân chúng, qua việc sử dụng khôn ngoan và hiệu năng các yếu tố rút ra từ các nền văn hoá địa phương. Nhưng sự hội nhập Phụng vụ đòi hỏi nhiều điều hơn là việc chú tâm vào những giá trị văn hoá truyền thống, những biểu tượng và những nghi thức. Cũng cần lưu ý đến những thay đổi trong ý thức và thái độ gây ra do sự xuất hiện của các nền văn hoá trần tục và hưởng thụ đang ảnh hưởng đến cảm thức phụng tự và cầu nguyện của người Á Châu. Cũng không được bỏ qua những nhu cầu riêng biệt của người nghèo, người di dân, người tị nạn, giới trẻ và phụ nữ trong bất cứ việc hội nhập phụng vụ chân chính nào tại Á Châu.

Các Hội Đồng Giám Mục quốc gia và miền, cần phải làm việc chặt chẽ hơn với Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích, trong việc tìm kiếm những phương thức có hiệu năng để cổ võ những hình thức phụng tự thích hợp trong bối cảnh Á Châu (97). Sự hợp tác này là cần thiết bởi vì Phụng vụ thánh diễn tả và cử hành một đức tin được mọi người tuyên xưng và, bởi Phụng vụï thánh là gia sản của toàn thể Giáo Hội, nên không thể do các Giáo Hội địa phương định đoạt cách riêng rẽ khỏi Giáo Hội hoàn vũ.

Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhấn mạnh cách riêng đến tầm quan trọng của Lời Kinh Thánh trong việc loan truyền sứ điệp cứu độ cho các dân tộc Á Châu, nơi mà Lời được loan truyền có một vai trò quan trọng trong việc giữ gìn và truyền đạt kinh nghiệm tôn giáo (98). Cho nên cần phát triển một hình thức tông đồ hữu hiệu nhằm phổ biến kinh thánh, hầu có thể đảm bảo rằng bản văn Kinh Thánh được phổ biến rộng rãi hơn và được sử dụng thường xuyên và trong tinh thần cầu nguyện hơn giữa các phần tử Giáo Hội tại Á Châu. Các nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhấn mạnh rằng thật là cấp bách việc dùng Kinh Thánh như là nền tảng cho tất cả mọi việc loan báo, dạy giáo lý, giảng thuyết và hình thức linh đạo truyền giáo (99). Cần phải cổ động và nâng đỡ những cố gắng dịch thuật Kinh Thánh ra tiếng địa phương. Đào tạo về Kinh Thánh phải được coi như một phương tiện quan trọng để giáo dục đức tin cho dân chúng và chuẩn bị họ cho công việc loan báo. Cần phải đưa vào chương trình đào tạo giáo sĩ, những người sống đời thánh hiến và giáo dân những khoá học Kinh Thánh hướng về mục vụ, với sự nhấn mạnh thích đáng về việc áp dụng huấn giáo Kinh Thánh vào những thực tại phức tạp của đời sống Á Châu (100). Kinh Thánh cũng phải phổ biến giữa những người theo các tôn giáo khác; Lời Chúa có một quyền lực nội tại đánh động tâm hồn dân chúng, bởi vì qua Kinh Thánh, Chúa Thánh Thần mạc khải kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa đối với thế gian. Hơn nữa những lối văn tường thuật gặp được trong nhiều sách Kinh Thánh, có một quan hệ tương đồng với những bản văn tôn giáo điển hình của Á Châu (101).

Một khía cạnh mấu chốt nữa của việc hội nhập văn hoá, có ảnh hưởng phần lớn tới tương lai của tiến trình, đó là sự đào tạo những người rao giảng Tin Mừng. Trong quá khứ, việc đào tạo thường theo kiểu cách, phương pháp và chương trình du nhập từ phương Tây, và tuy đánh giá cao ích lợi do phương pháp đào tạo đó mang lại, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhìn nhận là một phát triển tích cực, các cố gắng thực hiện trong những thời gian gần đây để thích nghi việc đào tạo những người rao giảng Tin Mừng với những bối cảnh văn hoá tại Á Châu. Cùng với việc có được một nền tảng vững chắc do sự học hỏi về Kinh Thánh và các Thánh Giáo Phụ, các chủng sinh phải nắm vững cách chắc chắn và chi tiết gia sản thần học và triết học của Giáo Hội, như tôi đã thúc giục trong Thông điệp Fides et Ratio (102). Trên nền tảng của sự chuẩn bị đó, các chủng sinh mới thu nhiều ích lợi khi tiếp xúc với những truyền thống triết học và tôn giáo tại Á Châu (103). Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cũng khích lệ các giáo sư và các cộng tác viên tìm hiểu cách sâu sắc những yếu tố thuộc tu đức và cầu nguyện, thân thuộc với tâm hồn Á Châu, và dấn mình sâu hơn nữa vào công cuộc tìm kiếm một đời sống trọn vẹn hơn của các dân tộc Á Châu (104). Để đạt mục đích này, cần nhấn mạnh đến việc đào tạo thích đáng ban giáo sư chủng viện (105). Thượng Hội Đồng cũng biểu lộ mối quan tâm về việc đào tạo các tu sĩ nam nữ sống đời thánh hiến, bằng cách tuyên bố rõ ràng rằng linh đạo và nếp sống của những người được thánh hiến, cần phải nhạy cảm với gia sản tôn giáo và văn hoá của những người họ đang chung sống và đang phục vụ, với giả định là cần phải phân biệt cái gì phù hợp với Tin Mừng, cái gì không (106). Hơn nữa, bởi vì việc hội nhập văn hoá Tin Mừng dính dáng đến toàn thể dân Chúa, vai trò người giáo dân có tầm quan trọng tột bậc. Chính họ là những người hơn ai hết được kêu gọi biến đổi xã hội, trong sự hợp tác với các Giám mục, giáo sĩ và tu sĩ, bằng cách làm cho “tinh thần Đức Kitô” thâm nhập vào trong não trạng, tập quán, luật pháp và cấu trúc của thế giới trần tục nơi họ đang sống (107). Một sự hội nhập văn hoá rộng rãi hơn cho Tin Mừng, ở mọi cấp bậc xã hội tại Á Châu, phần lớn tuỳ thuộc vào sự đào tạo xứng hợp mà các Giáo Hội địa phương dành cho giáo dân.

Đời Sống Kitô Hữu xét như là một lời loan báo

23. Cộng đồng Kitô hữu càng đâm rễ sâu trong kinh nghiệm về Thiên Chúa xuất phát từ một đức tin sống động, thì càng khả tín về khả năng rao giảng cho kẻ khác biết sự hoàn thành của Nước Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô. Đó là kết quả của việc trung thành nghe Lời Chúa, cầu nguyện và chiêm ngưỡng, cử hành mầu nhiệm Đức Giêsu trong các bí tích, nhất là trong bí tích Thánh Thể, và nêu gương về sự hiệp thông sự sống đích thật và yêu thương trọn vẹn. Trái tim của Giáo Hội địa phương phải hướng về việc chiêm ngưỡng Đức Giêsu Kitô, Thiên-Chúa-làm-người, và liên lỉ ra sức kết hiệp mật thiết hơn với Đấng mà mình tiếp tục sứ vụ. Việc truyền giáo là hành động bằng chiêm ngưỡng và là sự chiêm ngưỡng bằng hành động. Do đó một nhà truyền giáo mà không có kinh nghiệm sâu sắc về Thiên Chúa qua kinh nguyện và chiêm ngưỡng, thì sẽ có ít ảnh hưởng thiêng liêng hay thành công về mặt truyền giáo. Đây là một suy tư rút ra từ thừa tác vụ linh mục của riêng tôi và, như tôi đã viết nơi khác, sự tiếp xúc của tôi với các đại diện những truyền thống thiêng liêng không Kitô giáo, nhất là của Á Châu, đã củng cố tôi trong xác tín rằng tương lai của việc truyền giáo tùy thuộc phần lớn vào việc chiêm ngưỡng (108). Tại Á Châu, quê hương của các tôn giáo lớn, nơi mà các cá nhân cũng như toàn thể dân chúng đang khao khát cái thiêng thánh, Giáo Hội được mời gọi trở nên một Giáo Hội cầu nguyện, hoàn toàn thánh thiêng dù dấn thân trong những mối quan tâm trực tiếp về mặt nhân bản và xã hội. Tất cả các Kitô hữu cần một tu đức truyền giáo thật sự gồm có cầu nguyện và chiêm ngưỡng.

Một người có lòng đạo chân chính thì dễ dàng được người ta kính trọng và đi theo tại Á Châu. Cầu nguyện, chay tịnh và những hình thức khổ hạnh khác được coi trọng. Hy sinh, bỏ mình, khiêm tốn, đơn sơ và thinh lặng được xem là những giá trị lớn đối với các tín đồ của mọi tôn giáo. Để sự cầu nguyện không tách rời khỏi sự thăng tiến nhân bản, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhấn mạnh rằng “các công việc của công bình, bác ái và lòng thương xót thì có quan hệ với một đời sống cầu nguyện và chiêm ngưỡng đích thực, và hơn nữa chính cũng một tu đức này là nguồn suối của mọi công trình rao giảng Tin Mừng của chúng ta” (109). Hoàn toàn xác tín về tầm quan trọng của các chứng tá chân chính trong việc rao giảng Tin Mừng tại Á Châu, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng phát biểu: “Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô chỉ có thể được rao giảng bởi những ai bị chiếm đoạt và được linh hứng bởi tình yêu của Chúa Cha đối với con cái mình, tình yêu đó được tỏ bày nơi con người Đức Giêsu Kitô. Việc loan truyền này là một sứ vụ cần đến những con người nam nữ thánh thiện, họ sẽ làm cho Đấng Cứu Thế được biết và được yêu suốt đời của họ. Một ngọn lửa chỉ được cháy lên bằng cái gì đã bén lửa. Cũng vậy, việc loan truyền Tin Mừng Cứu Độ mà có hiệu quả tại Á Châu, chỉ có thể xảy ra, nếu các Giám Mục, các hàng Giáo Sĩ, những kẻ sống đời sống thánh hiến và giáo dân, cháy nóng bằng tình yêu Đức Kitô và ao ước làm cho Người được biết cách rộng rãi hơn, được yêu cách sâu xa hơn, và được theo cách gần gũi hơn” (110). Người Kitô hữu nói về Đức Kitô, thì phải thấm nhuần sứ điệp mà họ rao giảng vào đời sống mình.

Về phương diện này, một hoàn cảnh đặc biệt trong bối cảnh Á Châu đòi hỏi phải lưu ý. Giáo Hội nhận thức rằng chứng tá thầm lặng của đời sống vẫn là con đường duy nhất để loan báo Nước Chúa trong nhiều nơi tại Á Châu, mà việc rao giảng công khai bị ngăn cấm và sự tự do tôn giáo bị chối từ hay bị hạn chế có hệ thống. Giáo Hội sống cách ý thức kiểu làm chứng này, coi đó là một “việc vác thánh giá mình” (Lc 9, 23), đồng thời kêu gọi và thúc bách các chính phủ nhìn nhận tự do tôn giáo như là quyền lợi căn bản con người. Những lời của công đồng Vaticanô II đáng được lập lại ở đây: “Con người có quyền tự do tôn giáo. Quyền tự do này hệ tại con người không bị lệ thuộc vào áp lực của cá nhân, đoàn thể xã hội hay của bất cứ quyền bính trần gian nào khác; không một ai bị ép buộc hành động trái với lương tâm mình trong các việc tôn giáo, cũng không ai bị ngăn cấm hành động theo lương tâm mình, dù cho đó là hành động riêng tư hay công khai, một mình hay cùng với người khác, trong những giới hạn chính đáng” (111). Trong một vài quốc gia tại Á Châu, lời tuyên bố này vẫn cần được nhìn nhận và đem ra thi hành.

Như vậy, rõ ràng là việc loan báo về Đức Giêsu Kitô tại Á Châu mang nhiều khía cạnh phức tạp, vừa trong nội dung vừa trong phương cách. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng rất ý thức đến sự đa dạng chính đáng của những phương thức rao giảng về Đức Giêsu, miễn là chính đức tin được tôn trọng trong sự toàn vẹn của nó qua quá trình chiếm hữu hay chia sẻ đức tin. Thượng Hội Đồng ghi nhận rằng “ngày nay việc Phúc âm hoá là một thực tại, vừa súc tích vừa năng động. Nó gồm có nhiều khía cạnh và yếu tố: chứng tá, đối thoại, rao giảng, dạy giáo lý, hoán cải, bí tích Rửa Tội, gia nhập vào cộng đoàn Giáo Hội, thiết lập Giáo Hội, hội nhập văn hoá và thăng tiến toàn diện con người. Một số yếu tố liên kết với nhau, đang khi một số khác là những bước hay những giai đoạn kế tiếp nhau của toàn thể quá trình Phúc âm hoá” (112). Tuy nhiên, trong mọi công cuộc Phúc âm hoá, phải loan báo trọn vẹn chân lý về Đức Giêsu Kitô. Nhấn mạnh đến một vài khía cạnh của mầu nhiệm khôn dò của Đức Giêsu, vừa là việc chính đáng vừa là cần thiết, để từ từ giới thiệu Đức Giêsu cho một con người, nhưng việc làm đó không được phép làm tổn thương tính toàn vẹn của đức tin. Sau cùng, sự chấp nhận đức tin của một con người phải được đặt nền tảng trên một sự hiểu biết chắc chắn về con người Đức Giêsu, như Giáo Hội trình bày mọi lúc mọi nơi, là Chúa của mọi người, Đấng “vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay và như vậy mãi mãi đến muôn đời”.

CHƯƠNG V

HIỆP THÔNG VÀ ĐỐI THOẠI
ĐỂ TRUYỀN GIÁO

Hiệp Thông và Truyền Giáo Đi Đôi Với Nhau

24. Theo kế hoạch đời đời của Chúa Cha, Giáo Hội, được tiên báo từ lúc khởi đầu thế giới, được chuẩn bị trong Cựu Ước, được Đức Giêsu thiết lập và được Chúa Thánh Thần làm cho hiện diện trong thế gian vào ngày lễ Ngũ Tuần, “lữ hành giữa cơn bách hại của thế gian và trong niềm an ủi của Thiên Chúa” (113), đang khi tiến đến sự trọn lành trong vinh quang thiên quốc. Bởi vì Thiên Chúa muốn “toàn thể nhân loại trở nên một Dân của Thiên Chúa, làm thành một Thân Thể của Đức Kitô, và được xây dựng thành một đền thờ của Chúa Thánh Thần” (114), nên Giáo Hội là “kế hoạch hữu hình của tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại, là bí tích cứu rỗi” (115) trong trần gian. Do đó Giáo Hội không thể được hiểu thuần tuý như là một tổ chức xã hội hay là cơ quan trợ cấp cho con người. Mặc dầu gồm những con người nam và nữ tội lỗi, Giáo Hội phải được xem như là một nơi dành riêng cho sự gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người, nơi Thiên Chúa chọn để mạc khải mầu nhiệm sự sống bên trong của Người và thi hành kế hoạch cứu rỗi cho thế gian.

Mầu nhiệm kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa được làm cho hiện diện và sinh động trong cộng đồng những người nam và người nữ là những kẻ được mai táng trong cái chết với Đức Kitô qua bí tích Rửa Tội, để như Đức Kitô đã chỗi dậy từ kẻ chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha thì họ có thể bước đi trong đời sống mới (x. Rm 6,4). Tại trung tâm của mầu nhiệm Giáo Hội, là sợi dây hiệp thông nối kết Đức Kitô, vị Tân Lang, với tất cả những người được rửa tội. Nhờ sự hiệp thông sống động và ban sự sống này, “các Kitô hữu không thuộc về mình nữa, mà là những người thuộc riêng về Chúa” (116). Được hợp nhất với Chúa Con trong sợi dây tình yêu của Chúa Thánh Thần, các Kitô hữu được hiệp nhất với Chúa Cha, và từ sự hiệp thông này tuôn tràn sự hiệp thông mà các Kitô hữu chia sẻ với nhau nhờ Đức Kitô trong Chúa Thánh Thần” (117). Như vậy mục đích đầu tiên của Giáo Hội là nên bí tích của sự hợp nhất mật thiết của con người với Thiên Chúa, và bởi vì sự hiệp thông giữa con người với nhau được đâm rễ trong sự hiệp nhất với Thiên Chúa, nên Giáo Hội cũng là bí tích hiệp nhất của loài người (118). Nơi Giáo Hội, sự hiệp nhất này đã bắt đầu; và đồng thời Giáo Hội là “dấu chỉ và khí cụ” của sự thực hiện trọn vẹn sự hiệp nhất còn phải đạt đến (119).

Một đòi hỏi thiết yếu của sự sống trong Đức Kitô là bất cứ ai đi vào sự hiệp thông với Chúa, thì cần phải sinh hoa trái: “Ai ở lại trong Thầy, và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái” (Ga 15,5). Lời nói đó thật đúng đến nỗi người nào không sinh hoa trái thì không ở trong sự hiệp thông: “Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi” (Ga 15,2). Sự hiệp thông với Đức Giêsu, nguồn gốc của sự hiệp thông giữa các Kitô hữu với nhau, là điều kiện cần thiết để sinh hoa trái; và sự hiệp thông với kẻ khác, một ân huệ của Đức Kitô và Thần khí của Người, là hoa trái tốt đẹp nhất mà các cành có thể cho. Theo nghĩa này, sự hiệp thông và việc truyền giáo liên kết với nhau không thể phân ly. Chúng thâm nhập và bao hàm lẫn nhau, đến nỗi “sự hiệp thông diễn tả vừa là nguồn suối vừa là hoa trái của việc truyền giáo: sự hiệp thông phát sinh việc truyền giáo và sự truyền giáo được hoàn tất trong sự hiệp thông” (120).

Sử dụng khoa thần học về sự hiệp thông, Công đồng Vatican II có thể diễn tả Giáo Hội như là dân lữ hành của Thiên Chúa mà tất cả các dân tộc đều có liên hệ theo một cách nào đó (121). Dựa trên căn bản này, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhấn mạnh tới mối liên hệ mầu nhiệm giữa Giáo Hội và những người đi theo các tôn giáo khác tại Á Châu, mà lưu ý rằng họ “liên hệ với Giáo Hội trong những cấp độ và cách thức khác nhau” (122). Giữa bao nhiêu dân tộc, văn hoá và tôn giáo khác nhau, “đời sống của Giáo Hội như sự hiệp thông có tầm quan trọng lớn nhất” (123). Quả thực, việc phục vụ hiệp thông của Giáo Hội là việc làm đặc biệt thích đáng tại Á Châu, nơi có nhiều căng thẳng, chia rẽ và xung đột, do những khác biệt chủng tộc, xã hội, văn hoá, ngôn ngữ, kinh tế và tôn giáo. Chính trong bối cảnh này mà các Giáo Hội địa phương tại Á Châu, cùng hiệp thông với Đấng kế vị thánh Phêrô, cần cổ võ một sự hiệp thông lòng trí sâu xa hơn, bằng cách cộng tác chặt chẽ với nhau. Mối liên hệ với những Giáo Hội và các cộng đồng Giáo Hội Kitô khác, và với những người theo các tôn giáo khác cũng rất quan trọng với việc rao giảng Tin Mừng (124). Do đó, Thượng Hội Đồng tái xác định sự dấn thân của Giáo Hội tại Á Châu trong công việc cải thiện cả những liên hệ đại kết lẫn sự đối thoại liên tôn, bằng cách nhìn nhận rằng xây dựng sự hiệp nhất, thực hiện sự hoà giải, tạo ra những sợi dây liên đới, cổ võ đối thoại giữa các tôn giáo và các nền văn hoá, loại bỏ những thành kiến và đem lại sự tin tưởng giữa các dân tộc, tất cả những điều đó là thiết yếu cho sứ mạng Phúc âm hoá của Giáo Hội trên lục địa này. Tất cả những điều đó đòi hỏi cộng đồng công giáo phải thành thật xét lại lương tâm, can đảm tìm kiếm sự hoà giải và một sự dấn thân mới mẻ cho việc đối thoại. Tại ngưỡng cửa ngàn năm thứ ba, thật rõ ràng rằng khả năng Phúc âm hoá của Giáo Hội đòi buộc Giáo Hội phải ra sức phục vụ sự hiệp nhất trong tất cả mọi chiều kích. Sự hiệp thông và truyền giáo đi đôi với nhau.

Hiệp Thông Trong Lòng Giáo Hội

25. Tập họp xung quanh Đấng kế vị Thánh Phêrô, cầu nguyện và làm việc với nhau, các Giám Mục dự Hội Nghị Đặc Biệt về Á Châu, cách nào đó đã nhân cách hoá sự hiệp thông của Giáo Hội, trong tất cả sự khác biệt phong phú của các Giáo Hội địa phương mà các ngài lãnh đạo với tình bác ái. Sự hiện diện của chính tôi trong các Khoá Họp Khoáng Đại Thượng Hội Đồng, là một cơ hội tốt để chia sẻ niềm vui và hy vọng, những khó khăn và âu lo của các Giám Mục, và đồng thời là việc thi hành đầy nhiệt huyết và rất sâu sắc về chính thừa tác vụ của tôi. Trên thực tế, chính trong viễn tượng hiệp thông Giáo Hội mà quyền bính phổ quát của Đấng kế vị thánh Phêrô toả sáng rõ ràng hơn, không phải chủ yếu như là một quyền tài phán trên các Giáo Hội địa phương, nhưng trước hết như là một quyền ưu tiên mục vụ, để phục vụ sự hiệp nhất đức tin và sự sống của toàn thể Dân Chúa. Ý thức đầy đủ rằng “chức vụ Phêrô có nhiệm vụ duy nhất là bảo đảm và cổ võ sự hiệp nhất của Giáo Hội” (125) nên các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng công nhận sự phục vụ mà các cơ quan của Giáo triều Roma và Bộ Ngoại Giao của Toà Thánh mang lại cho các Giáo Hội tại địa phương, trong tinh thần hiệp thông và đồng đoàn (126). Một nét chính yếu của sự phục vụ này là sự kính trọng và nhạy cảm mà các cộng tác viên gần của Đấng kế vị thánh Phêrô bày tỏ trước sự khác biệt chính đáng của Giáo Hội địa phương và sự đa dạng của các nền văn hoá và dân tộc mà các vị đó tiếp xúc.

Mỗi một Giáo Hội riêng phải được đặt nền móng trên chứng tá của sự hiệp thông Giáo hội, vì sự hiệp thông cấu tạo nên chính bản tính của Giáo Hội. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng muốn diễn tả Giáo phận như là một sự hiệp thông các cộng đoàn bao quanh vị Chủ Chăn, nơi đây hàng giáo sĩ, những người sống đời thánh hiến và giáo dân dấn thân vào một “đối thoại đời sống và con tim” được nâng đỡ nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần (127). Chính trong Giáo phận mà cái nhìn về sự hiệp thông các cộng đoàn được thực hiện giữa những thực tại xã hội, chính trị, tôn giáo, văn hoá, và kinh tế phức tạp tại Á Châu. Sự hiệp thông Giáo Hội bao hàm rằng mỗi Giáo Hội địa phương phải trở nên điều mà các Nghị phụ Thượng Hội Đồng gọi là “một Giáo Hội tham gia” (participatory Church), có nghĩa là một Giáo Hội trong đó mọi người đều sống ơn gọi của riêng mình và chu toàn vai trò của mình. Để xây dựng “sự hiệp thông để truyền giáo” và “sự truyền giáo của sự hiệp thông”, thì ơn đoàn sủng độc nhất của mỗi thành viên phải được nhìn nhận, phát triển và sử dụng cho hữu ích (128). Cách riêng, cần phải để cho người giáo dân và các người nam nữ sống đời thánh hiến, dấn thân nhiều trong việc đặt kế hoạch mục vụ và đưa ra quyết định, nhờ các cơ cấu tham gia như Hội Đồng Mục Vụ và các Hội Đoàn Giáo Xứ (129).

Trong mỗi Giáo Phận, Giáo xứ vẫn là nơi bình thường để người tín hữu tập hợp và lớn lên trong đức tin, sống mầu nhiệm hiệp thông Giáo Hội và dự phần trong sứ mạng của Giáo Hội. Cho nên, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng thúc giục các Chủ Chăn tìm ra những phương thế mới và hữu hiệu để chăn dắt người tín hữu, làm thế nào để mỗi người, cách riêng người nghèo, sẽ cảm thấy mình thật sự là một thành phần của Giáo xứ và của toàn thể dân Chúa. Sự tham gia của người giáo dân trong việc lên kế hoạch mục vụ phải là một nét bình thường của tất cả các Giáo xứ (130). Thượng Hội Đồng chọn riêng giới trẻ làm những người mà “Giáo xứ phải dành cho nhiều cơ hội hơn, để họ sống tình bạn và hiệp thông. như tổ chức hiệp hội tông đồ và câu lạc bộ giới trẻ” (131). Không một người nào bị loại trừ cách tiên thiên, khỏi sự chia sẻ đầy đủ vào đời sống và sứ mạng của Giáo xứ, chỉ vì quá trình xã hội, kinh tế, chính trị, văn hoá hay giáo dục của họ. Vì mỗi người theo Đức Kitô đều có một quà tặng để trao ban cho cộng đoàn, nên cộng đoàn phải có thiện chí đón nhận và hưởng nhờ tặng vật của mỗi người.

Trong bối cảnh này, và theo kinh nghiệm mục vụ của mình, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhấn mạnh giá trị của những cộng đoàn Giáo Hội cơ bản như là một phương thức hiệu nghiệm để cổ võ sự hiệp thông và tham gia trong các Giáo xứ và Giáo phận, và như là một lực lượng đích thực cho việc rao giảng Tin Mừng (132). Những nhóm nhỏ này giúp người tín hữu sống thành những cộng đoàn tin, cầu nguyện và yêu thương như các Kitô hữu thời đầu (x. Cv 2,44-47; 4,32-35). Các cộng đoàn này có mục đích là giúp đỡ các thành viên của mình sống Tin Mừng trong một tinh thần yêu thương huynh đệ và phục vụ, và do đó chúng là khởi điểm vững chắc để xây dựng một xã hội mới, một diễn tả của nền văn minh tình thương. Cùng với Thượng Hội Đồng, tôi khuyến khích Giáo Hội tại Á Châu, nơi nào có thể, thì xem những cộng đoàn cơ bản này như là một nét tích cực của hoạt động truyền giáo của Giáo Hội. Đồng thời, các cộng đoàn này chỉ có thể mang lại hiệu quả đích thực nếu -như Đức ĐGH Phaolô VI viết- chúng hiệp nhất với Giáo Hội địa phương và Giáo Hội hoàn vũ, trong sự hiệp thông chân tình với các vị Chủ Chăn của Giáo Hội và với Huấn Quyền, biết dấn thân mở rộng việc truyền giáo và không theo chủ nghĩa biệt lập hay sự khai thác ý thức hệ (133). Sự hiện diện của những cộng đoàn nhỏ này không làm cho vô hiệu những thể chế và cơ cấu đã được thiết lập, vẫn còn cần thiết để Giáo Hội hoàn thành sứ vụ của mình.

Thượng Hội Đồng cũng nhìn nhận vai trò của những phong trào canh tân, để xây dựng sự hiệp thông, để tạo điều kiện thuận lợi giúp có kinh nghiệm thân mật hơn với Thiên Chúa qua đức tin và các Bí Tích, và để cổ võ việc hoán cải đời sống (134). Trách nhiệm của các Chủ Chăn là hướng dẫn, đồng hành và khích lệ những nhóm đó để họ có thể hội nhập vào đời sống và sứ mạng của Giáo xứ và Giáo phận. Những ai dấn thân vào trong các hiệp hội và phong trào, phải trợ giúp Giáo Hội tại địa phương và đừng có coi mình như là những gì thay thế cho những cơ cấu Giáo phận và đời sống Giáo xứ. Sự hiệp thông lớn mạnh hơn khi các lãnh đạo địa phương của các phong trào này làm việc chung với các vị Chủ Chăn trong tinh thần bác ái vì lợi ích chung (x. 1 Cr 1,13).

Tình Liên Đới Giữa Các Giáo Hội

26. Sự hiệp thông nội bộ góp phần tạo ra tình liên đới giữa các Giáo Hội địa phương. Việc chú ý tới các nhu cầu địa phương là điều chính đáng và cần thiết, nhưng sự hiệp thông đòi hỏi các Giáo Hội địa phương cởi mở đón tiếp lẫn nhau và cộng tác với nhau, để trong sự khác biệt, họ có thể gìn giữ và tỏ bày rõ ràng mối giây hiệp thông với Giáo Hội hoàn vũ. Sự hiệp thông đòi hỏi phải hiểu biết lẫn nhau và một đường lối truyền giáo có phối hợp, mà không làm tổn hại sự độc lập và các quyền của các Giáo Hội, theo truyền thống thần học, phụng vụ và thiêng liêng của riêng từng Giáo Hội. Tuy nhiên lịch sử cho thấy rằng các mối chia rẽ thường đã làm tổn thương sự hiệp thông của các Giáo Hội tại Á Châu. Suốt bao thế kỷ, các mối liên hệ giữa các Giáo Hội địa phương thuộc các quyền tài phán khác nhau, các truyền thống phụng vụ và các phương cách truyền giáo, nhiều khi căng thẳng và khó khăn. Các Giám Mục hiện diện tại Thượng Hội Đồng nhìn nhận rằng, ngay cả ngày hôm nay, trong nội bộ và giữa các Giáo Hội địa phương tại Á Châu, thỉnh thoảng xảy ra những chia rẽ đáng tiếc, thường liên can đến những khác biệt về nghi lễ, ngôn ngữ, chủng tộc, đẳng cấp và ý thức hệ. Một số vết thương đã được chữa lành phần nào, nhưng chưa lành hẳn. Nhìn nhận rằng nơi nào sự hiệp thông bị suy yếu, thì chứng tá của Giáo Hội và công việc truyền giáo bị thiệt hại, nên các Nghị Phụ đề nghị những bước cụ thể để gia tăng mối liên hệ giữa các Giáo Hội địa phương tại Á Châu. Ngoài những diễn tả cần thiết về mặt thiêng liêng như cổ vũ và khuyến khích, các ngài gợi ý có sự phân bổ đều hơn các linh mục, sự liên đới tài chánh hữu hiệu hơn, những trao đổi văn hoá và thần học, và tăng thêm những dịp thông hiệp giữa các Giáo phận (135).

Những hiệp hội Giám mục cấp vùng hay cấp lục địa, đáng chú ý là Hội Đồng các Thượng Phụ Giáo Chủ Trung Đông và Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu, đã góp phần cổ võ sự hiệp nhất giữa các Giáo Hội địa phương và đã là nơi gặp gỡ để cộng tác giải quyết những vấn đề mục vụ. Cũng vậy, có nhiều trung tâm thần học, tu đức và hoạt động mục vụ tại Á Châu đã cổ võ sự hiệp thông và hợp tác cụ thể (136). Tất cả phải quan tâm lo cho các sáng kiến đầy hứa hẹn đó được phát triển hơn nữa vì lợi ích vừa của Giáo Hội vừa của xã hội tại Á Châu.

Những Giáo Hội Công Giáo Đông Phương

27. Hoàn cảnh các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương, nhất là ở Trung Đông và Ấn độ đáng lưu ý cách riêng. Từ thời các Tông Đồ, các Giáo Hội đó đã nắm giữ một gia sản thiêng liêng, phụng vụ và thần học quí báu. Những truyền thống và nghi lễ của các Giáo Hội ấy, phát sinh từ việc hội nhập văn hoá sâu xa của đức tin trong phần đất của nhiều quốc gia Á Châu, đáng được sự kính trọng nhất. Cùng với các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, tôi kêu gọi mọi người nhìn nhận những tập quán chính đáng và sự tự do chính đáng của các Giáo Hội này trong các vấn đề kỷ luật và phụng vụ, như được qui định trong bộ giáo luật của các Giáo Hội Đông Phương (137). Theo giáo huấn của Công Đồng Vatican II, có một nhu cầu cấp bách vượt thắng những sợ hãi và hiểu lầm thỉnh thoảng xuất hiện giữa các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương và Giáo Hội La tinh, và giữa các Giáo Hội này với nhau, đặc biệt trong việc chăm sóc mục vụ cho các tín hữu của mình, cả bên ngoài địa hạt của mình (138). Là con cái của một Giáo Hội duy nhất, được tái sinh vào sự sống mới trong Đức Kitô, các tín hữu được mời gọi gánh vác mọi sự trong sự quan tâm đến mục đích chung, trong một tinh thần tin tưởng và bác ái không lay chuyển. Không nên để những xung đột tạo nên chia rẽ, nhưng ngược lại phải giải quyết trong tinh thần chân lý và kính trọng, bởi vì không có sự thiện hảo nào đến mà không do tình yêu (139).

Những Giáo Hội đáng kính này đã trực tiếp dấn thân vào cuộc đối thoại đại kết với các Giáo Hội Chính Thống đàn chị, và các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng thúc giục họ tiếp tục con đường đó (140). Các Giáo Hội ấy cũng đã có kinh nghiệm đáng giá trong việc đối thoại liên tôn, nhất là với Hồi giáo. Điều đó có thể hữu ích cho các Giáo Hội khác tại Á Châu và bất cứ nơi nào khác. Rõ ràng là các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương có một sự phong phú lớn lao về truyền thống và kinh nghiệm có thể đem lại nhiều lợi ích cho toàn thể Giáo Hội.

Chia Sẻ Những Hy Vọng Và Đau Khổ

28. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cũng ý thức về sự cần thiết giữ một sự hiệp thông và hợp tác hữu hiệu với các Giáo Hội địa phương tại các phần đất Sô-viết cũ ở Á Châu, những Giáo Hội đang tái thiết trong những hoàn cảnh đầy thử thách do thời kỳ khó khăn lịch sử để lại. Giáo Hội đồng hành với họ trong lời cầu nguyện, chia sẻ những đau khổ và hy vọng mới tìm lại được của họ. Tôi khuyến khích toàn thể Giáo Hội nâng đỡ họ về mặt tinh thần, thiêng liêng và vật chất, và cung ứng cho họ các thừa tác viên giáo sĩ hay giáo dân mà họ rất cần, để giúp đỡ những cộng đồng này trong công tác chia sẻ với các dân tộc những vùng đất này tình yêu của Thiên Chúa được mạc khải trong Đức Kitô (141).

Trong nhiều phần đất Á Châu, anh chị em chúng ta tiếp tục sống đức tin giữa những hạn chế hay là có khi mất hoàn toàn tự do. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng bày tỏ sự quan tâm và lo lắng cách riêng đối với những thành viên đang đau khổ này. Cùng với các Giám Mục Á Châu, tôi tha thiết xin anh chị em của các Giáo Hội đang gặp khó khăn này, biết kết hợp các đau khổ của mình với các đau khổ của Chúa chịu đóng đinh, bởi vì chúng ta và họ đều biết duy chỉ có thánh giá, khi bằng lòng vác trong đức tin và tình yêu, mới là con đường phục sinh và ban sự sống mới cho nhân loại. Tôi khuyến khích các Hội đồng Giám Mục quốc gia tại Á Châu thiết lập một văn phòng để giúp đỡ các Giáo Hội này, và tôi cam kết Toà Thánh tiếp tục gần gũi và lo lắng cho tất cả những ai đang bị bắt bớ vì niềm tin vào Đức Kitô (142). Tôi kêu gọi các chính phủ và các vị lãnh đạo quốc gia chấp nhận và thực hiện những chính sách bảo đảm tự do tôn giáo cho tất cả các công dân của mình.

Trong nhiều dịp, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã nghĩ tới Giáo Hội Công giáo tại lục địa Trung Hoa, và cầu nguyện cho sớm tới ngày anh chị em Trung Hoa thân mến của chúng ta được hoàn toàn tự do thực hành đức tin của mình trong sự hiệp thông hoàn toàn với Toà Thánh Phêrô và Giáo Hội hoàn vũ. Hỡi những anh chị em Trung Hoa thân mến, tôi tha thiết gởi lời nhắn nhủ này với anh chị em: đừng bao giờ để những gian khổ và buồn phiền làm giảm sút lòng sốt mến của anh chị em đối với Đức Kitô và sự dấn thân của anh chị em đối với quê hương vĩ đại của anh chị em (143). Thượng Hội Đồng cũng bày tỏ sự liên đới chân tình với Giáo Hội công giáo tại Triều Tiên, và ủng hộ “những nỗ lực của người công giáo nhằm trợ giúp dân chúng Bắc Triều Tiên đang thiếu thốn những phương tiện tối thiểu để sống còn, và mang lại hoà giải giữa hai quốc gia có cùng một chủng tộc, một ngôn ngữ và một gia sản văn hoá” (144).

Cũng vậy, Thượng Hội Đồng thường nghĩ tới Giáo Hội tại Giêrusalem, một Giáo Hội có chỗ đứng đặc biệt trong con tim của mọi Kitô hữu. Quả vậy, những lời nói của ngôn sứ Isaia vang dội trong con tim hàng triệu người tín hữu khắp thế giới, đối với họ Giêrusalem chiếm một chỗ đứng duy nhất và thân ái: “Hãy vui mừng với Giêrusalem, hãy vì thành Giêrusalem mà hoan hỉ, hỡi tất cả những người yêu mến thành đô!. để được thoả thích nếm mùi sung mãn vinh quang, như trẻ thơ bú no bầu sữa mẹ” (66,10-11). Giêrusalem, đô thị của sự hoà giải con người với Thiên Chúa và với nhau, đã nhiều phen là một nơi xung đột và chia rẽ. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng kêu gọi các Giáo Hội địa phương biểu lộ một sự liên đới với Giáo Hội tại Giêrusalem, bằng cách chia sẻ những đau buồn, cầu nguyện và hợp tác với Giáo Hội này nhằm phục vụ hoà bình, công bình và hoà giải giữa hai dân tộc và ba tôn giáo hiện diện trong Thành Thánh này (145). Tôi lập lại lời kêu gọi mà tôi thường gởi đến các vị lãnh đạo chính trị và tôn giáo và mọi người thiện chí, nhằm tìm kiếm những phương thức bảo đảm hoà bình và sự toàn vẹn cho Giêrusalem. Như tôi đã viết, tôi tha thiết ước mong làm một chuyến hành hương tôn giáo tới đó, như vị Tiền Nhiệm của tôi là Đức Phaolô VI, để cầu nguyện trong thành thánh nơi Đức Giêsu Kitô đã sống, đã chết và đã chổi dậy và viếng nơi mà, trong quyền lực Chúa Thánh Thần, các tông đồ đã ra đi rao giảng Tin Mừng Đức Giêsu Kitô cho thế giới (146).

Một Sứ Mạng Đối Thoại

29. Chủ đề chung của các Thượng Hội Đồng “lục địa” khác nhau nhằm chuẩn bị Đại Năm Thánh năm 2000, đó là Tân Phúc Âm hoaù. Một thời kỳ mới của việc loan báo Tin Mừng là cần thiết, không những vì, sau hai ngàn năm, một phần lớn gia đình nhân loại còn chưa biết Đức Kitô, nhưng cũng vì hoàn cảnh mà Giáo Hội và thế giới đang sống ở ngưỡng cửa ngàn năm thứ ba, gợi lên những thách đố đặc biệt đối với niềm tin tôn giáo và những chân lý luân lý phát sinh từ đó. Gần như nơi nào cũng có khuynh hướng xây dựng sự tiến bộ và sự thịnh vượng mà không hề qui chiếu về Thiên Chúa, và khuynh hướng thu gọn chiều kích tôn giáo của con người vào lãnh vực riêng tư. Xã hội nào tách biệt khỏi chân lý nền tảng nhất về con người, nghĩa là mối tương quan với Đấng Tạo hoá và sự cứu chuộc do Đức Kitô thực hiện trong Chúa Thánh Thần thì chỉ có thể càng ngày càng lạc xa nguồn mạch đích thật của sự sống, tình yêu và hạnh phúc. Thế kỷ đầy tàn bạo này, đang đến hồi kết thúc, đưa ra một chứng tá khủng khiếp về cái gì có thể xảy ra khi chân lý và sự thiện bị bỏ qua, để chạy theo sự tham lam quyền lực và mở rộng quyền hành cho mình. Việc tân Phúc Âm hoá, như là một lời mời gọi hoán cải, hướng về ân sủng và khôn ngoan, là niềm hy vọng đích thực và duy nhất về một thế giới tốt đẹp hơn và một tương lai sáng sủa hơn. Vấn đề không phải là Giáo Hội có điều gì căn bản để nói với những con người nam nữ của thời đại chúng ta, nhưng Giáo Hội có thể nói điều đó cách nào cho rõ ràng và xác tín!

Thời gian họp Công đồng Vatican II, vị tiền nhiệm của tôi là Đức Phaolô VI, trong thông điệp Ecclesiam suam, đã tuyên bố rằng vấn đề mối tương quan giữa Giáo Hội và thế giới Tân thời, là một trong những vấn đề quan trọng nhất của thời đại chúng ta. Ngài viết rằng “sự hiện hữu của nó và sự cấp bách của nó, như thể tạo nên một gánh nặng trên tâm hồn chúng ta, tạo ra một kích thích, một ơn gọi” (147). Kể từ Công Đồng, Giáo Hội luôn tỏ ra rằng mình muốn theo đuổi mối tương quan đó trong tinh thần đối thoại. Tuy nhiên ước muốn đối thoại không phải đơn thuần là một chiến lược để chung sống hoà bình giữa các dân tộc, nó còn là một phần chủ yếu của sứ mạng Giáo Hội, bởi vì nó bắt nguồn từ sự đối thoại cứu rỗi đầy yêu thương của Chúa Cha với nhân loại qua Chúa Con trong quyền năng Chúa Thánh Thần. Giáo Hội chỉ có thể hoàn thành sứ mạng mình theo một cách thức phù hợp với cách thức mà Thiên Chúa đã hành động trong Đức Giêsu Kitô: trở nên người phàm, chia sẻ đời sống nhân loại chúng ta và nói bằng ngôn ngữ con người để truyền thông sứ điệp cứu rỗi của Người. Sự đối thoại mà Giáo Hội đề nghị, đặt nền tảng trên cái lô-gích của mầu nhiệm Nhập Thể. Do đó, không gì ngoài tình liên đới nhiệt thành và vô vị lợi thúc giục Giáo Hội đối thoại với những người nam nữ Á Châu, là những người đang tìm kiếm chân lý trong tình yêu.

Là bí tích hiệp nhất toàn thể nhân loại, Giáo Hội không thể không đi vào cuộc đối thoại với các dân tộc, trong mọi lúc và mọi nơi. Đáp trả với sứ mạng đã lãnh nhận, Giáo Hội dám đi gặp các dân tộc trên thế giới, ý thức rằng mình là “một đoàn chiên bé nhỏ” giữa đám đông bao la nhân loại (x. Lc 12,32), nhưng cũng là men trong đấu bột của thế giới (x. Mt 13,33). Trước hết, Giáo Hội cố gắng dấn thân đối thoại với những kẻ chia sẻ niềm tin với mình vào Đức Giêsu Kitô, là Chúa và Đấng Cứu độ. Sự đối thoại trải rộng ra ngoài thế giới Kitô giáo, tới những kẻ theo mọi truyền thống tôn giáo khác, dựa trên nền tảng là khát vọng tôn giáo có trong tâm hồn mọi người. Đối thoại đại kết và đối thoại liên tôn tạo thành một ơn gọi đích thật của Giáo Hội.

Đối Thoại Đại Kết

30. Đối thoại đại kết là một thách đố và là một lời mời gọi hoán cải đối với toàn thể Giáo Hội, cách riêng đối với Giáo Hội tại Á Châu, nơi mà dân chúng trông chờ nơi người Kitô hữu một dấu chỉ rõ nét hơn về sự hợp nhất. Để cho mọi dân tộc qui tụ lại dưới tác động của ân sủng Chúa, thì cần phải khôi phục sự hiệp thông giữa những kẻ, trong đức tin, đã nhìn nhận Đức Giêsu Kitô là Chúa. Chính Đức Giêsu đã cầu nguyện và không ngừng kêu gọi các môn đệ hợp nhất với nhau, để thế gian có thể tin rằng Chúa Cha đã sai Người (x. Ga 17,21) (148). Nhưng ý của Chúa muốn cho Giáo Hội nên một, còn trông chờ sự đáp trả hoàn toàn và can đảm từ phía các môn đệ của Người.

Tại Á Châu, do số Kitô hữu tương đối ít, nên sự chia rẽ càng làm cho công việc truyền giáo trở nên khó khăn hơn. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhìn nhận rằng “gương xấu của một Kitô giáo chia rẽ, là một ngăn trở lớn cho việc rao giảng Tin Mừng tại Á Châu” (149). Quả thực, nhiều người tại Á Châu đang đi tìm sự hoà hợp và hiệp nhất qua các tôn giáo và văn hoá của họ, coi sự chia rẽ giữa các Kitô hữu như là một phản chứng với Đức Giêsu Kitô. Do đó Giáo Hội Công Giáo tại Á Châu đặc biệt cảm thấy bị thúc đẩy hợp nhất với các Kitô hữu khác, và nhận thức rằng tìm kiếm sự hoà hợp đầy đủ đòi hỏi mỗi người phải có lòng bác ái, sự biện phân, lòng can đảm và niềm hy vọng. “Muốn trở nên xác thực và mang lại kết quả, phong trào đại kết đòi hỏi một số trạng thái tinh thần cơ bản về phía người tín hữu Công Giáo: trước hết là đức ái, với một cái nhìn đầy thiện cảm và ước muốn hăng say hợp tác, nơi nào có thể được, với tín hữu của các Giáo Hội và của các cộng đoàn Giáo Hội khác; hai là, lòng trung thành với Giáo Hội Công Giáo, không vì thế mà phớt lờ hoặc phủ nhận những khuyết điểm nơi một số thành phần của Giáo Hội; ba là, một tinh thần biết biện phân để thấy giá trị của tất cả những gì là tốt và đáng ngợi khen. Sau cùng, một ước muốn thanh tẩy và đổi mới chân thành cũng là điều cần thiết” (150).

Đang khi công nhận những khó khăn còn tồn tại trong các liên hệ giữa người Kitô hữu, những khó khăn đó bao gồm không những các thành kiến trong quá khứ, mà còn những phê phán ăn rễ sâu trong các niềm xác tín đụng chạm tới lương tâm, (151) các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cũng chỉ rõ những dấu chỉ về các liên hệ được cải thiện giữa một số Giáo Hội Kitô giáo và những cộng đồng Giáo Hội tại Á Châu. Những Kitô hữu Công giáo và Chính thống giáo, chẳng hạn, thường nhìn nhận một sự thống nhất văn hoá với nhau, một cảm thức chia sẻ các yếu tố quan trọng của một truyền thống Giáo Hội chung. Điều đó làm thành một nền tảng vững chắc để tiếp tục cuộc đối thoại đại kết có hiệu quả trong ngàn năm sắp tới. Chúng ta phải hy vọng và cầu nguyện cho ngàn năm sắp tới này chấm dứt mọi chia rẽ của ngàn năm sắp kết thúc.

Trên bình diện thực hành, Thượng Hội Đồng đề nghị các Hội Đồng Giám Mục quốc gia tại Á Châu, mời những Giáo Hội Kitô giáo khác liên kết trong một tiến trình cầu nguyện và trao đổi, để nghiên cứu khả năng hình thành các cơ cấu và hiệp hội đại kết nhằm cổ võ sự hiệp nhất Kitô giáo. Gợi ý của Thượng Hội Đồng muốn cho Tuần lễ Cầu Nguyện cho sự Hiệp Nhất Kitô giáo được cử hành cách có kết quả hơn, cũng là một trợ giúp. Các Giám Mục được khích lệ thiết lập và trông nom các trung tâm đại kết để cầu nguyện và đối thoại; và sự đào tạo thích đáng cho việc đối thoại đại kết cần phải được đem vào chương trình giảng dạy tại các chủng viện, các nhà huấn luyện và những cơ sở giáo dục.

Đối Thoại Liên Tôn

31. Trong Tông Thư Tertio Millenio Adveniente, tôi đã trình bày rằng biến cố ngàn năm mới là một dịp lớn để đối thoại liên tôn và để gặp gỡ các nhà lãnh đạo những tôn giáo lớn thế giới (152). Tiếp xúc, đối thoại và hợp tác với những người theo các tôn giáo khác, là một trách nhiệm mà Công Đồng Vatican II trối lại cho toàn thể Giáo Hội như là một bổn phận và một thách đố. Những nguyên tắc để tìm kiếm một tương giao tích cực với các truyền thống tôn giáo khác, đã được trình bày trong Tuyên Ngôn Nostra Aetate của Công Đồng, ban hành ngày 28 tháng 10 năm 1965, đó là bản Đại Hiến Chương về đối thoại liên tôn của thời đại chúng ta. Đứng từ quan điểm Kitô giáo, đối thoại kiên tôn còn hơn là một cách thức cổ võ sự hiểu biết và làm giàu cho nhau; đó là thành phần của sứ mạng rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội, một diễn tả của sứ vụ đến với dân ngoại (Ad Gentes) (153). Người Kitô hữu mang đến cho cuộc đối thoại liên tôn niềm xác tín vững chắc rằng ơn cứu độ trọn vẹn chỉ đến từ Đức Kitô và cộng đoàn Giáo Hội mà họ thuộc về, là một phương tiện bình thường của sự cứu rỗi (154). Ở đây tôi lập lại điều tôi đã viết cho khoá họp khoáng đại lần thứ 5 của Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu: “Mặc dầu Giáo Hội vui mừng công nhận bất cứ cái gì là chân thật và thánh thiêng trong các truyền thống đạo Phật, đạo Hindu và đạo Hồi, như là một phản ảnh của chân lý soi sáng muôn dân, điều đó không làm giảm thiểu bổn phận và quyết tâm của Giáo Hội, đó là rao giảng không do dự về Đức Giêsu Kitô, Đấng là “đường, là sự thật và là sự sống”. Sự kiện những kẻ theo các tôn giáo khác có thể nhận lãnh ân sủng của Thiên Chúa và được Đức Kitô cứu độ không bằng những phương tiện bình thường Người đã thiết lập, không vì thế mà hủy bỏ mời gọi lãnh nhận đức tin và phép Thánh tẩy mà Thiên Chúa muốn cho mọi người” (155).

Trong quá trình đối thoại, như tôi đã viết trong Thông Điệp Redemptoris Missio, “không thể loại bỏ các nguyên tắc, cũng không nên chủ trương hoà giải giả tạo (irenicism), nhưng ngược lại, phải làm chứng lẫn cho nhau để cùng nhau tiến bước trên con đường tìm kiếm và sống kinh nghiệm tôn giáo, và đồng thời loại bỏ được những tiên kiến, bất bao dung và hiểu lầm” (156). Chỉ những người có đức tin Kitô giáo trưởng thành và xác tín, mới có tư cách dấn thân vào việc đối thoại liên tôn chân chính. “Chỉ những Kitô hữu được dìm sâu vào trong mầu nhiệm Đức Kitô và sống hạnh phúc trong cộng đồng đức tin của họ, mới có thể dấn thân vào việc đối thoại liên tôn, mà tránh được sự liều lĩnh không đáng và có hy vọng hái được hoa quả tích cực” (157). Do đó, điều quan trọng tại Á Châu là cung cấp những kiểu mẫu xứng hợp cho cuộc đối thoại liên tôn -Phúc âm hoá trong đối thoại và đối thoại để Phúc âm hoá- và sự đào tạo xứng hợp cho những ai dấn thân vào đó.

Khi đã nhấn mạnh về sự cần thiết của sự đối thoại liên tôn để tiến tới một đức tin vững mạnh trong Đức Kitô, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nói tiếp về sự cần thiết phải đối thoại bằng cuộc sống và con tim (dialogue of life and heart). Môn đệ Đức Kitô phải có tấm lòng hiền lành và khiêm nhượng của Thầy mình, không bao giờ tỏ ra kiêu căng, không bao giờ có thái độ hạ cố, khi gặp những đối tác trong cuộc đối thoại (x. Mt 11,29). “Những liên hệ liên tôn được phát huy tốt nhất trong khung cảnh cởi mở với những tín hữu khác, một thái độ saün sàng lắng nghe, ước muốn kính trọng và hiểu biết kẻ khác trong sự khác biệt của họ. Để đạt được tất cả điều đó, cần phải thương yêu kẻ khác. Điều đó phải dẫn đến sự hợp tác, hoà hợp và làm giàu cho nhau” (158).

Để hướng dẫn những người dấn thân trong tiến trình này, Thượng Hội Đồng gợi ý soạn thảo một cuốn kim chỉ nam về đối thoại liên tôn (159). Đang khi Giáo Hội thăm dò những thể thức mới để gặp gỡ các tôn giáo khác, tôi nhắc lại một số hình thức đối thoại đã thực hiện được và có kết quả tốt, gồm có những trao đổi nghiên cứu giữa các chuyên viên trong nhiều truyền thống tôn giáo khác nhau hay những đại diện của các truyền thống này, hành động chung nhằm phát triển toàn diện con người và bênh vực các giá trị nhân bản và tôn giáo (160). Tôi nhắc lại là thật quan trọng biết bao việc làm sinh động lại sự cầu nguyện và chiêm ngưỡng trong quá trình đối thoại. Các người nam và nữ trong đời sống thánh hiến, có thể góp phần rất có ý nghĩa trong việc đối thoại liên tôn, bằng cách làm chứng cho sức mạnh của các truyền thống lớn Kitô giáo, là chủ thuyết khổ chế và thần bí (161).

Cuộc gặp gỡ đáng ghi nhớ tại Assisi, thành phố của thánh Phanxicô, ngày 27 tháng 10 năm 1986, giữa Giáo Hội Công giáo và đại biểu các tôn giáo khác trên thế giới, chứng tỏ rằng các người nam nữ có tôn giáo, tuy không bỏ các truyền thống riêng của mình, vẫn còn có thể dấn thân vào việc cầu nguyện và kiến tạo hoà bình thịnh vượng cho nhân loại (162). Giáo Hội phải tiếp tục cố gắng gìn giữ và cổ võ, ở mọi cấp bậc, tinh thần gặp gỡ và hợp tác giữa các tôn giáo đó.

Sự hiệp thông và đối thoại là hai khía cạnh thiết yếu của sứ mạng Giáo Hội. Sứ mạng đó có một tấm gương vô cùng nổi bật trong mầu nhiệm Ba Ngôi, từ đó phát xuất mọi sứ mạng và từ đó mọi sứ mạng phải hướng tới. Một trong những món quà “sinh nhật” quý báu mà các thành viên của Giáo Hội, và nhất là các vị Chủ chăn của Giáo Hội, có thể dâng lên Đức Chúa của lịch sử nhân dịp kỷ niệm hai ngàn năm của mầu nhiệm Nhập Thể, là tăng cường tinh thần hiệp nhất và hiệp thông ở mọi cấp bậc đời sống Giáo Hội, là sự “hãnh diện thánh thiện” được đổi mới qua sự liên lỉ trung thành của Giáo Hội đối với những sự gì đã được ban cho, và là một sự tin tưởng mới mẻ vào ân sủng và sứ mạng bất biến đã sai Giáo Hội đi giữa các dân tộc trên thế giới để làm chứng cho tình yêu cứu chuộc và lòng thương xót của Thiên Chúa. Chỉ khi nào Dân Chúa nhìn nhận ân huệ là của mình trong Đức Kitô, thì họ mới có khả năng thông truyền ân huệ đó sang cho kẻ khác nhờ sự rao giảng và đối thoại.

ECCLESIA IN ASIA – GIÁO HỘI TẠI Á CHÂU (1)

TÔNG HUẤN HẬU THƯỢNG HỘI ĐỔNG

ECCLESIA IN ASIA
GIÁO HỘI TẠI Á CHÂU

CỦA ĐỨC THÁNH CHA GIOAN PHAOLÔ II
GỞI CÁC GIÁM MỤC, LINH MỤC VÀ PHÓ TẾ,
CÁC NGƯỜI NAM NỮ SỐNG ĐỜI THÁNH HIẾN,
VÀ TẤT CẢ GIÁO DÂN

VỀ ĐỨC GIÊSU KITÔ ĐẤNG CỨU ĐỘ VỀ SỨ VỤ TÌNH YÊU VÀ PHỤC VỤ CỦA NGƯỜI TẠI Á CHÂU:
“. ĐỂ CHO CHÚNG ĐƯỢC SỐNG
VÀ SỐNG DỔI DÀO”
(Ga 10,10)

DẪN NHẬP

Vẻ kỳ diệu trong kế hoạch của Thiên Chúa tại Á Châu

1. Giáo Hội tại Á Châu hát lời ngợi khen “Thiên Chúa cứu độ” (Tv 68,20) vì Người đã chọn khởi sự kế hoạch cứu độ của Người tại phần đất Á Châu, qua những người nam nữ của lục địa này. Quả thế, chính tại Á Châu mà Thiên Chúa đã mạc khải và hoàn thành ý định cứu độ của Người ngay từ đầu. Người hướng dẫn các tổ phụ (x. St 12) và kêu gọi ông Môisen giải thoát dân Người (x. Xh 3,10). Người nói với Dân được tuyển chọn qua nhiều ngôn sứ, quan án, vua chúa và những phụ nữ dũng cảm đầy lòng tin. Vào “thời viên mãn” (Gl 4,4), Người sai Con Một của Người, Đức Giêsu Kitô Đấng Cứu Độ, mặc lấy xác phàm làm người Á Châu! Hoan hỉ vì những điều thiện hảo nơi các dân tộc, các nền văn hoá và sức sống tôn giáo của lục địa, và đồng thời ý thức đến quà tặng duy nhất là đức tin mà mình đã lãnh nhận vì thiện ích mọi người, Giáo Hội tại Á Châu không ngừng loan báo: “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 118,1).

Vì Đức Giêsu sinh ra, sống, chết và chỗi dậy từ cõi chết nơi Đất Thánh, vùng đất bé nhỏ ấy ở Tây Á đã trở nên mảnh đất đầy hứa hẹn và hy vọng cho cả loài người. Đức Giêsu đã biết đến và yêu mến mảnh đất này. Người gắn bó với lịch sử, những đau khổ và hy vọng của dân miền này. Người thương yêu dân miền này và đi theo truyền thống và di sản Do Thái. Quả thực từ lâu trước, Thiên Chúa đã chọn dân này và mạc khải chính mình cho họ để chuẩn bị cho Đấng Cứu Thế đến. Và từ mảnh đất này, nhờ lời rao giảng Tin Mừng trong quyền năng của Chúa Thánh Thần, Giáo Hội đã ra đi để làm cho “muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19). Cùng với Giáo Hội hoàn cầu, Giáo Hội tại Á Châu sẽ bước qua ngưỡng cửa ngàn năm thứ ba, vừa kinh ngạc trước những gì Thiên Chúa đã thực hiện từ những bước đầu ấy cho tới ngày nay, vừa hiểu rõ rằng “cũng như trong ngàn năm thứ nhất, Thánh Giá đã được cắm trên miền đất Âu Châu, rồi trong ngàn năm thứ hai được cắm trên miền đất Mỹ Châu và Phi Châu, thì chúng ta có thể cầu ước nguyện rằng, trong ngàn năm thứ ba Kitô giáo, một mùa gặt lớn về đức tin sẽ được thu hoạch tại lục địa rộng lớn và đầy sức sống này” (1).

Bối Cảnh Của Hội Nghị Đặc Biệt

2. Trong Tông Thư Tertio Millennio Adveniente, tôi có đưa ra một chương trình để Giáo Hội đón mừng ngàn năm thứ ba Kitô giáo, một chương trình tập trung vào những thách đố của công cuộc Phúc Âm hoá mới. Một nét quan trọng của chương trình này là họp Thượng Hội Đồng các lục địa, để các Giám Mục có thể đề cập vấn đề Phúc Âm hoá tuỳ theo hoàn cảnh riêng và nhu cầu của mỗi lục địa. Những kỳ họp Thượng Hội Đồng này, liên kết bằng một chủ đề chung là công cuộc Phúc Âm hoá mới, đã tỏ ra là một phần quan yếu trong việc Giáo Hội chuẩn bị mừng Đại Năm Thánh 2000.

Trong chính Tông Thư này, khi nhắc tới Hội Nghị đặc biệt Thượng Hội Đồng các Giám Mục Á Châu, tôi đã lưu ý rằng trên phần đất này của thế giới “việc gặp gỡ của Kitô giáo với những nền văn hoá và tôn giáo địa phương có từ lâu đời, phải là một vấn đề cấp bách. Đây là một thách đố lớn đối với việc Phúc Âm hoá, bởi vì những hệ thống tôn giáo như Phật giáo hay Ấn giáo đều có một đặc tính rõ rệt là cứu nhân độ thế” (2). Quả thực đây là một huyền nhiệm: tại sao Đấng Cứu Thế sinh ra tại Châu Á mà cho đến nay vẫn có nhiều người của lục địa này chưa biết đến Người. Thượng Hội Đồng sẽ là một cơ hội quan phòng đối với Giáo Hội tại Á Châu để suy nghĩ sâu sắc hơn nữa về huyền nhiệm này và tái dấn thân vào sứ mạng làm cho mọi người biết rõ Đức Giêsu Kitô hơn. Hai tháng sau khi công bố Tertio Millennio Adveniente, trong buổi nói chuyện với Hội Nghị khoáng đại lần thứ sáu của Liên Hiệp các Hội Đồng Giám Mục Á Châu tại Manila, Philíppin, nhân dịp cử hành ngày Quốc Tế Giới Trẻ lần thứ mười đáng ghi nhớ, tôi đã lưu ý các Giám mục: “Nếu Giáo Hội tại Á Châu phải hoàn thành vận mệnh quan phòng của mình, thì việc Phúc Âm hoá, nghĩa là một sự rao giảng vui tươi, nhẫn nại và tiệm tiến, về cái Chết và Phục sinh cứu độ của Đức Giêsu Kitô, phải là một ưu tiên tuyệt đối của các Hiền Huynh” (3).

Sự hưởng ứng tích cực của các Giám Mục và của các Giáo Hội địa phương về viễn tượng một Hội nghị đặc biệt về Á Châu của Thượng Hội Đồng Giám Mục thật hiển nhiên qua giai đoạn chuẩn bị. Các Giám Mục đã chia sẻ những mong ước và ý kiến của mình vào mỗi giai đoạn, cách chân tình và hiểu biết sâu sắc về lục địa. Các ngài đã làm điều đó trong thái độ hoàn toàn ý thức đến mối giây hiệp thông mà các ngài chia sẻ với Giáo Hội toàn cầu. Phù hợp với ý tưởng ban đầu của Tông Thư Tertio Millennio Adveniente và theo những đề nghị của Ban Chuẩn bị Thượng Hội Đồng sau khi xem xét các ý kiến của các Giám Mục và các Giáo Hội địa phương tại lục địa Á Châu, tôi đã chọn chủ đề cho Thượng Hội Đồng: Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu độ với sứ mạng tình yêu và phục vụ của Người tại Á Châu: “để cho chúng được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). Qua công thức đặc biệt đó của chủ đề, tôi hy vọng rằng Thượng Hội Đồng có thể “minh hoạ và giải thích đầy đủ hơn chân lý này: Đức Kitô là Trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người và là Đấng Cứu chuộc duy nhất của trần gian, bằng cách phân biệt Người cách rõ ràng với những vị sáng lập các tôn giáo lớn khác” (4). Bởi vì chúng ta tiến gần đến Đại Năm Thánh, Giáo Hội tại Á Châu cần đến khả năng loan báo với một nhiệt tình đổi mới: Ecce natus est nobis Salvator mundi, “Đây Đấng Cứu Độ trần gian sinh ra cho chúng ta”, sinh ra tại Á Châu!

Cử Hành Hội Nghị Đặc Biệt

3. Nhờ ơn Chúa, Hội Nghị đặc biệt của Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu đã diễn ra từ ngày 18/4 đến 14/5 năm 1998 tại Vatican. Hội nghị này tổ chức sau các Hội nghị đặc biệt dành cho Phi Châu (1994) và Mỹ Châu (1997), và được tiếp nối bởi Hội nghị dành cho Đại Dương Châu vào cuối năm (1998). Trong gần một tháng, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng và các tham dự viên, tụ họp quanh Đấng kế vị Thánh Phêrô và chia sẻ ơn thông hiệp phẩm trật, đã đem lại một tiếng nói và một khuôn mặt cụ thể cho Giáo Hội tại Á Châu. Quả thực đó là một thời gian ân sủng đặc biệt! (5). Những cuộc họp trước đó của các Giám Mục Á Châu, đã góp phần chuẩn bị Thượng Hội Đồng và tạo nên một bầu khí hiệp thông Giáo Hội và huynh đệ sâu sắc. Về phương diện này, có một tầm quan trọng đặc biệt là những Hội Nghị Khoáng Đại và những cuộc Hội Thảo đã được Liên Hiệp các Hội Đồng Giám Mục Á Châu và các Uûy ban tổ chức, đã qui tụ thường xuyên một số lớn Giám Mục Á Châu và đã cổ võ những mối giây liên lạc cá nhân cũng như thừa tác vụ giữa các ngài. Tôi đã có dịp thăm viếng vào một vài kỳ họp đó, đôi khi chủ sự việc cử hành Thánh lễ long trọng dịp khai mạc hay bế mạc. Trong những dịp này, tôi có thể trực tiếp quan sát cuộc gặp gỡ đối thoại giữa các Giáo Hội địa phương, có cả các Giáo Hội Đông Phương, qua các vị chủ chăn của họ. Những cuộc họp này và các cuộc họp khác theo miền của các Giám Mục Á Châu, do Chúa quan phòng, đã giúp chuẩn bị xa cho Thượng Hội Đồng.

Chính việc cử hành Thượng Hội Đồng này xác nhận tầm quan trọng của sự đối thoại như là một phương thức đặc thù của đời sống Giáo Hội tại Á Châu. Một sự chia sẻ chân tình và trung thực các kinh nghiệm, quan điểm và đề nghị, chứng tỏ đó là con đường đưa tới cuộc gặp gỡ đích thật của các tâm hồn, sự hiệp thông trí tuệ và con tim. Đó là một sự hiệp thông tôn trọng và vượt lên trên những khác biệt trong tình yêu. Đặc biệt gây xúc động là cuộc gặp gỡ giữa các Giáo Hội mới và các Giáo Hội cũ có nguồn gốc từ thời các Tông Đồ. Chúng tôi đã cảm nghiệm một niềm vui không gì bằng, khi thấy các Giám Mục các Giáo Hội địa phương tại Myanmar, Việt Nam, Lào, Campuchia, Mông Cổ, Siberia và những nước cộng hoà mới tại Trung Á, ngồi bên các anh em mình, là những người từ lâu ước ao gặp mặt họ và đối thoại với họ. Nhưng cũng có một nỗi buồn vì các Giám Mục lục địa Trung Hoa không thể có mặt được. Sự vắng mặt của các ngài là một sự nhắc nhớ đến những hy sinh và đau khổ anh hùng mà Giáo Hội tiếp tục gánh chịu trong nhiều phần đất Á Châu.

Cuộc gặp gỡ trong đối thoại giữa các Giám Mục và Đấng kế vị Thánh Phêrô với nhiệm vụ làm cho anh em mình nên vững mạnh (x. Lc 22,32), thật là một sự củng cố trong đức tin và sứ mạng. Ngày qua ngày, phòng Thượng Hội Đồng và các phòng họp khác tràn ngập những báo cáo về đức tin sâu sắc, về tình yêu quên mình, về niềm hy vọng không hề lay chuyển, về những dấn thân bền bĩ trong đau khổ, về lòng can đảm chịu đựng và về sự tha thứ đầy lòng thương xót, tất cả những điều đó hùng hồn vạch ra sự thật của những lời Đức Giêsu đã nói: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày” (Mt 28, 20). Thượng Hội Đồng là thời gian ân sủng, bởi vì đó là một sự gặp gỡ với Đấng Cứu độ, Đấng vẫn tiếp tục hiện diện trong Giáo Hội của Người qua quyền lực Chúa Thánh Thần, được cảm nhận qua sự đối thoại huynh đệ về sự sống, sự hiệp thông và sứ mạng.

Chia Sẻ Hoa Quả của Hội Nghị Đặc Biệt

4. Qua Tông huấn Hậu Thượng Hội Đồng này, tôi muốn chia sẻ với Giáo Hội tại Á Châu và khắp thế giới, những hoa quả của Hội Nghị Đặc Biệt này. Văn kiện này muốn chuyển đạt sự phong phú của biến cố thiêng liêng trọng đại đó của sự hiệp thông và tính tập đoàn Giám Mục. Thượng Hội Đồng đã là một cử hành tưởng niệm những nguồn gốc Kitô giáo tại Á Châu. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã nhắc nhớ lại cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên, Giáo Hội tiên khởi, đoàn chiên bé nhỏ của Đức Giêsu trên lục địa mênh mông này (x. Lc 12,32). Các ngài nhớ lại những gì Giáo Hội đã lãnh nhận và lắng nghe từ lúc khởi đầu (x. Kh 33), và, sau khi nhớ lại, các ngài ngợi ca lòng “nhân ái vô cùng của Chúa” (Tv 154,7), lòng nhân ái không bao giờ vơi. Thượng Hội Đồng cũng là một cơ hội để nhận ra những truyền thống tôn giáo và các nền văn minh cổ xưa, những triết lý thâm sâu và sự khôn ngoan đã làm cho Á Châu trở thành như ngày hôm nay. Trên hết tất cả, đã gợi nhớ rằng chính các dân tộc Á Châu là sự phong phú thật sự của lục địa và là hy vọng cho tương lai. Suốt thời gian Thượng Hội Đồng, những người trong chúng tôi đang hiện diện đều chứng kiến một cuộc gặp gỡ sinh nhiều hoa trái cách lạ thường giữa các nền văn hoá, văn minh cũ và mới của Á Châu. Thật tuyệt diệu khi thấy chúng trong sự khác biệt và đồng nhất, nhất là khi các biểu tượng, các bài ca, các điệu vũ và các màu sắc cùng chung nhau tạo nên sự hoà hợp hài hoà xung quanh một Bàn Thờ Chúa trong các buổi phụng vụ Thánh Thể khai mạc và bế mạc.

Đây không phải là một cuộc cử hành có động cơ là lòng kiêu hãnh nhắm đến các thành công nhân loại, nhưng đây là một cử hành ý thức đến những gì Đấng Toàn năng đã thực hiện cho Giáo Hội tại Á Châu (x. Lc 1,49). Khi nhắc tới tình trạng khiêm tốn của Cộng Đồng Công Giáo, cũng như những yếu đuối của các phần tử mình, Thượng Hội Đồng cũng là một lời kêu gọi hoán cải, ngõ hầu Giáo Hội tại Á Châu có thể trở nên xứng đáng hơn với các ân sủng mà Thiên Chúa tiếp tục ban tặng.

Thượng Hội Đồng không những là một việc tưởng niệm và một cử hành, mà còn là một sự khẳng định mãnh liệt về lòng tin vào Đức Giêsu Kitô Đấng Cứu độ. Tri ân vì hồng ân đức tin, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng không thấy có cách nào khác tốt hơn để tán dương đức tin cho bằng xác nhận đức tin trong sự toàn vẹn của nó, và suy nghĩ về đức tin trong mối tương quan với bối cảnh nó được loan báo và tuyên xưng tại Á Châu ngày nay. Các Nghị Phụ thường xuyên nhấn mạnh rằng đức tin đã được rao giảng với lòng tín thác và can đảm trên lục địa, cho dầu giữa những khó khăn to lớn. Nhân danh vô vàn người nam nữ tại Á Châu đặt niềm tin không nơi ai khác ngoài Chúa, các Nghị Phụ tuyên xưng: “Chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Ga 6,69). Đối mặt với nhiều vấn đề nhức nhối do đau khổ, bạo lực, kỳ thị và nghèo đói mà phần đông các dân tộc Á Châu phải gánh chịu, các Nghị Phụ cầu nguyện: “Tôi tin! Nhưng xin Thầy giúp lòng tin yếu kém của tôi” (Mc 9,24).

Năm 1995, tôi đã mời gọi các Giám Mục Á Châu đang tụ họp tại Manila “hãy mở rộng cửa của Á Châu cho Đức Kitô” (6). Múc lấy sức mạnh từ sự hiệp thông với vô số các vị tử đạo, nhiều khi không tên tuổi, vì đức tin tại Á Châu, và được vững tâm trong niềm hy vọng nhờ sự hiện diện tồn tại mãi mãi của Chúa Thánh Thần, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng can đảm kêu gọi tất cả môn đệ Đức Kitô tại Á Châu tái dấn thân cho việc truyền giáo. Trong kỳ họp Thượng Hội Đồng, các Giám Mục và những tham dự viên đã làm chứng về căn tính, về ngọn lửa thiêng liêng và về lòng hăng say, nhờ đó Á Châu chắc chắc sẽ thành mảnh đất cho mùa gặt dồi dào trong ngàn năm thứ ba sắp tới.

CHƯƠNG I
BỐI CẢNH Á CHÂU

Á Châu, Nơi sinh của Đức Giêsu và của Giáo Hội

5. Mầu nhiệm Nhập Thể của Con Thiên Chúa, mà toàn thể Giáo Hội sẽ long trọng mừng kỷ niệm trong Đại Năm Thánh 2000, xảy ra trong bối cảnh lịch sử và địa lý nhất định. Bối cảnh đó gây nên một ảnh hưởng quan trọng trên đời sống và sứ vụ của Đấng Cứu Chuộc trong tư cách một con người: “Trong Đức Giêsu thành Nadareth, Thiên Chúa đã mặc lấy những nét đặc trưng của bản tánh nhân loại, gồm có sự thuộc về một dân tộc nhất định và một lãnh thổ nhất định. Nét đặc thù tự nhiên của phần đất và vị trí địa lý của nó không thể tách rời khỏi chân lý là xác phàm con người được Ngôi Lời mặc lấy” (7). Do đó việc hiểu biết thế giới mà Đấng Cứu độ “đã ở giữa chúng ta” (Ga 1,14) là chìa khoá quan trọng giúp hiểu rõ hơn về ý định của Chúa Cha hằng hữu và tình yêu bao la của Người đối với mọi loài thụ tạo: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16).

Cũng vậy, Giáo Hội sống và hoàn thành sứ mạng mình trong hoàn cảnh hiện tại của thời gian và không gian. Sự hiểu biết có phê phán về những thực tại khác biệt và phức tạp của Châu Á là thiết yếu nếu dân Chúa trên lục địa muốn đáp trả lại ý muốn của Thiên Chúa đối với họ trong vấn đề Tân Phúc Âm hoá. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhấn mạnh rằng sứ vụ yêu thương và phục vụ của Giáo Hội tại Á Châu được quy định do hai yếu tố: một bên là sự hiểu biết của Giáo Hội về chính mình như là một cộng đồng môn đệ của Đức Giêsu Kitô, được tập hợp quanh các vị chủ chăn của mình, và bên kia là những thực tại xã hội, chính trị, tôn giáo, văn hoá và kinh tế tại Á Châu (8). Hoàn cảnh Á Châu được nghiên cứu tỉ mỉ trong Thượng Hội Đồng do những vị đã tiếp xúc hàng ngày với những thực tại rất khác biệt của một lục địa to lớn thế đó. Tiếp theo đây là bản tổng hợp thành quả những suy tư của các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng.

Những Thực Tại Tôn Giáo và Văn Hoá

6. Á Châu là lục địa to lớn nhất trên trái đất, và là nơi cư ngụ của gần hai phần ba dân số thế giới, với hai nước Trung Hoa và Ấn Độ chiếm gần nửa dân số thế giới. Nét nổi bật nhất của lục địa là sự khác biệt về dân tộc, “thừa kế những nền văn hoá, tôn giáo và truyền thống cổ xưa” (9). Chúng ta không thể không kinh ngạc về nguyên tầm mức dân số Châu Á và sự đan chéo phức tạp của nhiều nền văn hoá, ngôn ngữ, niềm tin và truyền thống, từng đó thứ làm nên một phần đáng kể trong lịch sử và gia sản của gia đình nhân loại.

Á Châu cũng là chiếc nôi của các tôn giáo lớn trên thế giới -Do Thái Giáo, Kitô Giáo, Hồi Giáo và Ấn Giáo. Đó là nơi phát sinh nhiều truyền thống thiêng liêng khác như Phật Giáo, Lão Giáo, Khổng Giáo, Zoroastrianism, Jainism (Ấn Độ), giáo phái Sikh và Thần Đạo (Nhật). Hàng triệu người cũng theo những tôn giáo truyền thống và bộ lạc, với nhiều cấp độ nghi thức và giáo thuyết. Giáo Hội giữ một niềm kính phục sâu xa nhất đối với các truyền thống này và tìm cách chân thành đối thoại với các môn sinh của truyền thống đó. Những giá trị tôn giáo họ truyền dạy, chờ được hoàn thành viên mãn trong Đức Giêsu Kitô.

Dân Á Châu hãnh diện về các giá trị tôn giáo và văn hoá của mình, như yêu mến sự thinh lặng và chiêm ngưỡng, sự đơn sơ, hài hoà, quên mình, bất bạo động, chăm chỉ làm việc, kỷ luật, sống mộc mạc, khao khát hiểu biết và tìm kiếm triết lý (10). Họ quý trọng những giá trị như tôn trọng sự sống, lòng trắc ẩn đối với mọi sinh vật, gần gũi với thiên nhiên, hiếu thảo với cha mẹ, đàn anh và tổ tiên, và một ý thức cộng đồng cao độ (11). Đặc biệt, họ coi gia đình là nguồn sống ban sức mạnh, một cộng đồng liên kết chặt chẽ có một cảm thức mạnh mẽ về tình liên đới (12). Các dân tộc Á Châu nổi tiếng có tinh thần bao dung tôn giáo và sống chung hoà bình. Tuy không phủ nhận rằng còn có những sự căng thẳng chua xót và những xung đội dữ dội, nhưng có thể nói rằng Châu Á thường tỏ ra có một khả năng thích nghi đặc biệt và cởi mở tự nhiên đối với nền phong phú các dân tộc, giữa tình trạng đa nguyên tôn giáo và văn hoá. Hơn nữa, mặc dầu bị ảnh hưởng của hiện đại hoá và trần tục hoá, các tôn giáo ở Châu Á tỏ lộ dấu chỉ của một sức sống mạnh mẽ và một khả năng đổi mới, như thấy nơi các phong trào cải cách bên trong những nhóm tôn giáo khác nhau. Nhiều người, nhất là người trẻ, cảm nghiệm một khát vọng sâu xa đối với những giá trị thiêng liêng, như được chứng tỏ qua sự xuất hiện nhiều phong trào tôn giáo mới.

Tất cả những điều trên chỉ cho thấy một cảm thức thiêng liêng nội tâm và sự khôn ngoan về mặt luân lý trong tâm hồn người Á Châu, và đó là cốt lõi mà xung quanh đó được xây dựng một ý thức đang lớn mạnh về thế nào “là người Á Châu”. Nhận thức “là người Á Châu” này được khám phá và khẳng định cách tốt nhất không phải trong sự chạm trán và đối nghịch nhau, nhưng trong tinh thần bổ sung và hoà hợp. Trong khung cảnh bổ sung và hoà hợp này, Giáo Hội có thể loan truyền Tin Mừng qua một cách thức vừa trung thành với truyền thống của mình và vừa trung thành với tâm hồn Châu Á.

Những Thực Tại Kinh Tế và Xã Hội

7. Về phương diện phát triển kinh tế, những hoàn cảnh trong lục địa Á Châu rất khác biệt nhau, không thể đơn giản phân loại được. Một số vùng đã phát triển cao, một số vùng khác đang phát triển nhờ các chính sách kinh tế có hiệu quả và một số vùng khác nữa vẫn còn thấy trong cảnh nghèo hèn khốn nạn, quả thế trong số những nước nghèo nhất trên thế giới. Trong quá trình phát triển, chủ nghĩa duy vật và tục hoá cũng đang xâm lấn, nhất là tại những vùng đô thị. Khi xói mòn những giá trị truyền thống, xã hội và tôn giáo, những ý thức hệ này đe doạ các nền văn hoá Á Châu với những thiệt hại không thể lường trước được.

Các Nghị Phụ Thượng hội Đồng nói về những thay đổi nhanh chóng xảy ra trong các xã hội Á Châu và nói về những khía cạnh tích cực và tiêu cực do những thay đổi đó mang lại. Trong số đó có hiện tượng đô thị hoá và sự xuất hiện những khối đô thị khổng lồ, thường có những khu vực rộng lớn gây ngã lòng, nơi mà các tội ác có tổ chức, khủng bố, mại dâm và sự bóc lột những phần tử yếu kém hơn trong xã hội đang lớn mạnh. Việc di dân cũng là hiện tượng lớn xã hội, đặt hàng triệu người vào những hoàn cảnh khó khăn về mặt kinh tế, văn hoá và luân lý. Dân chúng di cư nội trong khu vực Á Châu và từ Á Châu đến các lục địa khác vì nhiều lý do, chẳng hạn nghèo đói, chiến tranh và xung đột sắc tộc, sự chối bỏ nhân quyền và những quyền tự do cơ bản. Việc thiết lập những liên hiệp công nghiệp khổng lồ là một lý do nữa của sự di dân nội và ngoại, kèm theo những hậu quả tàn phá đời sống và các giá trị của gia đình. Cũng có nhắc tới việc xây dựng những nhà máy điện nguyên tử, vì quan tâm tới giá cả và muốn có hiệu năng mà ít nghĩ tới sự an toàn dân chúng và sự toàn vẹn của môi trường.

Ngành du lịch cũng cần được lưu ý cách riêng. Mặc dù là một công nghệ chính đáng với những giá trị văn hoá và giáo dục của nó, ngành du lịch trong một vài trường hợp đã có một tác động phá hoại luân lý và phong cảnh thiên nhiên của nhiều quốc gia Á Châu, bằng chứng là nhiều phụ nữ trẻ và cả đến các trẻ em bị mất phẩm giá vì nạn mãi dâm (13). Công tác mục vụ cho các người di dân, cũng như cho các khách du lịch thật gay go và phức tạp, nhất là tại Á Châu nơi những cơ cấu cơ bản cho công việc đó không phải lúc nào cũng có. Chương trình mục vụ ở mọi cấp bậc cần phải lưu ý tới những thực tại này. Trong khung cảnh này, chúng ta không nên bỏ quên những người di dân từ các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương, đang cần chăm sóc mục vụ theo những truyền thống Giáo Hội riêng của họ (14).

Nhiều vùng Á Châu đối diện với những khó khăn liên quan tới sự tăng dân số, đó “không chỉ là một vấn đề dân số hay kinh tế, nhưng cách riêng là một vấn đề luân lý” (15). Rõ ràng, vấn đề dân số liên kết chặt chẽ với vấn đề thăng tiến con người, nhưng những giải quyết sai lầm đe doạ nhân cách và tính bất khả xâm phạm của sự sống thì nhiều và nêu lên một thách đố đặc biệt cho Giáo Hội tại Á Châu. Tới đây, có lẽ nên nhắc lại những đóng góp của Giáo Hội trong việc bênh vực và thăng tiến sự sống, nhờ chăm sóc sức khoẻ, phát triển xã hội và giáo dục, nhằm lợi ích cho dân chúng, nhất là người nghèo. Hội Nghị Đặc Biệt về Á Châu đã làm đúng khi nói lên lòng kính trọng đối với Mẹ Têrêxa Calcuta, “người nổi tiếng trên khắp thế giới vì việc chăm sóc đầy yêu thương và vô vị lợi của Mẹ dành cho người nghèo hèn nhất trong số những người nghèo” (16). Mẹ mãi là một mẫu gương của việc phục vụ sự sống mà Giáo Hội đang trao tặng tại Á Châu, can đảm đối đầu với những quyền lực đen tối đang hoành hành trong xã hội.

Một số Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhấn mạnh đến những ảnh hưởng ngoại lai được mang vào trong các nền văn hoá Á Châu. Nhiều hình thức sống mới đang xuất hiện do việc tiếp cận quá đáng với phương tiện truyền thông đại chúng và những loại văn chương, âm nhạc và phim ảnh đang phổ biến nhan nhãn trên lục địa. Tuy không phủ nhận rằng những phương tiện truyền thông xã hội có thể giúp ích rất nhiều cho sự thiện, (17) chúng ta không thể coi thường ảnh hưởng tiêu cực nó thường mang lại. Những hiệu quả sinh ích của chúng có thể đôi kẩntở nên vô ích bởi cách thức chúng bị kiểm soát và sử dụng bởi những con người có những mục đích chính trị, kinh tế và ý thức hệ đáng nghi ngờ. Hậu quả là những khía cạnh tiêu cực của truyền thông và những công nghệ giải trí đang đe doạ các giá trị truyền thống và cách riêng, đe doạ sự thánh thiêng của hôn nhân và sự vững bền của gia đình. Ảnh hưởng của những hình ảnh bạo lực, khoái lạc, cá nhân và vật chất chủ nghĩa quá độ “đánh thẳng vào trung tâm những nền văn hoá Á Châu, vào tính tôn giáo của dân chúng, gia đình và toàn thể xã hội” (18). Đây là một hoàn cảnh gây nên một thách đố lớn đối với Giáo Hội và đối với việc loan báo sứ điệp.

Hoàn cảnh nghèo đói dai dẳng và sự khai thác bóc lột dân chúng là những sự việc đáng lo lắng nhất. Tại Á Châu có hàng triệu người bị áp bức, qua bao thế kỷ bị đặt bên lề xã hội về mặt kinh tế, văn hoá và chính trị (19). Khi suy nghĩ về hoàn cảnh người nữ trong xã hội Á Châu, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng ghi nhận rằng “mặc dầu việc gây ý thức cho người nữ về nhân phẩm và quyền lợi của họ là một dấu chỉ thời đại có ý nghĩa nhất, nhưng sự nghèo đói và khai thác bóc lột người phụ nữ vẫn là một vấn đề nghiêm trọng cho toàn vùng Á Châu” (20). Phụ nữ mù chữ nhiều hơn đàn ông; và trẻ gái bị giết khi còn là thai nhi hoặc sau khi ra đời xem ra cũng nhiều hơn. Cũng có hàng triệu người bản xứ hay dân bộ lạc khắp vùng Á Châu đang sống biệt lập về mặt xã hội, văn hoá và kinh tế khỏi tầng lớp dân đang thống trị (21). Thật là yên lòng khi nghe các Giám Mục Thượng Hội Đồng nói rằng trong một vài trường hợp, những sự việc trên được quan tâm hơn ở cấp quốc gia, cấp vùng và cấp quốc tế, và Giáo Hội tích cực tìm cách tiếp cận hoàn cảnh nghiêm trọng này.

Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã lưu ý rằng, suy tư vắn tắt cần thiết này về các thực tại kinh tế và xã hội tại Á Châu sẽ không đầy đủ, nếu không nhìn nhận sự tăng trưởng kinh tế đáng kể của nhiều xã hội Á Châu trong những thập niên gần đây: một thế hệ mới gồm những thợ lành nghề, những nhà khoa học và kỹ thuật ngày càng gia tăng và con số đông đảo các người ấy là điềm báo tốt cho sự phát triển của Á Châu. Tuy nhiên, không phải mọi cái đều ổn định và vững chắc trong sự phát triển này, như đã thấy rõ qua cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng mới đây mà một số vùng Á Châu phải hứng chịu. Tương lai của Á Châu hệ tại ở sự hợp tác giữa các nước Á Châu và với các nước thuộc các lục địa khác, nhưng bằng cách luôn xây dựng trên điều mà các dân tộc Á Châu phải làm để tự phát triển cho mình.

Những Thực Tại Chính Trị

8. Giáo Hội luôn cần có một sự hiểu biết chính xác về hoàn cảnh chính trị trong các quốc gia khác nhau, nơi mà Giáo Hội đang cố gắng chu toàn sứ mạng mình. Ngày nay, tại Á Châu, toàn cảnh chính trị rất phức tạp, phô bày ra một loạt những ý thức hệ, từ những hình thức chính quyền dân chủ, cho tới những hình thức thần quyền. Những thể chế độc tài quân sự và các ý thức hệ vô thần, rất thường xuất hiện. Một vài quốc gia nhìn nhận một quốc giáo chính thức, nên nhóm thiểu số và những kẻ theo các tôn giáo khác ít được hay không được tự do tôn giáo. Có những quốc gia khác, dù không theo hẳn thần quyền, lại quy những nhóm thiểu số vào hạng công dân hạng hai, nên ít quan tâm bảo vệ những nhân quyền cơ bản của họ. Trong vài nơi, người Kitô hữu không được phép thực hành đức tin cách tự do và rao giảng Đức Giêsu Kitô cho kẻ khác (22). Họ bị bách hại và bị khước từ chỗ đứng hợp pháp trong xã hội. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhắc đến cách riêng dân tộc Trung Hoa và bày tỏ niềm hy vọng thiết tha được thấy tất cả những anh chị em công giáo Trung Hoa, một ngày kia có thể sống đạo trong tự do và công khai tuyên xưng sự hiệp thông trọn vẹn của họ với Toà Thánh Phêrô (23).

Trong khi đánh giá cao sự phát triển mà nhiều quốc gia Á Châu đang thực hiện dưới nhiều thể chế chính quyền khác nhau, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cũng quan tâm tới sự tham nhũng đang lan rộng khắp nơi, ở nhiều cấp bậc của cả chính quyền lẫn xã hội (24). Rất thường xuyên, dân chúng xem ra vô phương tự vệ chống lại những nhà chính trị, những nhân viên tư pháp, những người cầm quyền và công chức tham nhũng. Tuy nhiên, có một ý thức đang tăng trưởng khắp Á Châu về khả năng của người dân trong việc thay đổi những cơ cấu bất công. Có những yêu cầu mới cho được công bình xã hội lớn hơn, cho được tham gia nhiều hơn vào chính quyền và đời sống kinh tế, cho được cơ may đồng đều trong giáo dục, cho được chia sẻ công bằng hơn trong tài sản quốc gia. Dân chúng càng ngày càng ý thức về nhân phẩm và các quyền của mình và quyết tâm hơn để gìn giữ nó. Những nhóm thiểu số về nhân chủng, xã hội và văn hoá, lâu nay im lìm, bây giờ đang tìm cách trở thành tác nhân cho sự thăng tiến xã hội của chính mình. Thần Khí Chúa trợ giúp và nâng đỡ những cố gắng của dân chúng trong việc biến đổi xã hội, ngõ hầu khát vọng của con người về một cuộc sống dồi dào hơn, có thể được thoả mãn như lòng Chúa mong muốn (x. Ga 10,10).

Giáo Hội tại Á Châu: Quá Khứ và Hiện Tại

9. Lịch sử Giáo Hội tại Á Châu cũng xưa như chính Giáo Hội, bởi vì tại Á Châu Đức Giêsu đã thở hơi Chúa Thánh Thần trên các môn đệ của Người và sai họ đi tới tận cùng trái đất để rao giảng Tin Mừng và qui tụ những cộng đoàn tín hữu. “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con” (Ga 20,21; x. Mt 28,18-20; Mc 16,15-18; Lc 24,47; Cv 1,8). Theo mệnh của Chúa, các Tông Đồ rao giảng Lời Chúa và thiết lập những Giáo Hội. Có lẽ là điều hữu ích khi nhắc lại một vài yếu tố của lịch sử hấp dẫn và phức tạp này.

Từ Giêrusalem, Giáo Hội lan rộng tới Antiôkia, tới Roma và xa hơn nữa. Giáo Hội đi tới Ethiôpia phía Nam, tới Scythia phía Bắc và tới Ấn Độ phía Đông, vùng đất theo truyền thống, Thánh Tôma Tông Đồ đã tới năm 52 sau Công Nguyên, và thiết lập các Giáo Hội miền nam Ấn Độ. Tinh thần truyền giáo của cộng đoàn Đông-Syria trong thế kỷ III và IV với trung tâm là Edessa, thật đáng kể. Những cộng đoàn khổ tu Syria là một sức mạnh chủ yếu của việc Phúc Âm hoá tại Á Châu từ thế kỷ III đổ về sau. Những cộng đoàn này đem lại sinh lực thiêng liêng cho Giáo Hội, đặc biệt trong thời kỳ bắt đạo. Vào cuối thế kỷ III, Amênia là quốc gia đầu tiên toàn diện theo Kitô giáo, và nay đang chuẩn bị mừng kỷ niệm 1.700 năm lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy. Cuối thế kỷ thứ V, sứ điệp Kitô giáo lan tới các vương quốc Ả rập, nhưng vì nhiều lý do, kể cả những chia rẽ nội bộ người Kitô hữu, sứ điệp không đâm rễ sâu giữa lòng các dân tộc này.

Các thương gia Ba tư mang Tin Mừng tới Trung Hoa trong thế kỷ thứ V. Giáo hội Kitô đầu tiên được thiết lập ở đây vào đầu thế kỷ VII. Dưới triều đại nhà Tần (618-907 Công nguyên) Giáo Hội phồn thịnh gần hai thế kỷ. Sự suy sụp của Giáo Hội đầy sức sống này tại Trung Hoa, ở cuối ngàn năm thứ nhất, là một trong các chương đáng buồn hơn cả của lịch sử Dân Chúa tại Lục địa.

Thế kỷ thứ XIII, Tin Mừng được rao giảng cho người Mông Cổ và người Thổ, và một lần nữa cho người Trung Hoa. Nhưng Kitô Giáo hầu như biến khỏi các vùng này vì một số lý do, trong các lý do đó có sự nổi dậy của Hồi Giáo, sự tách biệt về mặt địa lý, thiếu sự thích nghi thích hợp với những văn hoá địa phương, và có lẽ hơn hết là thiếu chuẩn bị gặp gỡ các tôn giáo lớn tại Á Châu. Cuối thế kỷ XIV chứng kiến sự sa sút mãnh liệt của Giáo Hội tại Á Châu, trừ ra một cộng đồng biệt lập ở Nam Ấn Độ. Giáo Hội tại Á Châu phải chờ đợi một thời đại mới của nỗ lực truyền giáo.

Công lao Tông Đồ của Thánh Phanxicô Xavie, sự thành lập Hội Truyền Bá Đức Tin đời Giáo Hoàng Gregorio XV, và những chỉ dẫn cho các vị thừa sai biết tôn trọng và đánh giá cao những văn hoá địa phương, tất cả góp phần đạt đến những thành quả tích cực hơn suốt thế kỷ XVI và XVII. Vào thế kỷ XIX, lại có sự hồi sinh hoạt động tông đồ. Nhiều dòng tu hoàn toàn hiến thân cho công tác này. Hội Truyền Bá Đức Tin được tổ chức lại. Việc thiết lập những Giáo Hội địa phương được nhấn mạnh hơn. Những công trình giáo dục và bác ái đi đôi với việc rao giảng Tin Mừng. Cho nên, Tin Mừng tiếp tục đến với nhiều người hơn, đặc biệt đám người nghèo và bị thiệt thòi, nhưng đó đây cũng được rao giảng giữa hạng người ưu tú xã hội và trí thức. Những nỗ lực mới được thực hiện để hội nhập hoá Tin Mừng, tuy nhiên chúng chứng tỏ là chưa đủ. Mặc dầu hiện diện lâu đời và cố gắng làm việc tông đồ nhiều, Giáo Hội tại nhiều nơi còn bị coi là xa lạ với Á Châu, và quả thật, Giáo Hội thường bị gắn liền với những quyền lực thực dân trong tâm trí quần chúng.

Đó là tình trạng thời gian trước công đồng Vatican II, nhưng nhờ sự thúc đẩy công đồng mang lại, một sự hiểu biết mới về việc truyền giáo ló dạng và, cùng với nó là một niềm hy vọng lớn. Tính phổ quát chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa, bản tính truyền giáo của Giáo Hội và trách nhiệm của mỗi người trong Giáo Hội đối với công tác này, được tái khẳng định cách mạnh mẽ trong Sắc Lệnh Công Đồng về Hoạt động Truyền Giáo của Giáo Hội Ad Gentes, trở nên khuôn khổ của một sự dấn thân mới. Trong Hội nghị đặc biệt, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng minh chứng sự lớn mạnh mới đây của cộng đoàn Giáo Hội giữa nhiều dân tộc khác biệt trong những miền khác nhau của Lục địa, và các Ngài kêu gọi nhiều nỗ lực truyền giáo hơn nữa cho những năm sắp tới, cách riêng khi xuất hiện nhiều khả năng rao giảng Tin Mừng trong vùng Siberia và những xứ Trung Á mới dành được độc lập, như Kazakhstan, Uzbekistan, Kyrgyzstan, Tajikistan và Turmenistan (25).

Một cái nhìn tổng quát về các cộng đoàn Công giáo tại Á Châu cho thấy một sự đa dạng muôn màu muôn vẻ do bởi nguồn gốc và sự phát triển lịch sử của nó, và do những truyền thống thiêng liêng và phụng vụ khác nhau về lễ nghi. Tuy nhiên tất cả đều hợp nhất trong việc loan báo Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, nhờ chứng tá Kitô hữu, các việc bác ái và sự liên đới nhân loại. Đang khi một số Giáo Hội địa phương thi hành sứ mạng mình trong an bình và tự do, thì có những Giáo Hội khác gặp những hoàn cảnh bạo lực và xung đột, hay cảm thấy mình bị đe doạ bởi các nhóm người khác vì lý do tôn giáo hay lý do nào khác. Trong thế giới rất khác biệt nhau về phương diện văn hoá tại Á Châu, Giáo Hội chạm chán với nhiều thách đố về phương diện triết học, thần học và mục vụ. Công việc của Giáo Hội càng thêm khó khăn do sự kiện Giáo Hội là một thiểu số, chỉ trừ Phi luật tân nơi đa số là người công giáo.

Dầu gặp hoàn cảnh nào đi nữa, Giáo Hội tại Á Châu thấy mình ở giữa những dân tộc rất khát khao Thiên Chúa. Giáo Hội biết rằng sự khát khao này chỉ có thể được thoả mãn hoàn toàn nhờ Đức Giêsu Kitô, là Tin Mừng của Thiên Chúa cho mọi quốc gia. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng ước muốn thiết tha rằng Tông huấn Hậu Thượng Hội Đồng cần lưu ý đến sự khao khát này và khuyến khích Giáo Hội tại Á Châu hăng say rao giảng, bằng lời nói và việc làm, rằng Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Đoä.

Thần khí Thiên Chúa, luôn luôn hành động trong lịch sử Giáo Hội tại Á Châu, tiếp tục hướng dẫn Giáo Hội. Nhiều yếu tố tích cực gặp được trong Giáo Hội địa phương, thường được nêu bật trong Thượng Hội Đồng, củng cố lòng mong đợi của chúng ta về “một mùa xuân mới của đời sống Kitô hữu” (26). Một nguyên nhân vững chắc của niềm hy vọng là con số gia tăng của những giáo dân được đào tạo tốt hơn, nhiệt thành và tràn đầy Thần Khí. Họ càng ngày càng ý thức hơn về ơn gọi chuyên biệt của mình trong cộng đồng Giáo Hội. Trong số họ, các giáo lý viên giáo dân đáng được công nhận và tán dương cách đặc biệt (27). Những phong trào tông đồ và đoàn sủng, cũng là một ân ban của Thần Khí, mang đến đời sống mới và sự hăng say trong việc đào tạo những người nam nữ giáo dân, các gia đình và giới trẻ (28). Khi dấn thân cổ võ nhân phẩm và công bằng, những hiệp hội và những phong trào Giáo Hội làm cho tính phổ quát của sứ điệp Tin mừng trở nên gần gũi và hữu hình, Tin mừng đó là làm cho chúng ta nên nghĩa tử của Thiên Chúa (x. Rm 8, 15-16).

Đồng thời, có những Giáo Hội đang ở trong những hoàn cảnh rất khó khăn, “bị thử thách ghê gớm trong việc thực hành đức tin của mình” (29). Các Nghị Phụ xúc động khi nghe các báo cáo về chứng tá anh dũng, sự kiên trì không hề lay chuyển và sự tăng trưởng vững chắc của Giáo Hội Công Giáo tại Trung hoa, khi thấy các nỗ lực giúp đỡ của Giáo Hội Nam Triều Tiên dành cho dân chúng Bắc Triều Tiên, do tính kiên định khiêm tốn của cộng đoàn công giáo tại Việt Nam, sự cách ly của những Kitô hữu tại những nơi như Lào và Myanmar, sự sống chung đầy khó khăn với thành phần đa số trong các quốc gia Hồi Giáo (30). Thượng Hội Đồng lưu ý cách riêng đến hoàn cảnh Giáo Hội tại Đất Thánh và tại thành thánh Giêrusalem “trung tâm Kitô giáo” (31), một thành phố thân yêu của mọi con cái ông Ápraham. Các Nghị Phụ phát biểu xác tín rằng hoà bình của vùng, và cả của thế giới nữa, phần lớn tuỳ thuộc vào hoà bình và hoà giải mà từ lâu đã vắng bóng tại Giêrusalem (32).

Tôi không thể kết thúc cái nhìn tổng quát vắn gọn về tình trạng Giáo Hội tại Á Châu, mặc dầu rất thiếu sót, mà không nhắc tới các vị thánh và các vị tử đạo tại Á Châu, cả những vị đã được nhìn nhận lẫn những vị chỉ được Chúa biết đến mà thôi, gương sáng các Ngài là nguồn gốc sự “giàu có thiêng liêng và là một phương tiện lớn cho việc Phúc Âm hoá” (33). Các Ngài âm thầm nhưng cách hùng mạnh nhất, nói về tầm quan trọng của sự thánh thiện trong đời sống và sự saün sàng hiến mạng sống mình vì Tin Mừng. Các Ngài là thầy dạy và đấng bảo trợ, là vinh quang của Giáo Hội tại Á Châu trong công tác truyền giáo. Cùng toàn thể Giáo hội, tôi cầu xin Chúa sai nhiều thợ gặt dấn thân hơn nữa để thu hoạch mùa gặt các linh hồn mà tôi thấy đã chín mùi và phong phú (x. Mt 9, 37-38). Lúc này đây, tôi nhớ lại điều tôi đã viết trong Thông điệp Redemptoris Missio: “Thiên Chúa đang mở ra cho Giáo Hội những chân trời của một nhân loại đã được chuẩn bị đầy đủ hơn cho việc rao giảng Tin Mừng” (34). Giấc mơ đó về một chân trời mới đầy hứa hẹn, tôi thấy đang hoàn thành tại Á Châu, nơi Đức Giêsu được sinh ra và nơi Kitô giáo bắt đầu.

CHƯƠNG II

ĐỨC GIÊSU CỨU THẾ:
MỘT QUà TặNG CHO Á CHÂU

Quà tặng Đức Tin

10. Trong quá trình thảo luận của Thượng Hội Đồng về những thực tại phức tạp tại Á Châu, thì điều càng ngày càng trở nên rõ ràng đối với mọi người là: sự đóng góp duy nhất của Giáo Hội cho các dân tộc trên lục địa là rao giảng về Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa thật và người thật, Đấng Cứu Thế độc nhất và duy nhất cho mọi dân tộc (35). Điều phân biệt Giáo Hội với những cộng đồng tôn giáo khác, đó là niềm tin của Giáo Hội vào Đức Giêsu Kitô; và Giáo Hội không thể cất dấu ánh sáng đức tin quí báu dưới cái thùng (x. Mt 5, 15), bởi vì sứ mạng Giáo Hội là chia sẻ ánh sáng đó với mọi người. “[Giáo hội] muốn trao tặng đời sống mới Giáo Hội đã gặp được trong Đức Giêsu Kitô, cho tất cả các dân tộc tại Á Châu đang đi tìm sự viên mãn của cuộc sống, để họ có thể sống hiệp thông với Chúa Cha và Con của Người là Đức Giêsu Kitô trong quyền năng Chúa Thánh Thần” (36). Niềm tin vào Đức Giêsu là điều gợi hứng cho công trình phúc âm hoá của Giáo Hội tại Á Châu, một công trình thường được thực thi trong những hoàn cảnh khó khăn và còn nguy hiểm nữa. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng ghi nhận rằng việc rao giảng Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế duy nhất, có thể gây nên những khó khăn đặc biệt trong nền văn hoá của các ngài, lý do là nhiều tôn giáo ở Á Châu dạy chính mình là những biểu lộ thần linh đem lại ơn cứu rỗi. Thay vì làm nản lòng các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, những thách đố mà các ngài gặp phải khi nỗ lực Phúc Âm hoá, lại là một động cơ lớn hơn giúp các ngài cố gắng chuyển đạt “đức tin mà Giáo Hội tại Á Châu đã lãnh nhận từ các Tông đồ và bảo tồn cùng với Giáo Hội của mọi thế hệ và mọi nơi” (37). Thật vậy, các Ngài bày tỏ xác tín rằng “con tim của Giáo Hội tại Á Châu sẽ không an nghỉ cho tới khi toàn cõi Á Châu được an nghỉ trong bình an của Đức Kitô, Chúa Phục Sinh” (38).

Đức tin của Giáo Hội vào Đức Giêsu là một quà tặng đã lãnh nhận và một quà tặng cần được chia sẻ; đó là quà tặng lớn lao nhất mà Giáo Hội có thể trao tặng cho Á Châu. Chia sẻ chân lý của Đức Giêsu Kitô với kẻ khác, là một bổn phận chính thức của tất cả những ai đã lãnh nhận quà tặng đức tin. Trong thông điệp Redemptoris Missio, tôi đã viết rằng: “Giáo Hội, và tất cả Kitô hữu trong Giáo hội, không thể che giấu hay giữ riêng cho mình sự mới mẻ và giàu có này mà họ đã nhận được do lòng nhân từ của Thiên Chúa, để truyền thông cho toàn thể nhân loại (39). Cũng trong thông điệp đó tôi đã viết: “Những ai đã gia nhập vào Giáo Hội Công Giáo, phải tự coi mình là những con người được đặc ân và, do đó, họ phải càng dấn thân làm chứng bằng niềm tin và đời sống Kitô hữu, chứng tá này là việc phục vụ anh chị em mình và là lời đáp trả xứng hợp với Thiên Chúa” (40).

Xác tín sâu xa về điều đó, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cũng ý thức đến trách nhiệm riêng của mình cần nắm vững chân lý vĩnh cửu của Đức Giêsu qua việc học hỏi, cầu nguyện và suy tư, hầu mang lại sức mạnh và sức sống của chân lý đó vào giữa những thách đố hiện tại và tương lai của việc Phúc Âm Hoá tại Á Châu.

Đức Giêsu Kitô, Con Người-Thiên Chúa, Đấng Cứu độ

11. Kinh Thánh làm chứng rằng Đức Giêsu đã sống một cuộc sống con người đích thực. Đức Giêsu mà chúng ta loan báo là Đấng Cứu Độ duy nhất, đã hành trình trên mặt đất như là Thiên Chúa-Con Người (God-Man) với đầy đủ bản tính nhân loại. Người giống như chúng ta mọi đàng chỉ trừ tội lỗi. Được sinh ra bởi một người Mẹ Đồng Trinh trong một thôn xóm nhỏ bé tại Bêlem, Người cũng yếu đuối như bất cứ một trẻ nào khác, và còn chịu số phận của một kẻ tị nạn lẩn trốn cơn lôi đình của một kẻ cầm quyền tàn nhẫn (x. Mt 2,13-15). Người vâng phục cha mẹ là những con người, không phải luôn hiểu được đường lối của Người, nhưng Người tin tưởng và yêu mến vâng phục (x. Lc 2,41-52). Luôn luôn cầu nguyện, Người ở trong sự hiệp thông thân mật với Thiên Chúa mà người gọi là Abba, “Cha”, làm cho những thính giả của Người khó chịu (x. Ga 8, 34-59).

Người sống gần kẻ nghèo, kẻ bị bỏ rơi và thấp bé, Người tuyên bố họ thật sự có phúc, vì Thiên Chúa ở với họ. Người ăn uống với kẻ tội lỗi, bảo đảm với họ rằng tại bàn ăn của Cha có chỗ cho họ, khi họ từ bỏ đường tội lỗi và trở về với Người. Khi đụng chạm tới kẻ ô uế và cho phép họ đụng chạm tới mình, Người cho họ hiểu rằng Chúa ở gần họ. Người than khóc một người bạn đã qua đời, Người hoàn lại đứa con trai đã chết cho bà mẹ goá của nó, Người đón tiếp những trẻ nhỏ, và Người rửa chân các môn đệ mình. Lòng thương xót của Thiên Chúa chưa từng gần gũi cách trực tiếp như thế.

Người bệnh tật, người què, người mù, người điếc và người câm tất cả đều được chữa lành và được ơn tha thứ khi tiếp xúc với Người. Để làm thành những người bạn và những cộng sự viên thân cận nhất, Người đã tuyển chọn một nhóm người bất thường, gồm có những kẻ đánh cá lẫn người thu thuế, những người nhiệt thành và những kẻ không hiểu biết Luật, và cả phụ nữ nữa. Một gia đình mới được thiết lập dưới tình yêu che chở và đáng kinh ngạc của Chúa Cha. Đức Giêsu giảng dạy cách đơn sơ, sử dụng những ví dụ rút ra từ cuộc sống hằng ngày để nói về tình yêu Thiên Chúa và Vương Quốc của Người; và dân chúng nhận rằng Người nói có uy quyền.

Tuy nhiên Đức Giêsu bị tố cáo là kẻ phạm thượng, một người lỗi luật thánh, một kẻ phá rối công cộng cần loại bỏ. Sau lần xét xử dựa trên chứng gian (x. Mc 14,56), Người bị kết án tử hình trên thánh giá như một tên tội phạm, bị bỏ rơi và bị hạ nhục, bị xem như kẻ thất bại. Người được chôn cất cách hối hả trong một ngôi mộ mượn tạm. Nhưng ngày thứ ba sau khi chết, và mặc dầu có lính canh gác, ngôi mộ đó lại bị phát giác trống trơn! Đức Giêsu chỗi dậy từ kẻ chết, rồi hiện ra với các môn đệ trước khi trở về với Chúa Cha, chính từ Chúa Cha mà Người đã đến.

Cùng với tất cả mọi Kitô hữu, chúng ta tin rằng đời sống lạ thường đó, một mặt thấy thật tầm thường và đơn sơ, nhưng mặt khác thì hoàn toàn lạ lùng và che khuất trong mầu nhiệm, (cuộc sống đó) đưa Vương Quốc Thiên Chúa vào lịch sử loài người và “làm cho quyền lực của nó ảnh hưởng trên mọi mặt của cuộc sống nhân loại và của xã hội đang bị tội lỗi và cái chết bao vây” (41). Qua lời nói và việc làm, nhất là qua cuộc khổ nạn, cái chết và sự sống lại, Đức Giêsu hoàn thành ý muốn của Chúa Cha là giao hoà toàn thể nhân loại với Người, sau khi tội nguyên tổ đã cắt đứt mối tương quan giữa Đấng Sáng Tạo và thọ tạo. Trên thánh giá, Đức Giêsu gánh lấy tội lỗi của thế giới -tội quá khứ, hiện tại và tương lai. Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta rằng, do tội mà chúng ta đã chết và sự chết của Người đã đem lại sự sống cho chúng ta: “Thiên Chúa đã cho anh em cùng sống với Đức Kitô: Thiên Chúa đã ban ơn tha thứ mọi sa ngã lỗi lẫm của chúng ta. Người đã xoá sổ nợ bất lợi cho chúng ta, sổ nợ mà các giới luật đã đưa ra chống lại chúng ta. Người đã hủy bỏ nó đi, bằng cách đóng đinh nó vào thập giá (Cl 2,13-14). Bằng cách đó, ơn cứu rỗi được đóng ấn một lần thay cho tất cả. Đức Giêsu là Đấng Cứu độ chúng ta theo ý nghĩa đầy đủ nhất, bởi vì những lời nói và việc làm của Người, nhất là sự sống lại từ kẻ chết, đã mạc khải Người là Con Thiên Chúa, là Ngôi Lời đã có từ trước, Đấng hiển trị mãi mãi như là Chúa và Đấng Cứu Thế.

Thân Thế và Sứ Mạng của Con Thiên Chúa

12. “Cớ vấp phạm” của Kitô giáo là tin rằng Thiên Chúa toàn thánh, toàn năng và toàn tri, lại mặc lấy bản tính loài người chúng ta và chịu thương khó và chịu chết để chiếm đoạt phần rỗi cho mọi người (x. 1Cr 1,23). Đức tin mà chúng ta đã lãnh nhận, tuyên xưng rằng Đức Giêsu Kitô đã mạc khải và đã hoàn thành kế hoạch cứu độ thế giới và toàn thể nhân loại của Chúa Cha, do bởi “cái Người là” (who he is) và “cái Người làm do bởi cái Người là” (what he does because of who he is). “Cái Người là” và “cái Người làm” chỉ đạt được ý nghĩa trọn vẹn khi được đặt vào trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Trong triều giáo hoàng của tôi, tôi luôn luôn lưu tâm nhắc nhở người tín hữu về sự hiệp thông sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi và sự hiệp nhất của Ba Ngôi trong chương trình sáng tạo và cứu chuộc. Các thông điệp của tôi Redemptor Hominis, Dives in Misericordia và Dominum et Vivificantem là những suy tư tuần tự về Chúa Con, Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, và về vai trò các Ngài trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Tuy nhiên chúng ta không thể cách ly hay tách biệt Ngôi này với các Ngôi khác, bởi vì mỗi Ngôi chỉ được mạc khải trong sự hiệp thông sự sống và hành động của Thiên Chúa Ba Ngôi. Hành động cứu rỗi của Đức Giêsu bắt nguồn từ sự hiệp thông của các Ngôi vị Thiên Chúa, và mở đường cho tất cả những ai tin vào Người cũng được hiệp thông mật thiết với Ba Ngôi và với nhau trong Ba Ngôi.

“Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha”, Đức Giêsu khẳng định như thế (Ga 14,9). Chỉ nơi Đức Giêsu Kitô, sự viên mãn của Thiên Chúa hiện diện cách cụ thể (x. Col 2,9), làm cho Người thành Ngôi lời cứu độ duy nhất và tuyệt đối của Thiên Chúa (x. Dt 1,1-4). Là Lời cuối cùng của Chúa Cha, Đức Giêsu làm cho Thiên Chúa và ý muốn cứu độ của Người được biết đến cách đầy đủ nhất. “Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” Đức Giêsu nói (Ga 14,6). Người là “Đường, là sự Thật và là sự Sống” (Ga 14,6), bởi vì, như chính Người nói “Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những công việc của mình” (Ga 10,14). Chỉ trong con người Đức Giêsu, lời cứu độ của Thiên Chúa xuất hiện cách trọn vẹn, phán dạy vào thời kỳ sau hết (x. Dt 1,1-2). Vì thế, trong những ngày đầu của Giáo Hội, Thánh Phêrô mới có thể tuyên bố: “Ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được ơn cứu độ” (Cv 4,12).

Sứ vụ của Đấng Cứu Thế đạt cao điểm trong Mầu Nhiệm Vượt Qua. Trên Thánh Giá, khi “giang tay ra làm dấu hiệu giữa trời và đất, dấu hiệu muôn đời về giao ước [của Chúa Cha] (42), Đức Giêsu thốt ra lời kêu xin cuối cùng với Chúa Cha, xin Người tha tội cho nhân loại: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Đức Giêsu tiêu diệt tội lỗi bằng quyền lực tình yêu của Người đối với Chúa Cha và cả nhân loại. Ngài mang lấy trên mình vết thương do tội giáng xuống trên nhân loại, và Người ban ơn giải phóng qua sự hoán cải. Những hoa quả đầu tiên của điều đó được thấy rõ trong người ăn trộm sám hối treo trên cây thập giá kia bên cạnh Người (x. 23,43). Lời thốt ra cuối cùng của Người là tiếng kêu của người con trung tín: “Lạy Cha, con xin phó dâng linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). Trong lời diễn tả tình yêu tột cùng ấy, Ngài trao toàn diện sự sống và sứ vụ của mình trong tay Chúa Cha, Đấng đã sai mình. Như thế, Người trao phó cho Chúa Cha toàn thể thọ tạo và toàn thể nhân loại, để Chúa Cha đón nhận lại trong tình yêu nhân hậu của Người.

Tất cả những gì Chúa Con là và đã hoàn thành, thì được Chúa Cha đón nhận, Đấng lại ban ân huệ này cho thế gian, khi cho Đức Giêsu chỗi dậy từ kẻ chết, và đặt Người ngồi bên hữu Mình, nơi mà tội lỗi và sự chết không còn quyền hành nào nữa. Qua Hy Lễ Vượt Qua của Đức Giêsu, Chúa Cha dứt khoát ban cho thế gian ơn hoà giải và sự sống tràn trề. Aân huệ lạ lùng này chỉ có thể được ban tặng nhờ Người Con yêu dấu, duy mình Người mới có thể đáp trả trọn vẹn tình yêu của Chúa Cha, tình yêu đã bị chối từ vì tội lỗi. Trong Đức Giêsu Kitô, nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần, chúng ta được biết rằng Thiên Chúa không ở xa, ở trên và ở ngoài con người, nhưng ở rất gần, thật sự kết hợp với mỗi người và toàn thể nhân loại trong mọi hoàn cảnh đời sống. Đó là sứ điệp mà Kitô giáo trao ban cho thế giới, và đó là một nguồn an ủi và hy vọng vô song cho mọi người tín hữu.

Đức Giêsu Kitô: Chân Lý của Nhân Loại

13. Nhân tính của Đức Giêsu và mầu nhiệm khôn tả Nhập Thể của Người Con Chúa Cha, rọi ánh sáng trên thân phận con người như thế nào? Người con Nhập Thể của Thiên Chúa không những mạc khải đầy đủ Chúa Cha và chương trình cứu độ của Người; Người còn “mạc khải đầy đủ con người cho chính con người” (43). Những lời nói và hành động của Người, và hơn hết, sự Chết và Phục Sinh của Người, mạc khải cách thâm sâu là người có ý nghĩa gì. Nhờ Đức Giêsu, cuối cùng con người có thể biết sự thật về chính mình. Khi dâng hiến trọn vẹn để yêu mến và phục vụ Chúa Cha và con người, cuộc đời làm người đích thực của Đức Giêsu nói lên rằng ơn gọi của mỗi người là nhận lãnh tình yêu và đáp lại bằng việc trao ban tình yêu. Trong Đức Giêsu, chúng ta kinh ngạc về khả năng vô tận của quả tim con người để yêu Chúa và yêu người, cho dầu khi yêu như thế là kéo theo nhiều đau khổ. Nhất là chính trên Thánh Giá mà Đức Giêsu bẻ gãy quyền lực của sự đối kháng với tình yêu đem lại chết chóc (self-destructive resistance), sự đối kháng mà tội lỗi gây nên nơi chúng ta. Về phần mình, Chúa Cha đáp trả bằng cách cho Đức Giêsu chỗi dậy như là người con đầu lòng của tất cả những ai được tiền định nên đồng hình đồng dạng với Con của Người (x. Rm 8,29). Vào lúc ấy, Đức Giêsu đã trở nên, một lần thay cho tất cả, vừa là sự mạc khải vừa là sự hoàn thành một nhân loại được tái tạo và đổi mới theo chương trình của Thiên Chúa. Trong Đức Giêsu, chúng ta khám phá sự cao cả và phẩm giá của mỗi con người trong con tim Thiên Chúa, Đấng đã dựng nên con người giống hình ảnh của Người (x. St 1,26), và chúng ta gặp được nguồn gốc của thụ tạo mới mà chúng ta đã trở nên nhờ ân sủng của Người.

Công Đồng Vatican II dạy rằng “chính Con Thiên Chúa khi Nhập Thể, một cách nào đó đã kết hợp với tất cả mọi người” (44). Trong cái nhìn thâm sâu này, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhận ra nguồn suối cơ bản của hy vọng và nghị lực cho người dân Á Châu trong các cuộc chiến đấu và những nghi hoặc của họ. Khi những người nam và nữ, bằng đức tin sống động, đáp trả lại ơn huệ tình yêu của Thiên Chúa, thì sự hiện diện của Chúa mang đến tình yêu và bình an, biến đổi con tim nhân loại từ bên trong. Trong thông điệp Redemptor Hominis, tôi đã viết: “Sự cứu chuộc thế giới -mầu nhiệm đáng sợ của tình yêu, nhờ đó tạo vật được đổi mới- tại gốc rễ thâm sâu nhất của nó, là sự viên mãn của đức công chính trong một con tim nhân loại -con tim của Người Con trưởng tử- ngõ hầu nó có thể trở nên công chính trong tim của nhiều người, đã được tiền định từ thuở đời đời trong người Con trưởng tử đó, làm con Thiên Chúa và được gọi hưởng nhờ ân sủng, được kêu gọi sống yêu thương” (45).

Như vậy, sứ vụ của Đức Giêsu không những phục hồi sự hiệp thông giữa Thiên Chúa và nhân loại, mà còn thiết lập một sự hiệp thông mới giữa những con người sống xa cách nhau vì tội lỗi. Trên mọi chia rẽ, Đức Giêsu làm cho mọi dân tộc có thể sống như anh chị em, bằng cách nhìn nhận chỉ có một Cha trên Trời (x. Mt 23,9). Trong Người, nảy sinh một sự hoà hợp mới, trong đó “không còn chuyện phân biệt, Do thái hay Hy lạp. nô lệ hay tự do. đàn ông hay đàn bà, nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Kitô Giêsu” (Gl 3,28). Đức Giêsu là sự bình an của chúng ta, “Người đã liên kết đôi bên thành một, và đã phá đổ bức tường ngăn cách là sự thù ghét” (Ep 2,14). Trong tất cả những gì Người đã nói đã làm, Đức Giêsu là tiếng nói, là bàn tay và cánh tay của Chúa Cha, thu họp tất cả con cái Chúa thành một gia đình yêu thương. Người đã cầu nguyện cho môn đệ Người có thể sống trong hiệp thông, cũng như Người sống hiệp thông với Thiên Chúa Cha (Ga 17,11). Trong những lời nói cuối cùng của Người, chúng ta nghe Người nói: “Như Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy. Đây là điều răn của Thầy: Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,9-12). Được sai đi bởi Thiên Chúa của sự hiệp thông, và trở nên Chúa thật và người thật, Đức Giêsu đã thiết lập sự hiệp thông giữa trời và đất trong chính thân thể của Người. Đức tin của chúng ta là “Thiên Chúa làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hoà giải với mình. Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (Cl 1,19-20). Ơn cứu độ có thể gặp được trong con người của Con Thiên Chúa làm người, và trong sứ vụ được giao phó cho Người mà thôi như Người Con, một sứ vụ phục vụ và yêu thương để mọi người được sống. Cùng chung với Giáo Hội toàn cầu, Giáo Hội tại Á Châu công bố chân lý đức tin: “Chỉ có một Thiên Chúa, có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người: đó là một con người, Đức Giêsu Kitô, Đấng tự hiến làm giá chuộc cho mọi người” (1 Tm 2,5-6).

Tính Độc Nhất và Tính Phổ Quát của Ơn Cứu độ
trong Đức Giêsu

14. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhắc lại rằng Ngôi Lời có từ trước, Người Con sinh ra từ thuở đời đời của Thiên Chúa, “đã hiện diện trong sáng tạo, trong lịch sử và trong mọi ước muốn điều thiện của con người” (46). Nhờ Ngôi Lời, hiện diện trong vũ trụ ngay cả trước lúc nhập thể, mà thế giới hiện hữu (x. Ga 1,1-4; Cl 1,15-20). Nhưng trong tư cách là Ngôi Lời Nhập Thể đã sống, chết và chỗi dậy từ kẻ chết, Đức Giêsu Kitô bây giờ được tuyên xưng là sự viên mãn của mọi tạo vật, mọi lịch sử và mọi ước muốn được sống dồi dào của con người (47). Chỗi dậy từ kẻ chết, Đức Giêsu Kitô “hiện diện trong tất cả và trong toàn thể tạo vật, cách mới mẻ và mầu nhiệm” (48). Trong Người “những giá trị chân chính của mọi truyền thống tôn giáo và văn hoá, chẳng hạn như lòng thương xót và sự tùng phục ý muốn Thiên Chúa, lòng trắc ẩn và tính ngay thẳng, bất bạo động và công chính, lòng hiếu thảo và sự hài hoà với tạo vật, tìm thấy sự viên mãn và thực hiện” (49). Từ khởi đầu cho đến kết thúc thời gian, Đức Giêsu là Vị Trung Gian phổ quát duy nhất. Dù với những kẻ không công khai tuyên xưng đức tin vào Đức Giêsu như là Đấng Cứu Thế, ơn cứu độ vẫn đến với họ như là một ân sủng do Đức Giêsu Kitô, nhờ sự thông truyền của Chúa Thánh Thần.

Chúng ta tin rằng Đức Giêsu Kitô, Chúa thật và người thật, là Đấng Cứu Thế độc nhất bởi vì chỉ duy mình Người -Người Con- đã hoàn thành chương trình cứu độ phổ quát của Chúa Cha. Như là sự tỏ bày chung cuộc về mầu nhiệm tình yêu của Chúa Cha đối với mọi người, Đức Giêsu quả thực là độc nhất và “chính sự độc nhất đó của Đức Kitô cho Người một tầm vóc tuyệt đối và phổ quát, qua đó, vì ở trong lịch sử, Người là trung tâm và cùng đích của lịch sử (50).

Không cá nhân nào, không quốc gia nào, không nền văn hoá nào mà không bị tác động bởi lời mời gọi của Đức Giêsu thốt lên từ chính giữa lòng của thân phận con người. “Chính đời sống của Người đã thốt lên, nhân tính của Người, lòng trung thành của Người đối với chân lý, tình yêu bao quát của Người. Hơn nữa sự chết của Người trên Thánh Giá đã thốt lên, nghĩa là bề sâu khôn dò của sự đau khổ và bị bỏ rơi của Người” (51). Khi chiêm ngắm Đức Giêsu trong bản tính nhân loại của Người, dân chúng tại Á Châu gặp được câu trả lời cho tất cả những câu hỏi sâu sắc nhất của họ, hy vọng của họ được hoàn thành, nhân phẩm của họ được nâng cao và sự ngã lòng của họ được vượt thắng. Đức Giêsu là Tin Mừng đối với các người nam nữ của mọi thời đại và mọi nơi chốn, trong cuộc tìm kiếm ý nghĩa của sự hiện hữu và sự thật về bản tính nhân loại của mình.

Tin, cậy, mến và thập giá Đức Ki-tô

Tin, cậy, mến và thập giá Đức Ki-tô

Karl Rahner, S.J.

Dịch từ bản tiếng Đức: “Glaube, Hoffnung, Liebe und das Kreuz Christi” in Karl Rahner, Sämtliche Werke, Bd. 23, Herder. Freiburg , 2006, 366-370.

Chúng ta chiêm ngắm thập giá Đức Ki-tô với niềm tin, cậy, mến. Ba thái độ nền tảng của đời ki-tô hữu này sẽ là chủ đề và nội dung ba phần suy niệm dưới đây, đặt trong tương quan với Thập Giá Đức Ki-tô. Qua việc xếp thứ tự tin-cậy-mến, chúng ta cũng hiển nhiên ý thức rằng việc khoanh vùng cục bộ cuộc sống ki-tô hữu chúng ta thành ba khía cạnh và diễn tả chúng thành từng đoạn suy niệm một phải được lồng vào tổng thể, mà trong đó ta khám phá ra ý nghĩa của tin-cậy-mến, khi chúng quy hướng về thập giá Chúa. Dĩ nhiên những điểm suy niệm khiêm tốn dưới đây chỉ có thể diễn tả rất ít sự phong phú khôn dò của mầu nhiệm Thập Giá.

Tin

Đức tin chiêm ngắm thập giá Chúa. Điều mà thập giá ngỏ lời trước tiên với các tín hữu về cuộc sống của họ chính là những thực kiện đánh dấu cách trần trụi và kinh khủng cuộc sống của con người. Thực kiện ấy là: Thập giá (dù ta muốn gọi thế này hay thế khác) là một “sự vật” thuộc về cuộc sống con người, mà suốt đời người ta không thể nào trốn chạy được. Thập giá hiện diện trong chính cuộc đời của Đức Giê-su trong những hoàn cảnh đáng sợ và đặc thù mà chúng ta không thể nào hiểu hết được. Nhưng trong dòng lịch sử đáng thương của nhân loại không chỉ lặp đi lặp lại khắp nơi toàn là những biến cố mới mà thôi, mà đối diện với bóng đen và sự khủng khiếp của chúng thì chúng ta không thể nói gì hết ngoài sự câm lặng, như trước cái chết đau thương của Đức Giê-su. Suy cho cùng, trong lịch sử ấy, không hề có sự phân chia giữa kẻ chiến người bại, kẻ hạnh phúc người bất hạnh, mà thật ra (chúng ta cứ quan sát cuộc đời một con người trong tổng thể và điểm kết của nó thì rõ) chỉ có kẻ chiến bại mà thôi. Con người chúng ta là kẻ thảm bại dưới mọi hình thức: nghèo đói, bệnh tật, thua cuộc, những o ép của cuộc đời, bất công tàn nhẫn của xã hội, cảm giác tội lỗi và cuối cùng là cái chết. Con người bị dồn vào cõi mịt mờ, cô đơn và vô thanh đến chết người ấy, điều mà trong ngôn ngữ nhà đạo chúng ta xưa nay vẫn dùng là “Thập Giá”.

Chúng ta không thể giảm nhẹ sức nặng của thập giá. Thập giá đè lên cuộc đời chúng ta cho tới khi cái chết vồ lấy chúng ta; và thập giá, lại một lần nữa, là biểu tượng của kẻ chiến bại, được dựng lên trên mộ phần. Dĩ nhiên chúng ta phải và có khả năng kháng cự lại mọi sự dữ trong xã hội và đời sống cá nhân. Dù vậy, ta không được hiểu sai sứ điệp thập giá, theo kiểu tự nhủ thầm, thôi đừng làm gì cả, hay theo kiểu ra lời an ủi kẻ khác, về những điều mà theo lẽ chúng ta đã phải tranh đấu cho và vì họ. Nhưng cả những điều vừa nói cũng sẽ chẳng thay đổi điều này: là tất cả chúng ta rồi sẽ phải đối diện với cái chết, – tức cái tự tồn hữu ngay trong khái niệm sống -, và thêm nữa cuộc sống của chúng ta là một đàng thánh giá tiến về sự chết, về phía nỗi cô đơn và mịt mờ của nó.

Nhưng nếu bây giờ ta tự hỏi: liệu đức tin của chúng ta, một khi ngước nhìn thập giá, có dám chấp nhận sự khó hiểu đến vô lý của thập giá không. Đặt sự khó hiểu ấy đối diện với cái thực tế phũ phàng của cuộc sống thì chúng ta được kết quả hiển nhiên là: chúng ta được mời gọi vác lấy thập giá mình và bước theo Đức Giê-su. Hẳn ta thấy còn biết bao nhiêu cá nhân và cộng thể vẫn không thoát ra được cơn cám dỗ triền miên, là cố che dấu cái cay đắng của hoàn cảnh mình hay chối bỏ những lời chính Đức Ki-tô đã thốt ra trên thập giá. Như đã nói, chúng ta được phép kháng cự lại thập giá. Trong đời sống cá nhân và xã hội, chúng ta cũng đã phần nào giành được phần thắng, lắm khi thắng rất oanh liệt. Vì thế, tự bây giờ chúng ta có quyền được hạnh phúc, được quyền lạc quan về sức mạnh của cuộc sống, của tinh thần và thể xác. Bao lâu chúng ta còn có thể sống với một thái độ như thế, thì chúng ta mới mong có được tiếp phần chiến thắng thêm nữa. Nhưng tất cả những ý tưởng này không được phép chối bỏ ý thức của chúng ta về thập giá. Những ai có tinh thần lạc quan về cuộc đời phải là người nắm giữ bí mật về sự hiệp nhất này: là chúng ta phải thực sự muốn ôm ấp sứ điệp của Thập giá, cho mình.

Tới đây, trong cõi tĩnh lặng của tâm hồn, chúng ta đặt cho mình câu hỏi: Đâu là thập giá đời tôi, thập giá mà tôi không muốn thấy và tự thâm tâm không muốn nhận lấy, nhưng thập giá ấy thực ra sẽ trở thành thập giá chúc phúc của Đức Ki-tô, nếu tôi muốn thực sự đón nhận nó? Mỗi người đều được hỏi như thế, và mỗi người phải tự mình cho câu trả lời. Nếu một người lớn mà nói như thế này, rằng câu hỏi này thật ra không phải là một nỗi bận tâm lắm trong đời anh ta, thì anh ta có thể hoặc là một người, dù có thể vô danh, nhưng đã có được sức mạnh từ thập giá của Đức Giê-su Ki-tô rồi, hoặc là một người hiện còn ở lại hoàn toàn trong sự mù lòa đáng sợ của mình đến nỗi chẳng có thể đối diện nổi với những câu hỏi cuộc đời riêng. Tất cả chúng ta, ai cũng bị đặt câu hỏi, nhưng mỗi người tùy theo cách của mình.

Cậy

Hy vọng (đức cậy) trong bối cảnh thập giá là nội dung suy tư sau đây của chúng ta. Trước khi đi vào đề tài này, chúng ta có một lưu ý nhỏ nhưng cần thiết. Chúng ta muốn nói đến một niềm hy vọng có thể bao trùm và chứa đựng hết tất cả. Ý nghĩa và sức mạnh của niềm hy vọng ấy, chúng ta gọi là Thiên Chúa và niềm hy vọng ấy, trong tương quan với thập giá Đức Giê su, sẽ được nhìn nhận như một thách đố và đồng thời là một bảo chứng. Ngược lại với hy vọng là sự hoài nghi tuyệt đối. Có khi nó thâm nhập rất đơn giản và yên ả trong cuộc đời người này và có thể là một thái độ thực sự “rắp tâm” trong cuộc đời một người khác. Tuy nhiên, ở nơi nào mà đời người bị giày xéo bởi đau khổ, dằn vặt và sự chết, cũng như ở nơi nào mà cơ hội để được là chính mình và tự mình xây dựng những khả năng như mình phải có bị cưỡng đoạt, thì ở đó thế nào cũng có một kiểu hoài nghi nào đó, một kiểu mà quan niệm tội lỗi và nghi ngờ xét theo nghĩa cá nhân không còn có thể kể đến nữa. Hơn thế nữa, người ta không chỉ còn là nạn nhân chịu đau khổ do một kẻ khác gây ra, mà chính Chúa phải tiếp nhận trách nhiệm của kẻ ấy, để rồi Ngài đón lấy họ và đưa vào trong lòng thương xót vô biên của Ngài. Thậm chí cả khi chúng ta cho rằng phần số của kẻ bị hoài nghi ấy xem ra còn khủng khiếp hơn thế nữa.

Chúng ta có rất nhiều niềm hy vọng trong đời và chúng chóng nở chóng tàn. Hơn nữa, chúng ta cũng tự hỏi, liệu chúng ta có một niềm hy vọng đến từ Thiên Chúa hay không. Một niềm hy vọng bao trùm mọi hy vọng, sẽ không hư mất, mà tồn tại mãi, trong khi những điều hy vọng hão huyền của riêng ta rồi sẽ mất đi. Chúng ta xây cho mình nhiều loại hy vọng: sức khỏe, chiến thắng bệnh tật, thành công trong cuộc sống, tình yêu và cảm giác được che chở, hòa bình trên thế giới và hàng ngàn điều khác mà cuộc sống của chúng ta mong đạt tới. Những điều ấy tự chúng là tốt, và chúng ta luôn có dịp kinh nghiệm lúc này lúc khác, cách này cách khác hoa trái tốt đẹp của những hy vọng ấy. Nhưng cuối cùng mọi hy vọng kiểu ấy sẽ biến thành thất vọng. Chúng chênh vênh rồi tàn lụi, cho dù trước đó những hy vọng ấy trở thành hiện thực hay vẫn còn dang dở. Vì dầu thế nào đi nữa, chúng ta, ai cũng sẽ phải đi vào cõi chết, và trên con đường ấy, từng niềm hy vọng một sẽ bị lấy đi.

Vậy sau đó thì sao? Chuyện gì sẽ đến, nếu chúng ta, trong một giờ tĩnh lặng hay giữa những va chạm ồn ào của cuộc sống, bị dồn vào tình trạng mất hy vọng tuyệt đối, không còn gì để hy vọng nữa? Cái gì có thể soi sáng, nếu những nguồn sáng của cuộc đời thường nhật của chúng ta, từng cái một tắt mất? Khi mà cả ngày và đêm, tất cả đều bị đẩy vào cõi hư vô thinh lặng dị thường? Nào có phải trong giây phút lâm chung, tất cả các hy vọng chỉ còn là những hoài nghi, cái hoài nghi tự mình bóp nghẹt, nhưng sau đó sẽ còn lại một điều duy nhất? Cái duy nhất ấy là biến cố của niềm hy vọng đơn thuần và duy nhất nhưng bao trùm tất cả? Rồi người tín hữu sẽ trải qua kinh nghiệm này là, chính khi mọi hy vọng chết đi, thì niềm hy vọng “ấy” sẽ trỗi lên và có thể chiến thắng. Lúc đó ta không cần bất kỳ hy vọng nào khác mà chúng ta nên bám víu vào, cho bằng chính niềm hy vọng mà ta không hiếu hết được, niềm hy vọng bao trùm tất cả và có tên gọi là Thiên Chúa, một niềm hy vọng trỗi lên trong thinh lặng.

Và nếu chúng ta hiểu và phó thác, rằng chính điều không thể hiểu được ấy là quê hương thật và thánh phúc, thì ta sẽ trải nghiệm rằng, ta không cần phải gồng mình để bám trụ nữa, không phải chiến đấu để chiến thắng nữa, không chạy cuống cuồng theo điều này điều kia đề đặt hy vọng vào chúng. Cái bất khả lĩnh hội thì cách nào đó tự mình dịch chuyển và mang trong mình sự ứng nghiệm có khi không thành lời.

Tuy nhiên, trong đức cậy Ki-tô giáo còn có niềm hy vọng khác nhưng đi kèm sự hiểu biết, về cuộc chiến thắng của Đức Giê-su trong hành trình tự hủy của Ngài. Và cả hai khoảnh khắc này, – tức là một bên là phó mình vào trong ý định khôn dò của Thiên Chúa, hiểu như là một ân phúc vô danh của chúng ta và một bên là sự tuyên tín về cuộc chiến thắng của Đức Giê-su trong hành trình cõi chết -, sẽ định hình và bổ trợ người tín hữu và xây dựng cho họ đức cậy Ki-tô. Và nếu có lúc nào đó ta đối đầuvới sự nhạt nhẽo và nhàm chán của cuộc sống, với cảm thức tội lỗi không thoát ra khỏi chúng được và đi vào những nỗi hồ nghi, thì lúc ấy, trong khi nhìn lên Chúa Giê-su, Đấng thánh và quên mình, ta nhớ lại rằng: trong cuộc đời dương thế này, ta không được phép, dù chỉ một lần, để mình rơi vào cái tình trạng vô nghĩa trống rỗng hồ nghi, nhưng nhìn nhận phần số đời mình như là một thực thể sống động luôn luôn hiện hữu bên Thiên Chúa. Vì lẽ đó, người tín hữu cũng cần đến niềm hy vọng ấy, vì Đấng chịu đóng đinh trên thập giá đã yêu mến ta cho đến cùng. Và thế là kinh nghiệm về Thiên Chúa, diễn ra trong lúc các hy vọng cá nhân mình tan chảy, sẽ gắn kết với lời tuyên xưng về Đấng chịu đóng đinh – Đấng chiến thắng đưa chúng ta vào niềm hy vọng Ki-tô. Chúng ta có muốn có niềm hy vọng, niềm hy vọng duy nhất ấy không? Chúng ta có đủ sức cầu nguyện cùng Giáo Hội trong tuần thánh “Ave crux, spes unica – Kính chào thánh giá, nguồn hy vọng duy nhất của chúng con” không?

Mến

Cuối cùng chúng ta ngước nhìn lên tình yêu mà Đấng chịu đóng đinh dành cho ta. Tình yêu song phương giữa Đức Giê-su và người tín hữu trong bối cảnh thập giá là đề tài thứ ba của chúng ta. Đây là một đề tài không cần giả định nền tảng, bởi vì tình yêu mà ta bàn đến ở đây chỉ có những người đang thực sự yêu nhau mới có thể hiểu mà thôi. Tất cả mọi thứ tư biện về tình yêu đều sai lệch hết, huống chi ở đây là tình yêu của Đấng Con Thiên Chúa chịu đóng đinh và tình yêu mà ơn cứu độ nó mang đến có ý nghĩa cho toàn bộ cuộc sống chúng ta. Vì đặc tính phi nền tảng của tình yêu nên chúng ta chỉ có thể khiêm tốn đặt ra hai câu hỏi: Đấng chịu đóng đinh trên thập giá có yêu chúng ta, trong đó có tôi không? Tôi có khả năng yêu Ngài thực sự không?

Đức Giê-su trên thập giá có yêu tôi không? Ngài có thể biết gì về cuộc đời chỉ sống một lần và cụ thể của tôi không? Trong tình trạng u tối, bị Thiên Chúa bỏ rơi và bất lực hoàn toàn ở cõi chết, Đức Giê-su có biết đến tôi không? Trong khi đang chết mòn trên thập giá, tôi có chỗ trong lòng Ngài không? Và tình yêu ấy làm sao có thể xuyên không gian và thời gian để đến nơi và lúc tôi đang sống và sẽ chết đây? Đối với câu hỏi này chúng ta phải dùng đức tin mà trả lời „Có!“ cho dù câu trả lời ấy vẫn còn tăm tối đối với chúng ta, vì làm thế nào có được một tình yêu như thế trong trái tim một con người giới hạn và đang đi vào cõi chết. Kinh nghiệm sống động của Tin Mừng về Thần Khí của Đức Giê-su đã làm chứng về tình yêu ấy: Người đã yêu tôi và muốn hiến mình vì tôi. Nền thần học uyên bác tìm cách lý giải tình yêu được nói đến trong Kinh Thánh này trong mức có thể, như sau: tình yêu ấy chỉ ra sự thống nhất căn để giữa Ngôi Lời Thiên Chúa với thực tế đời nhân loại của Đức Giê-su, chỉ ra sự gắn kết giữa ý thức của bản tính thần linh với bản tính nhân loại. Sự thống nhất vừa nói nơi Đức Giê-su làm cho Ngài biết được từng cá thể con người, ngay cả trong ý thức nhân loại của Người.

Chúng ta có thể bàn thêm một chút về khả thể của một tình yêu như thế dưới một góc độ khác. Các phương diện và mức độ mà theo đó con người bước vào một tương quan và biến nó thành tình yêu thì rất đa dạng và vì thế cũng có nhiều kiểu tình yêu: tình yêu nông cạn, tình yêu „thường thường bậc trung“, hay tình yêu tận căn nằm trong cõi sâu nhất của hiện hữu. Vì thế, sự gần gũi về thể lý với nhau hay tạo cho nhau cảm giác hạnh phúc lúc này lúc kia suy cho cùng không là tình yêu tuyệt đối; tình yêu tuyệt đối là một tình yêu, trong khi thực sự đi vào cõi sâu nhất thì trở nên một và tồn tại mãi. Tuy nhiên dù trong ánh sáng chan hòa ân phúc hay trong tình trạng đêm tối chết người mà ai đó thực sự dám phó thác mình vào mầu nhiệm vô đáy một cách vô điều kiện, một mầu nhiệm giải thoát người ấy khỏi đêm tối của chính mình, và nhờ thế nảy sinh một tình yêu tối hậu, cũng là một tình yêu hy tế, và đồng thời mầu nhiệm ấy là nguyên lý và mục đích của mọi thực tại và mọi con người, thì lúc đó từ trong bóng tối tử thần, kẻ yêu mến đến liều mình ấy đã đạt đến cảnh vực sâu nhất của mọi thực tại và cận kề tất cả sinh linh. Đức Giê-su yêu tất cả, yêu tôi, vì Ngài hoàn toàn quên chính mình và vì thế từ phương thế bất khả thấu của mọi thực tại, mà chúng ta gọi là Thiên Chúa, từ tất cả những điều ấy và thậm chí trong cả cái chết của tôi nữa, Ngài hoàn toàn cận kề.

Tôi có thể yêu mến Chúa Giê-su không? Hay đó chỉ là một tình yêu lập dị, một ý thức hệ thiếu thực tế, một thứ nội quan thuần túy mang lòng đạo bình dân, hay là một thứ tình yêu bù trừ; thái độ ấy hình thành trong ta vì ta thấy mình có lỗi, nặng nợ với một con người cụ thể rõ ràng nào đó, những người mà ta phải gặp gỡ bằng xương bằng thịt mỗi ngày? Ta có thể tìm thấy câu trả lời này trong chương 25 Tin mừng Mat-thêu và thư thứ nhất của thánh Gioan: Theo các sách ấy, người ta chỉ có thể yêu mến Chúa Giê-su và Thiên Chúa thật, khi người ta thực sự yêu mến anh chị em mình. Khi ta yêu người thân cận mà không tính toán thiệt hơn và chấp nhận mọi nguy cơ, thì một tình yêu như thế, dù trong lòng hay diễn tả ra ngoài, đã là một đột phá đi vào thực tại bên kia, nơi Thiên Chúa và con người kết hợp mật thiết, nơi mà Thiên Chúa sẽ bảo đảm cho khả năng yêu, khả năng chịu đựng và là bảo đảm đầy ân phúc cho mọi nỗi nhọc nhằn, nguy nan của tình yêu con người. Thiên Chúa sẽ không để xảy ra cái nguy cơ thất bại cuối cùng nào trong tình yêu của con người, và con người, trong sự thống nhất ấy, sẽ có khả năng yêu mến Thiên Chúa nơi một anh em đồng loại. Sự thống nhất giữa hai mặt của tình yêu ấy có tên là vị Chúa-Người Giê-su Ki-tô. Một tình yêu tha nhân mà không hề để ý đến khả năng tự vệ trước nguy cơ vô lý của người khác dành cho mình thì hệ tại ở chỗ: nó sẽ đi vào cái nguy cơ tận căn nhất ấy của nó, giống như bước đột phá đi vào tình yêu của vị Chúa-Người, cho dù người đó đó có thật sự ý thức nó hay không. Tuy nhiên, ai là Ki-tô hữu thì đã biết điều đó. Khi anh ta ra sức yêu mến anh chị em mình thực sự thì anh ta có quyền hy vọng, rằng Giê-su sẽ yêu anh ta và tình yêu này, trong khi mang dáng dấp của cầu nguyện và hy vọng, và bằng những phương tiện rất cụ thể, sẽ tự trình bày chính mình.

Khi chiêm ngắm Đấng chịu đóng đinh bằng thái độ yêu thương, người tín hữu sẽ biết rằng: ở giữa sự vô nghĩa của những thất vọng, những điều khốn khổ, cảm giác tội lỗi và ám ảnh bởi cái chết của tôi, thì tôi được bao bọc bởi một tình yêu từ thuở đời đời. Nhờ tình yêu bao bọc tôi ấy, tôi được giải thoát trở nên tự do, để biết yêu mến Thiên Chúa và con người.

Chuyển dịch: Giuse Bùi Quang Minh, S.J.

Thần học Thánh Kinh về Thập giá

Thần học Thánh Kinh về Thập giá
Bình Hòa OP

Trải qua lịch sử Kitô giáo đã có nhiều thứ thần học về Thập giá, bắt nguồn từ những đường lối suy tư và chiêm ngắm khác nhau khi người tín hữu đứng trước Thập giá.

Không ai chối cãi được sự quan trọng của Thập giá đối với Kitô giáo. Không những các Kitô hữu đeo ảnh Thập giá trên người để tỏ lòng mộ mến hay để tỏ ra căn cước của mình, mà thậm chí người ngoại đạo cũng coi Thập giá như là biểu tượng của Kitô giáo: chính vì thế mà tổ chức từ thiện “Hội chữ thập đỏ” đã bị các nước Hồi giáo bắt sửa lại phù hiệu thành “vầng trăng đỏ” để tránh lẫn lộn công tác nhân đạo với Kitô giáo. Mặt khác, nhiều người Kitô hữu đã gắn liền Thập giá với hy sinh đau khổ, và họ có cảm tưởng rằng không còn gì khác để nói ngoài đề tài đó. Cảm tưởng đó chỉ đúng một phần, theo nghĩa là từ hai mươi thế kỷ nay, mỗi lần nói tới Thập giá thì không thể nào tránh được vấn đề đau khổ. Tuy nhiên, ngoài đề tài đau khổ ra còn có những khía cạnh khác nữa. Một điểm đáng ghi nhận là tuy rằng đã có nhiều suy tư về ý nghĩa của Thập giá trải qua suốt lịch sử Kitô giáo, nhưng mãi tới thập niên 70 của thế kỷ XX, mới nảy ra một ngành thần học mang tựa đề là “Thần học về Thập giá” (staurologia), theo nghĩa là Thập gia trở thành trung tâm của thần học: chính nhờ Thập giá mà chúng ta biết được khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa.

A. Thần học Kinh thánh về Thập giá.

Trong phần này, xin đề cập đến 3 vấn đề:

Thập giá trog khung cảnh lịch sử của nó.
Bốn tác giả Phúc âm đã nghĩ gì về việc Đức Giêsu phải chịu chết trên Thập giá.
Thần học của Thánh Phao-lô về Thập giá.

I. Nhục hình Thập giá

Vào thời của Đức Giêsu, Thập giá tiên vàn là một nhục hình. Trong đế quốc Rôma, Thập giá là một hình phạt dành cho các trọng tội. Tội nhân thường bị đánh đòn, và sau đó phải vác thanh ngang được chồng lên chóp của cây gỗ giống như chữ T (thanh ngang được chồng lên chóp của cây gỗ đứng); một thứ giống hình chữ thập, với bản án ghi vào ở trên thanh ngang. Thêm vào đó, cũng có nhiều kiểu để treo tử tội: thường là y bị lột hết áo xống, và bị cột hoặc đóng đinh vào khổ giá, có khi đầu bị dốc ngược xuống đất. Nói chung, đây là một hình phạt chỉ dành cho lớp bần đinh hoặc nô lệ, các tên đại tặc hay là phiến loạn; các công dân Rôma không phải chịu hình phạt này trừ kho nào họ đã bị tước quyền công dân. Ngoài sự đau đớn do cuộc hành hình gây ra, hình phạt Thập giá còn mang thêm tính cách ô nhục: tử tội không được an táng, nhưng phải phơi thây giữa trời làm mồi cho chim muông dã thú. Vì tính cách nhục nhã như vậy nên không ai muốn làm anh hùng bằng cái chết trên Thập giá. Cũng vì lý do đó mà việc tôn kính Đức Kitô trên thập tự là cả một chuyện điên rồ hèn hạ: không những thánh Phaolô đã viết như vậy trong thư thứ nhất gửi tín hữu Corintô vào khoảng 20 năm sau biến cố xảy ra, mà rồi một thế kỷ sau đó (khoảng 150-153) trong quyển sách “Hộ giáo” (Apologia I,13,4), thánh Giustinô còn ghi nhận rằng: dân ngoại coi chúng tôi là bọn khùng bởi vì đã tôn một tên tử tội trên Thập giá làm Đấng Tạo dựng đất trời.

II. Từ tường thuật hình khổ Thập giá tới suy niệm về ý nghĩa Thập giá dựa theo bốn tác giả Phúc âm

Việc Đức Giêsu chết trên Thập giá là một biến cố lịch sử, được tất cả bốn tác giả Phúc âm thuật lại; biến cố đó cũng được ghi chép nơi các sử gia Rôma (như Tacitus, Annales XV, 44-45) và Do thái (Josephus Flavius, Antiquitates Judaicae XVIII, 64). Những người hoài nghi về sử tính của Phúc âm thì chỉ nêu nghi vấn chung quanh những đoạn viết về lời giảng hay về phép lạ của Đức Giêsu, chứ không hề đụng tới câu chuyện bị chết trên Thập giá. Các Kitô hữu cũng không hề hổ thẹn gì để chấp nhận sự kiện thầy mình đã bị xử án giống như các tên trộm cướp. Thậm chí M.Kaeler cho ranừg lúc đầu Phúc âm là bản tường thuật về cuộc tử nạn của Đức Giêsu trên thập giá, rồi về sau người ta mới thêm một phần dẫn nhập để giải nghĩa lý do gì đã đưa tới sự cố đó. Dù những giả thuyết về tiến trình sự thành hình của bốn Phúc âm thế nào đi nữa, một điều rõ ràng mà chúng ta nhận thấy là tất cả bốn thánh sử đều khá đồng nhất khi thuật lại cuộc tử nạn của Đức Giêsu , với ba hồi chính:

Ngài bị bắt;
bị xét xử vàlên án;
bị đóng đinh.

1. Trong hồi thứ nhất (xức dầu ở Betania, tiệc ly, hấp hối trong vườn cây dầu), chúng ta thấy rằng Đức Giêsu đã biết và đã báo trước điều sắp xảy ra cho mình, và giải thích lý do và ý nghĩa của nó: điều đó cần phải xảy ra để hoàn tất sứ mạng. Tuy bề ngoài Ngài bị bắt nhưng kỳ thực là Ngài đã được trao nộp theo chương trình của Chúa Cha.

2. Hồi thứ hai diễn ra ở hai tòa: do thái và Rôma, kết thúc với án tử hình được thi hành ngay tức khắc. Các thánh sử đều quả quyết rằng bản án đó bất công vì Đức Giêsu không có tội tình gì hết.

3. Hồi thứ ba gồm có việc đóng đinh vào Thập giá, chết và an táng. Giọng văn kín đáo, gọn gàng, không có những chi tiết lâm ly bi đát.

Nên biết thêm là ngoài những chương thuật lại cuộc Tử nạn, Phúc âm ít khi nói tới Thập giá. Xem ra các Kitô hữu đầu tiên chấp nhận việc Đức Giêsu chịu đóng đinh vào Thập giá như là một sự kiện đã xảy ra, nhưng họ ngượng ngùng khi nhắc tới chuyện kinh hoàng ô nhục đó. Họ tìm cách lục lọi các bản văn Kinh thánh (mà ta gọi là Cựu ước) để tìm hiểu lý do và ý nghĩa của nó trong chương trình của Thiên Chúa: tại sao Thiên Chúa lại để cho Đức Giêsu bị trao nộp và chết cách thảm thương như vậy? Vì thế, dần dần các tín hữu ít nghĩ tới chính cây thập giá cho bằng suy gẫm nhiều hơn về việc Đức Kitô chết trên Thập giá. Nói khác đi, các thánh sử không chú trọng tới cây Thập giá cho bằng tới ý nghĩa của việc Đức Giêsu chịu chết trên Thập giá xét trong toàn thể sứ mạng của Ngài. Việc đong đinh trên Thập giá chỉ là một hồi trong tấn kịch dài hơn.

Thánh Matthêu và Marcô trình bày Đức Giêsu như một người hoàn toàn công chính đã bị bắt bớ và bị hăm hại vì sứ mạng của mình. Việc thiết lập bí tích thánh thể (được đặt ở hồi thứ nhất của cuộc tử nạn) đã trình bày ý nghĩa cái chết của Đức Giêsu như là sự trao hiến mạng sống của mình cho những người anh chị em. Kế đó người công chính đã lần lượt bị các bạn hữu của mình bỏ rơi, bị những người đồng đạo Do thái xét xử và nộp cho quân Rôma để bị giết. Hơn thế nữa, Mt (27,46) và Mc (15,34) còn nhấn mạnh tới việc Đức Giêsu bị bỏ rơi trên thập tự: “Chúa ôi, Chúa ôi, tại sao Chúa bỏ con?”. Đã có nhiều giải thích khác nhau về ý nghĩa của lời than ấy, chẳng hạn như: đó là tiếng kêu tuyệt vọng, tiếng kêu phản kháng, hoặc chỉ bộc lộ tình trạng tối tăm trong tâm hồn vì không thể hiểu được đường lối của Thiên Chúa. Dù sao, thì Thiên Chúa vẫn thinh lặng; hay nói đúng hơn, Thiên Chúa đã trả lời qua sự thinh lặng. Thực vậy, vào lúc mà tối tăm bao trùm khắp mặt đất, ra như vùi lấp hết những công trình của Thiên Chúa, thì này viên đội trưởng đã thốt lên: “Ông này quả thực là con Thiên Chúa” (Mc 15,39). Chính lúc xem ra tuyệt vọng hơn cả, lúc mà xem như Đức Giêsu bị Thiên Chúa bỏ rơi, thì viên đội trưởng lại nhận được ánh sáng mặc khải để khám phá ý nghĩa hoàn toàn trái ngược: không phải là Đức Giêsu bị Thiên Chúa bỏ rơi, nhưng mmà chính Đức Giêsu đã phó mặc mạng sống mình cho Thiên Chúa, và Chúa Cha đã trao ban mình cho Con.

Luca đánh dấu thêm một bước tiến nữa trong việc suy niệm về ý nghĩa thập giá. Không những viên đội trưởng đa tuyên xưng rằng Đức Giêsu hoàn toàn vô tội, nhưng nhờ cái chết của Ngài mà bao nhiêu người đã được ơn trở lại: Simon Phêrô đã khóc lóc sau khi chối bỏ thầy, Simon Cirênê đã hoán cải từ chỗ bị cưỡng bách phải tháp tùng Đức Giêsu tới chỗ vác Thập giá như một môn đệ theo thầy; một số phụ nữ đã đám ngực than khóc thống hối; một tên tử tội cũng ăn năn. Nhất là những giây phút chót của Đức Giêsu trên Thập giá đã trở thành cao điểm của ơn cứu chuộc: Đức Giêsu đã xin Chúa Cha tha tội cho những lý hình; và ơn cứu chuộc được thể hiện cách cụ thể khi mà tên trộm lành được hứa vào nước trời ngay hôm ấy. Sau cùng, lời cuối cùng của Đức Giêsu trước khi tắt thở biểu lộ long tín thác vô biên nơi Chúa Cha: “Lạy Cha, con xin phó thác thần trí con trong tay Cha” (Lc 23,46). Như vậy, đối với Luca, việc Đức Giêsu chịu chết trên Thập giá không còn phải là chuyện hành hình của một tử tội nữa, nhưng là một biến cố cứu rỗi.

Gioan thì nhìn Thập giá như sự bộc lộ của vinh quang Thiên Chúa: Đức Kitô bị treo lên Thập giá là biểu trưng của việc Ngài được nhấc lên khỏi mặt đất để thu hút mọi sự về với việc rửa chân cho các môn đệ và di chúc về tình yêu: Đức Giêsu giải thích ý nghĩa cái chết của mình như một cử chỉ tình nguyện để bộc lộ tình yêu dành cho các bằng hữu. Chính Ngài đi ra đón những kẻ lùng bắt mình. Cuộc tra tấn dã man biến thành lễ nghi phụng vụ, khi Đức Giêsu khoác tấm áo đỏ với vòng gai, và bản án là Vua (Ga 19,14.19). Thánh Gioan lặng lẽ theo dõi những giây phút chót của Đức Giêsu trên Thập giá, ghi chú những cử chỉ nhằm hoàn tất Kinh thánh: từ việc ký thác bà mẹ cho môn đệ, việc nhắp những giọt giấm cho tới việc bị ngọn giáo đâm thủng sườn: nhất là Gioan nhận định về những hậu quả của cái chết: máu, nước, Thánh Thần, biêu hiện của mạch sống mới. Thập giá trở thành nơi bộc lộ của vinh quang Thiên Chúa: Thiên Chúa tỏ vinh quang của tình yêu khi ban Con một nhục hình nhưng là ngai tòa mà Ngài hành sử vương quyền, không phải vương quyền theo nghĩa trần tục nhưng là vương quyền của tình yêu.

Như vậy ta thấy nơi bốn quyển Phúc âm đã có một diễn trình từ chỗ tường thuật một biến cố kết liễu cuộc đời của Đức Giêsu cho đến chỗ khám phá ra ý nghĩa của biến cố trong kế hoạch của Thiên Chúa.
Nguồn:
daminhvn

Linh Đạo Thiếu Niên

Linh Đạo Thiếu Niên
VietCatholic News (13 Mar 2011 21:47)

Linh mục William J. O’Malley, Dòng Tên, là một giáo sư thần học và Anh Ngữ cho lớp chuẩn bị vào Đại Học Fordham, và là người đã dành cả 22 năm trời để nghiên cứu 3,500 học sinh trung học và sinh viên đại học và vì thế, có lúc cha tự hào là hiểu biết hơn bất cứ người nào mới làm cha mẹ lần đầu. Tuy nhiên, khi được một số hiệu trưởng Công Giáo yêu cầu trình bày về linh đạo thiếu niên, cha thú thực bị bối rối. Linh đạo thiếu niên! Nghe sao mà mâu thuẫn, giống như nước không ôxy (dehydrated water) vậy. Bởi trong ngôn ngữ bọn trẻ, nội dung của từ “spirit” chỉ có thể có trong những thuật ngữ như “ngựa chứng” (spirited pony) hay “tinh thần nhà trường”… những thứ nhấn mạnh tới “cá tính” bề mặt, đâu dính gì tới nhân cách sâu xa. Chính bản thân cha, dù viết tới 4 tác phẩm, nhưng xem ra chưa bao giờ đụng tới hạn từ này và cũng chưa từng hiểu rõ ý nghĩa của nó. Đành là phải ngồi xuống mà học vậy.

Linh đạo

Linh đạo, theo cha, là sự sống tinh thần của tôi, mà tinh thần tôi chính là linh hồn tôi, là chính tôi, là nhân cách tôi, là chính bản ngã tôi (who-I-am). Trí hiểu tôi bị gợi tò mò, nhưng linh hồn tôi thì bị đánh động. Chính cái tiềm năng ấy ở trong tôi mới có phản ứng trước thể đáng kính (numinous), thể thánh thiêng trong thiên nhiên, trong nghệ thuật, trong con người, trong Thiên Chúa, mới biết khiêm hạ khi cảm nhận ra thế giới đầy những nét cao cả của Thiên Chúa. Đó chính là nơi mọi khía cạnh huyền ảo (nebulous), không thể định lượng hóa của bản ngã tôi cư ngụ: danh dự, kính phục, chân thành, trung tín, ân hận, yêu nước thương nòi, tin, cậy, mến. Đói khát thực phẩm nằm trong bụng tôi, đói khát lý lẽ nằm trong trí khôn tôi thế nào, thì đói khát sống còn sau khi chết cũng sống trong linh hồn tôi như thế. Nhưng trạng thái sự sống linh hồn tôi, tức linh đạo tôi, là một điều tôi chỉ có thể hiểu một cách mơ hồ, mờ mờ ảo ảo như trong một tấm kính, xuất hiện đấy rồi lại biến đi đấy.

Tất cả các triết gia kinh viện đều nhất trí rằng con người dứt khoát không phải chỉ là “những con vật có lý trí”. Bởi nếu chỉ có thế, chẳng hóa ra con người chỉ là những con vượn có gắn máy vi tính. Đây là chủ trương của phái duy khoa học. Chính cái chủ nghĩa giản lược ấy đã bị C. S. Lewis nghiêm khắc phê phán trong tác phẩm bậc thầy của ông tựa là “The Abolition of Man”. Phương châm giáo dục “Mens sana in corpore sano” (tâm trí lành mạnh trong thân xác lành mạnh) cũng không hoàn chỉnh. Nếu chỉ được huấn luyện có thế, cùng lắm ta chỉ có được “những con người không có ngực” (men without chests) như nhận định của Lewis, nghĩa là chỉ có óc và phủ tạng, chứ không phải nhân bản vì thiếu hẳn điều làm ta trở thành nhân bản tức yếu tố tâm linh. Chính trái tim, hay tâm hồn, chứ không phải bộ óc (mà ta vốn có chung với thú vật), mới làm ta thành người, không phải là thứ trái tim theo nghĩa duy cảm, mà là trái tim theo nghĩa của Gerard Manley Hopkins, khi ông dùng để diễn tả cái hiểu đột ngột của Margaret về sự chết:

“Không phải miệng. Cũng không phải trí. Nói lên điều trái tim nghe được, thần minh đoán định.

Chẳng phải ngũ tạng hay bộ óc có thể tính sổ cho cái tình yêu quên mình kia”.

Người cùng thời với Lewis, là Dorothy Sayers, đã giải thích rất hay về linh hồn con người, trong “The Mind of the Maker” (Tâm Trí Đấng Hóa Công). Bà viết rằng: trong sự hợp nhất tam vị của Thiên Chúa, Chúa Cha tự phát biểu mình ra, tức Ngôi Lời của Người, và chính trong việc tự phát biểu đó, một năng lực yêu thương đã được sản sinh ra, đó chính là Chúa Thánh Thần. Cũng thế, chính trong sự hợp nhất quện vào nhau (fusion) của trí và thể mà năng lực thứ ba đã được sản sinh ra, đó chính là tinh thần con người. Nhưng phần đông chúng ta không muốn hay không có khả năng phát biểu hay nắm được bản ngã mình, nên bèn quả quyết là không có bản ngã, không có nhân cách, chỉ có “cá tính”.

Những người duy giản lược, trong đó, không thiếu các người trẻ Công Giáo, luôn khẳng định rằng con người cũng chỉ là những con vật cao cấp. Thú vật nhiều khi còn nhận ra nhiều nguy cơ hơn con người (câu truyện sóng thần năm 2004 làm chết cả hàng trăm ngàn người, nhưng không một con vật nào tử vong); cá heo và cá voi có thể thông đạt với nhau ở khoảng cách rất xa; con vật mẹ tỏ “tình yêu” đối với con có khi đến hy sinh cả mạng sống mình. Nhưng những người duy giản lược quên không tính đến sự dị biệt giữa biết và hiểu, giữa âu yếm và yêu thương, vì yêu thương không phải chỉ là một cảm xúc, nhưng là một hành vi của ý chí. Lý do có lẽ vì họ chỉ được giáo dục để biết chứ không để hiểu, và họ chỉ cảm nhận được sự trung thành và tình âu yếm chứ chưa bao giờ sống thứ tình yêu chân thực, hy sinh quên mình. Con vật có thể hy sinh cho con mình, nhưng ta có thể hy sinh cho cả kẻ thù của ta nữa. Người duy giản lược không hiểu ra rằng không con heo nái nào, đang hạnh phúc vui thú với bày heo con, lại bị ám ảnh bởi điều chắc chắn này là một ngày kia, nó sẽ chết.

Tinh thần con người vượt xa con vật không phải bằng một thay đổi tiệm tiến nhưng bằng một bước nhẩy vọt đầy ngạc nhiên: đó là sự kiện, bản chất con vật là một lệnh truyền, còn bản chất con người là một lời mời gọi. Không con sư tử nào khước từ làm sư tử, trong khi ấy, báo chí hằng ngày vẫn dồn dập đưa tin chứng tỏ con người đang khước từ làm người. Ta được thong dong hành động, hệt như những con vật cao cấp, chỉ khác là có thêm bộ óc người khiến ta nâng cái ranh mãnh của loài vật lên một bậc thành khả năng ném bom cho đến chán và tổ chức ra những trại trừng giới, những nhà tù diệt chủng. Điều khiến ta gọi những con người tàn bạo ấy là “bất nhân” không phải vì họ thiếu một thân xác, cũng không phải thiếu một trí khôn mà là thiếu một linh hồn.

Những chỉ thị di truyền học trong thân xác con người là điều Albert Rosenfeld gọi là “cái khung tạo cơ hội” (a framework of opportunities). Con sư tử chỉ biết tự động tuân theo bản thảo chương nội tại, nhưng con người thì có thể tự ý tập luyện để trở thành một hậu vệ túc cầu hay một nhà vĩ cầm nổi tiếng. Tinh thần con người cũng vậy. Một đứa trẻ ở khu ổ chuột có thể biến tư thế khốn cùng của mình trở thành một huyền thoại như Horatio Alger (một thứ Chú Hỏa Việt Nam). Trái lại một đứa con nhà giầu có thể biến sự may mắn của nó trở thành thảm họa. Chúng ta có tự do, và sự tự do này ở trong chính linh hồn ta. Ta được tự do, muốn thể hiện tiềm năng nhân bản của ta hay không.

Sự đói khát trong cái bụng con người có thể được làm dịu đi nhờ thực phẩm vặt vẵn (junk food) và sự đói khát trong trí khôn con người có thể được thoả thuê nhờ các tạp chí lá cải hay tin tức thể thao thế nào, thì tinh thần hay linh hồn con người cũng có thể tiếp nhận các cảm xúc từ những cuộc biểu tình khích động, những cuộc tuyên thệ của hướng đạo sinh hay nhạc “pop”. Nhiều sinh viên của Cha O’Malley trích dẫn ban nhạc U2 (ban nhạc Rock Ái Nhĩ Lan) và Springsteen (ca nhạc sĩ Mỹ) như thể đó là T.S. Eliot (thi sĩ, kịch tác gia và nhà phê bình văn học Mỹ) hay Sách Thánh. Nhưng hậu quả cho cả linh hồn, cái bụng hay bộ óc đều như nhau. Không lạ gì nhiều người trẻ hiện nay không còn tinh thần chi cả.

Người Rôma gọi tinh thần, vốn là kết quả của cuộc hôn nhân đầy ý thức giữa bộ óc và phủ tạng, là “anima”, giống cái. Cái nhìn này quả thích ứng với các ẩn dụ về linh hồn và Giáo Hội như là Nàng Dâu của Chúa Kitô. Bởi thế, Lewis tin rằng tư thế (posture) thích đáng nhất trước mặt Thiên Chúa của linh hồn, dù là linh hồn của người nam hay linh hồn của người nữ, phải có tính nữ: không hẳn theo nghĩa thụ động, mà là sẵn sàng tiếp nhận, có khả năng sinh sản (mầu mỡ), dễ bị tấn công, nhưng đầy tính sáng tạo. Chính theo nghĩa này, Thiên Chúa đến với mỗi linh hồn ta, trong một cuộc Truyền Tin hằng ngày, để yêu cầu ta “Hãy thụ thai Con Ta ngay ngày hôm nay”.

Cũng theo nghĩa này, diễn trình văn minh hóa hay nhân bản hóa vốn là diễn trình nữ hóa khía cạnh vũ phu man dại của điều mới chỉ là những con người nhân bản trong khả thể. Người Viking hay hiệp sĩ chỉ là một đồ tể thuộc giai cấp thế vận chưa có người hát rong (minstrel) để đem lại một ý nghĩa, một ngữ cảnh cho việc sát hại của anh ta, và làm cho câu truyện của anh ta không chỉ kích thích tâm trí mà còn đánh động linh hồn. Nhưng Kitô Giáo mới làm được một bước nhẩy vọt thực sự: người anh hùng của tôn giáo này không phải chỉ tránh việc chiến trận; mà còn thắng trận nhờ chính sự bất lực của mình.

Các trở ngại

Thế hệ bây giờ đã đánh mất hầu hết sự ngạc nhiên, kính phục. Trong một lớp học 30 em, chỉ có một hay hai em nhận là chẩy nước mắt khi xem một cuốn phim cảm động. Tình yêu nước trở thành khuôn mặt nhăn nhó khi phải trả thuế hay đi bầu. Thế thì điều gì khiến giới trẻ ngày nay há hốc miệng? Một cuộc đua xe liên lục địa, một thân hình xinh xắn, một cú tung lưới ngoạn mục, một đại hội nhạc trẻ giật gân. Tất cả chỉ là bề ngoài, thay thế cho linh hồn. Muốn có lòng kính sợ, theo định nghĩa, người ta phải cảm thấy mình nhỏ bé trước đối tượng kích thích: một ngọn núi lúc bình minh, một bầu trời đầy sao, người yêu, Thiên Chúa. Nhưng tư thế thường hằng của giới trẻ ngày nay không còn là thế dễ bị thương tổn, thế nhỏ bé nữa mà là thế phòng thủ, không bái qùy nhưng ngẩng đầu nghinh chiến.

Một bài báo nhằm suy tư kia có yêu cầu sinh viên cho biết ai là anh hùng hay anh thư của họ; càng ngày, càng có đến nửa số sinh viên trả lời: tôi nghĩ tôi không có ai là anh hùng hay anh thư gì cả! Mà quả đúng thế. Tinh thần Mỹ hiện nay đã bị phủ bóng bởi cả một chủ nghĩa hoài nghi phổ quát. Không một anh hùng hay một anh thư nào sống được lâu khi có cả một đạo quân phóng viên rình rập bên cạnh để hạ độc chiêu (Achille’s heels). Các phương tiện truyền thông làm ta ngột ngạt bằng cả một kế hoạch thảo chương xúc cảm vũ bão mà ai cũng biết là giả tạo nhưng vẫn bị vướng kẹt vào. “Giá trị” chỉ còn là món hàng của não bộ phía trái, một thứ lời lãi chắc chắn cho việc đầu tư của người ta.

Về giá trị, một lớp học kia được cho xem một bức tranh vẽ một bé gái tay phải cầm tờ 50 dollars, tay trái ôm một con thỏ nhồi bông. Rồi người ta hỏi các sinh viên: “Nếu tình thế bất đắc dĩ nào đó đòi bạn phải liệng 1 trong 3 người và vật này vào lò lửa, thì bạn sẽ liệng người hay vật nào?”. Những sinh viên hay đùa dỡn thường trả lời: bé gái. Nhưng đại đa số trả lời: con thỏ. Tại sao? Thì lấy 50 dollars mua con thỏ khác, dĩ nhiên quên khuấy rằng tiền ấy là tiền của bé gái. Rồi từ từ một số sinh viên mới bắt đầu hiểu ra rằng bé gái kia không coi trọng gì giá trị tờ giấy bạc, nhưng con thỏ cũ mèm mới là sở hữu qúi giá nhất của em. Có hai thứ giá trị, một thứ được não bộ phía trái định lượng một cách dễ dàng, thứ kia thì không dễ dàng bị đóng hộp nhưng vang dội trong linh hồn nhạy cảm của con người. Việc thực hành dựa trên “tình thế bất đắc dĩ” cũng vậy. Năm, sáu mươi năm trước đây, người ta cũng chạm trán với sự lựa chọn như thế, và họ đã “chế biến” hàng triệu bé gái trong những lò sát sinh, giống hệt rác rưởi. Những người đồng ý làm việc đó vẫn còn đủ cả tâm trí lẫn thể xác con người, nhưng họ đã đánh mất sở hữu linh hồn nhân bản của họ.

Một suy tư khác tưởng cũng có ích: “Giả thiết phải chọn giữa một công việc bạn ghét nhưng lương cực kỳ cao, và một công việc bạn thực sự yêu thích nhưng khiến bạn và vợ con bạn phải chật vật mới đủ sống, thì bạn chọn công việc nào?”. Ít nhất có đến 85% người được hỏi chọn công việc “khốn kiếp” nhưng lương cực kỳ cao. Lý lẽ của họ khá cao thượng: Sẵn sàng nhận phần tồi bại, miễn nó mang lại một đời sống tốt cho vợ con! Ít khi họ chịu suy sét: hạnh phúc của gia đình của họ có thể vì cái tồi bại kia mà bị ảnh hưởng. Bất chấp sự kiện ta phải kinh qua giai đoạn bất quân bình cần thiết cho việc phát triển con người như Erikson từng chủ trương, ít sinh viên cho hay họ sẵn sàng muốn cho con cái họ phải chật vật để phát triển bộ xương sống; thay vào đó, họ muốn mang lại cho con cái họ sự tiện nghi chứ không phải nhân cách. Không một sinh viên nào cho hay họ muốn chọn một người phối ngẫu biết làm cho họ được thành toàn hơn là có được một hồ tắm ở vườn sau. Họ chỉ có một ý nghĩa duy nhất dành cho “đời sống tốt đẹp”, và ý nghĩa này chẳng có gì ăn có với Platông hay Aristốt, càng không ăn có gì với Chúa Giêsu Kitô.

Nhiều người trưởng thành không nhận ra điều này: “hình ảnh” là điều hết sức quan trọng đối với cuộc sống của người trẻ. Tuổi dậy thì ngày nay bỗng dưng bừng tỉnh trước ý thức về khuôn mặt và vóc dáng mình: “Má ơi, con có đẹp không má?… Thân mình con có xệ không má?”. Và kỹ nghệ khai thác quan tâm này hiện lên đến hàng tỉ đôla. Những tiếng nói không tự tin trong đứa trẻ đang được khuếch đại và nhân thừa lên cho tới lúc cuộc đời các em hoàn toàn bị vây kín bởi những chiếc gương đầy phán xét. Hiện có hàng loạt những đáp ứng khác nhau trước những kích thích thiếu tự tin ấy: “phải chì” (cool), phải hợp thời, phải phản ảnh, đừng lẻ loi lạc đàn, phải làm cho mình hơn hẳn (1). Ấy mới chỉ là một số. Nhưng ai cũng thấy đó chỉ là những phản ứng dựa trên phán đoán về bề mặt, về cá tính, chứ không hẳn về nhân cách. Điều hình như mình là quan trọng hơn điều mình thực sự là gấp bội; không có gì thành công như dáng dấp của thành công.

Nhưng nếu việc khám phá ra linh hồn mình hệ ở việc thấy mình nhỏ bé, thì làm sao ta thuyết phục được người trẻ hiểu tầm quan trọng chủ yếu của việc nắm lấy bản thân mình, khi họ dành hầu hết thì giờ vào việc phòng ngự?

Không phải chỉ có các quảng cáo và các phương tiện truyền thông mới phá hoại công cuộc đi tìm linh hồn, mà chính nền giáo dục của con em ta, cả ở trường lẫn ở nhà, cũng gần như chỉ có tính bề mặt và thực tiễn. Cả thầy giáo lẫn phụ huynh đều chỉ chú tâm tới động lực duy nhất khiến chúng học hành: không phải để khám phá ra bản thân, nhân cách hay một nền triết lý sống, mà để có được một công việc tốt. Từ ngày có phi thuyền Sputnik, “mọi người đều biết rằng” toán và khoa học là những môn chủ yếu, dù là để làm luật sư hay nghệ sĩ. Cả những môn “mềm” như Anh Văn hay tiếng Việt và lịch sử cũng chủ yếu có tính phân tích, thuộc não bộ phía trái (2). Mục tiêu giáo dục là nắm vững các dữ kiện, không để mình bị chúng làm thương tổn và tuân theo bất cứ điều gì môn này muốn dẫn ta tới. Khi phụ huynh hỏi: “Con học hành ra sao tại trường?” thì câu này không có nghĩa “nó có thú vị không?” mà thường chỉ có nghĩa: “điểm số của con thế nào?”

Khả thể linh đạo thiếu niên xem ra càng ngày càng không sáng sủa. Tuy nhiên, theo Cha O’Mailley, còn nước còn tát, dù chỉ là một tia quan tâm cũng đủ làm ta hy vọng. Nếu phụ huynh và thầy cô vẫn làm cho các cử tọa này chú tâm tới những lãnh vực tâm linh không phải là tôn giáo, thì ta vẫn có cơ may nói với họ: “ê, hình như các bạn còn thiếu điều gì đó. Có phải các bạn muốn nghe về … Thiên Chúa?”

Nhậy cảm hóa linh hồn

Bước đầu tiên phải làm là nhìn nhận rằng bổn phận của ta trong tư cách phụ huynh và nhà giáo dục Kitô Giáo không phải là lượng định khả năng cao đẳng (S.A.T = Scholastic Assessment Test). Dĩ nhiên không nên bỏ qua khía cạnh này, nhưng đó không phải là lý do để ta đòi học phí và treo Tượng Chịu Nạn trong lớp. Ta có bổn phận đối với tâm trí sinh viên, nhưng bổn phận sâu xa hơn phải là linh hồn họ, làm sao nhậy cảm hóa linh hồn đó, nữ hóa nó để không một người trẻ nào, nhất là con trai, phải xin lỗi vì đã có một linh hồn. Bổn phận làm tông đồ của ta đối với giới trẻ là hướng dẫn họ, như Thiên Chúa, để họ hiểu và phát biểu bản ngã họ ra, một bản ngã không phải chỉ là “một điều gì đó thuộc tinh thần” tình cờ xuất hiện trong một Thánh Lễ bắt buộc hay trong một biến cố ngoại thường nào đó, nghĩa là những giây phút “ Trời đất ơi!”, mà là chính tinh thần, chính linh hồn, chính bản ngã chân thực của người trẻ. Và điều này đòi các thầy cô và các nhà quản trị phải từ bỏ não trạng quá ư thực tiễn và chuộng hiệu năng hiện nay.

Trong mỗi con người, kể cả những con người không tôn giáo, đều có một tiềm năng tự nhiên muốn đáp ứng thể đáng kính và thể thánh thiêng tìm thấy trong thiên nhiên và trong nghệ thuật và nếu ơn thánh bồi đắp lên thiên nhiên, ta có thể khởi sự cuộc hành trình hướng tới một linh đạo có Chúa bằng cách giúp đứa trẻ từ sớm biết nhậy cảm đối với việc kết hợp bàng bạc và ít có tính dọa nạt hơn với các lực lượng mạnh mẽ và vô hình vốn bao quanh chúng, mà thực sự là chính tính sinh động của Thiên Chúa.

Ở trường tiểu học, thay vì dạy các em về tội (mà các em chưa có khả năng hiểu) hay về Đức Mẹ sinh con mà vẫn còn đồng trinh hay về Chúa Ba Ngôi (mà đến cả Thánh Tôma Tiến Sĩ cũng vẫn lúng túng), ta hãy dạy các em, ít nhất mỗi tuần một lần, những cách thư giãn và tập trung cũng như mở lòng ra cho Thiên Chúa. Các thiếu nhi là các ứng viên rất tốt cho lối cầu nguyện suy gẫm, tiếp nhận và “nữ tính”, hơn hẳn người lớn tuổi. Chúng rất ít khép kín, phòng thủ, mà lại nhiều óc tưởng tượng. Theo Chúa Giêsu, các em luôn luôn hiện diện trong Nước Thiên Chúa. Hãy dạy các em cảm nhận Nước ấy, vui hưởng Nước ấy, say mê trong đó, và tiếp tục “ngụ cư” trong đó.

Đâu đó sau ban tiểu học, việc học dần dần hết còn là một cuộc phiêu lưu kỳ thú, mà trở thành một việc buồn chán. Đây có lẽ là lúc ta thấy mình như đã “lừa” được các em “vào tròng” và là lúc bắt đầu cái công việc nghiêm chỉnh và đầy hiệu năng của những cuộc lượng định khả năng theo S.A.T. Dĩ nhiên, các em phải vật lộn với những kỹ năng căn bản, nhưng dù cho việc học không còn luôn luôn vui đùa thích thú nữa, thì nó vẫn phải có tính kích thích gay cấn. Như chương trình truyền hình “Sesame Street” đã chứng tỏ, trẻ em sẽ học hỏi nhanh hơn nhiều khi trí tò mò của các em được kích thích, khi chúng nhận được không phải là câu trả lời mà là những câu hỏi để các em lên đường tự tìm ra câu trả lời.

Năm nào cha O’Mailley cũng ngạc nhiên gặp được những học sinh giỏi, tốt nghiệp trung học, mà không bao giờ đọc ngụ ngôn Aesop hay truyện thần tiên của Grimm. Họ không sống với rồng tiên và độc sừng (unicorns). Họ không biết tới những câu truyện mà từ thuở xa tít mù khơi từng giúp trẻ em hiểu đời và hiều mình. Họ có biết Luke Skywalker (Star Wars), nhưng không bao giờ nghe về Odysseus, Theseus hay Psyche của thần thoại Hy Lạp, những câu truyện từng khiến họ mơ tưởng Địa Đàng…

Hãy đưa những người này vào rừng hay ra bãi biển, tránh xa những toà cao ốc và bảng quảng cáo, những Playboy cùng truyện hoạt họa Thứ Bẩy, những trò chơi như “Trivial Pursuit” hay “Monopoly” và hỏi xem họ có cảm thấy một sự hiện diện nào đó ở đó không, một điều gì đó vượt quá làn gió vi vu và sóng biển rì rào. Những điều này không cải thiện điểm số của họ; nhưng đúng hơn chúng là những thử nghiệm cho điều nhà giáo và phụ huynh chúng ta cho là quan trọng đối với con em mình.

Hãy làm cho phụng vụ trở thành vui tươi đối với các em, đừng giảng cho các em. Hãy để mỗi em nói xem Chúa ra sao; hãy để mỗi em nói “em thích nhất điều này ở Sarah…” Đừng làm việc ấy thay cho các em. Các ca khúc phải có tính thức tỉnh, điều ta quen gọi là “các bản tâm linh ca Da Đen” (Negros spirituals), những trào dâng đánh thức cả khía cạnh tự nhiên và siêu nhiên của linh hồn. Và ít nhất ở ban trung học đệ nhất cấp, phải chuẩn bị để các em sẵn sàng tham dự các buổi tĩnh tâm cuối tuần. Có lẽ chưa phải là những buổi tĩnh tâm thiêng liêng, mà chỉ là những buổi tĩnh tâm để các em an tâm hạ bệ hết những phòng thủ về cái tôi (ego-defences) và vươn tay ra, để mình có thể bị tổn thương mà không sợ sệt, nhất là cảm thấy mình nhỏ bé trước mặt Thiên Chúa. Việc này không phải một sớm một chiều mà đạt được.

Ở ban trung học đệ nhị cấp, Cha O’Malley dành 2 quí (quarters) để cùng các em tìm hiểu tâm lý quần chúng (pop-psychology) trong các lớp giáo dục tôn giáo. Trừ một số trường hợp hãn hữu, môn này không có tính tôn giáo bao nhiêu. Nhưng theo cha, nếu không thể giúp các em hiểu làm cách nào trở nên một người trưởng thành, thì làm sao ta có thể kích thích “linh đạo thiếu niên” nơi các em? Bởi thế, Cha giúp các em khám phá ra điều này: các ý niệm thuần phân tích, thuộc phía trái não bộ thực ra chỉ là những hiểu biết nửa vời (half-witted) và tất cả chúng ta đều là nạn nhân của bản sắc thú vật và của cái siêu bản ngã vốn thu lượm được từ diễn trình xã hội hóa từ nhỏ, trừ khi ta cố gắng vươn tới chính bản ngã mình, chính cái chân thân của mình, chính cái nhân cách, một nền đạo đức thực sự có tính bản thân. Cha cũng cho các em học hỏi các giai đoạn phát triển của Erikson và những ngỡ ngàng tự nhiên các em gặp phải trên diễn trình trưởng thành. Các em cũng có dịp tìm hiểu không những các dị biệt về tính dục mà còn cả bản chất ái nam ái nữ (androgynous) của linh hồn, bất luận là của nam giới hay của nữ giới. Và cuối cùng, các em được học hỏi về 9 loại cá tính khác nhau (enneagram). Đây là đề tài được các em hết sức chú ý, ngay các lớp sau giờ ăn trưa, vẫn không có em nào ngủ gục.

Điều khá nghịch thường là chính các thầy cô dạy khoa học lại đặc biệt có khả năng đả phá khuynh hướng thiên não bộ phía trái của học sinh và mở cửa cho các em cảm nhận được thể đáng kính (the numinous) miễn là họ phá bỏ được các hạn chế của thứ học trình theo chiều hướng công thức. Đối với đa số chúng ta, môn vật lý vốn là môn khó nhá nhất, đây là hình thức cực kỳ chuyên môn của tâm trí phân tích. Từ Democritus tới Newton và sau này, nó vốn có ý niệm duy cơ khí về thế giới, một mô thức trong đó, vật chất được chia nhỏ thành những yếu tố cấu thành căn bản, hoàn toàn thụ động. Nhưng từ Heisenberg, Einstein và Planck trở đi, khối lượng (mass) hay những đồ vật có góc cạnh mà ta đụng tới đâu phải chỉ là những vật nằm khườn ra đó (res extensa) như quan điểm của Descartes, mà chúng chính là một hình thức của năng lượng. Các hạt nguyên tử không hề bao gồm những “chất” căn bản mà là tổng hợp “các khuynh hướng hiện hữu”. Các điện tử (electrons) vừa là hạt (particles) vừa là sóng (waves). Và thật khó tìm thấy một hạt đặc thù tại một nơi và trong một lúc đặc thù nào đó. Nó cũng khó nắm bắt như chính Thiên Chúa vậy. Trong cái chuỗi liên tục bốn chiều của không gian và thời gian, bạn không thể biết chắc một vật đang chạy nhanh ra sao; câu trả lời tùy thuộc nơi bạn đang đứng vào lúc đó. Nhà vật lý bắt đầu nói năng giống như một nhà huyền nhiệm Đông Phương.

Như Fritjof Capra từng viết trên tạp chí The Saturday Review (12/10/77), cả khoa vật lý hiện đại lẫn khoa huyền nhiệm Đông Phương “đều nhấn mạnh rằng vũ trụ phải được nắm bắt một cách năng động vì nó chuyển động, rung động và nhẩy múa; thiên nhiên không phải là một thế quân bình tĩnh lặng mà là một thế quân bình năng động”. Thiên Chúa và vũ trụ của Người không phải là các danh từ mà là các động từ. Cả nhà vật lý lẫn nhà huyền nhiệm phải có được “khả năng thấu đạt các trạng huống bất thường của ý thức trong đó họ vượt quá thế giới ba chiều của cuộc sống hàng ngày để cảm nhận được một thực tại cao hơn, nhiều chiều hơn… Cuối cùng, sự sống còn của xã hội ta tùy thuộc khả năng ta có thể thu nhận được một số thái độ âm tính (yin) của nền huyền nhiệm Đông Phương, cảm nhận được tính toàn bộ của thiên nhiên và nghệ thuật sống hòa hợp với nó”.

Phần lớn các bậc phụ huynh muốn con em mình có được một “cuộc sống tốt”. Họ tin rằng giáo dục đại học là con đường dẫn tới cuộc sống ấy và hệ thống thẩm định khả năng đại học (S.A.T.) chính là cửa hẹp đưa các em vào con đường này. Cho nên họ đã chi những món tiền khổng lồ để con em mình theo những khóa học đặc biệt. Nếu Capra đúng, thì đáng lẽ các bậc phụ huynh này, về lâu về dài, nên chi tiêu khôn ngoan hơn, bằng cách dạy con em mình biết suy niệm. Thành thử, muốn có một nền linh đạo thiếu niên, trước nhất ta phải chứng tỏ để các em thấy có sự hiện hữu của linh hồn. Chỉ sau đó, mới có thể cho các em thấy Đấng mà vì Người, linh hồn kia đã được dựng nên.

Ghi chú

(1) Dịch thuật ngữ “One-upmanship”, tức nghệ thuật hay thực hành làm ta thắng vượt địch thủ. Thuật ngữ này xuất hiện lần đầu trong tác phẩm của Stephen Potter, xuất bản năm 1952. Nghệ thuật này hệ ở việc thực hành lối “hăm dọa đầy sáng tạo” khiến địch thủ cảm thấy ở dưới cơ mình và do đó, mình vượt lên họ một bậc (one-up).

(2) Có lý thuyết cho rằng mỗi phía não bộ chịu trách nhiệm những lối suy nghĩ khác nhau: Phía trái phụ trách luận lý, lý luận, phân tích, khách quan, nhìn từng phần. Phía phải phụ trách khía cạnh trực giác, toàn bộ, tổng hợp, chủ quan, nhìn toàn thể, mạnh về xúc cảm, mỹ nghệ, sáng tạo.
Vũ Văn An