Archive for the ‘ Vũ Văn An ’ Category

Việc nghiên cứu các phương tiện truyền thông có liên hệ gì tới nền thần học hiện đại?

Việc nghiên cứu các phương tiện truyền thông có liên hệ gì tới nền thần học hiện đại?
VietCatholic News (13 Sep 2010 20:04)

Đó là câu hỏi được Lynn Schofield Clark, một chuyên viên hậu tiến sĩ tại Trung Tâm Nghiên Cứu Các Phương Tiện Truyền Thông Đại Chúng, thuộc trường Đại Học Colorado, đặt ra cho Uỷ Ban Nghiên Cứu Quốc Tế về Phương Tiện Truyền Thông, Tôn Giáo Và Văn Hóa của Hội Thần Học Công Giáo Hoa Kỳ, nhân cuộc hội thảo với chủ đề “Bắc Cầu giữa Thần Học và Việc Nghiên Cứu Các Phương Tiện Truyền Thông”, được tổ chức ngày 12 tháng 6 năm 1998.

Xã hội học và thần học

Clark cho hay dù ông có bằng cấp chủng viện, nhưng công trình nghiên cứu của ông về các phương tiện truyền thông phần lớn có tính xã hội học trong các vấn đề lý thuyết và phương pháp của nó, với sự nhấn mạnh tới tôn giáo ngày nay. Một cách cụ thể, ông lưu tâm tới việc làm cách nào người ta tìm ra ý nghĩa tôn giáo và tâm linh từ các văn bản của truyền thông đại chúng. Đây là tập chú chính của một dự án nghiên cứu có tên là “Chủ Nghĩa Biểu Tượng, Các Phương Tiện Truyền Thông, và Dòng Đời” (Symbolism, Media, and the Lifecourse), một dự án kéo dài 4 năm do Qũy Lilly bảo trợ nhằm nghiên cứu các vấn đề tạo ý nghĩa trong gia đình và cuộc sống hàng ngày của người ta.

Dù Clark không phải là một thần học gia, cũng không phải là người Công Giáo, nhưng ông hy vọng các đóng góp của ông dưới một nhãn quan khác sẽ giúp cho việc hiểu biết nhau và bắc được nhịp cầu giữa thần học và ngành nghiên cứu các phương tiện truyền thông.

Ba lý do thần học cần đến ngành nghiên cứu truyền thông

Đối với câu hỏi trên, Clark nghĩ hiện có ba lý do khiến các thần học gia quan tâm tới các phương tiện truyền thông, và cũng có ba việc ngành nghiên cứu các phương tiện truyền thông có thể học hỏi từ các thần học gia.

Lý do thứ nhất, thần học gia là người quan tâm tới văn hóa, và việc phân phối quyền lực trong xã hội. Trong khi ấy, các phương tiện truyền thông là nơi quan trọng dành cho việc nói lên các quan điểm đang thống trị hay đang độc quyền (hegemonic) trong xã hội. Vì thế, sở dĩ người có xu hướng thần học quan tâm tới các phương tiện truyền thông là vì họ dấn thân tìm kiếm công lý.

Theo Clark, một trong những khúc quanh đầy thích thú trong nền thần học gần đây dẫn người ta tới việc nhìn nhận văn hóa như là “qũy tích (locus) ưu hạng của mạc khải Thiên Chúa” theo kiểu nói của Roberto Goizueta. Đối với James Cone cũng như nhiều nhà thần học tranh đấu cho việc giải phóng phụ nữ ở Châu Mỹ La Tinh và các cộng đồng da mầu, thần học hẳn phải bắt nguồn từ cái hiểu thực dụng có tính lịch sử của người ta. Những nhà thần học này hướng chú tâm hàng đầu của họ vào ngữ cảnh các văn bản tôn giáo, hay kinh nghiệm và cái nhìn của người ta cũng như các đồ tạo tác (artifacts) và các ý niệm văn hóa.

Goizueta, chẳng hạn, đã mở rộng quan niệm về văn bản đức tin cổ điển của David Tracy để bao gồm không những các tư liệu chữ viết mà còn cả các chất liệu đức tin như Chặng Đàng Thánh Giá hay Đức Mẹ Guadalupe, vì cả hai đều nhập thân nhiều khía cạnh quan trọng của việc thực hành đức tin về phương diện văn hóa. Goizueta cũng mở rộng quan niệm của chúng ta về văn bản đức tin cổ điển để bao gồm các thực hành tôn giáo về phương diện xã hội, hay điều ta có thể gọi là văn bản trong ngữ cảnh (text in context). Thực vậy, trong một phê phán đối với khuynh hướng thần học quá nhấn mạnh tới các văn bản chữ viết mà quên mất các thực hành khác cũng góp phần vào thần học không kém, Goizueta viết rằng: giản lược Thiên Chúa vào một ý niệm cũng đáng sợ như việc giản lược Người vào một pho tượng!

Trong công trình của Orlando Espin về một Đạo Công Giáo bình dân, người ta cũng thấy cùng một tập chú như trên đối với văn hóa. Theo Espin, mọi nhận thức và học hỏi đều được văn hóa xác định và làm trung gian. Với cách tiếp cận đầy xây dựng của Goizueta và Espin đối với thần học, ta có thể thêm điều này: các phương tiện truyền thông cũng góp phần vào việc xác định ấy của văn hóa. Dĩ nhiên, điều ấy thường không diễn ra như ý ta muốn. Nhưng ta cần nhấn mạnh điều này: trong bất cứ ngữ cảnh nào trong thế giới ngày nay, người ta cũng không thể nào quan tâm tới văn hóa mà sao lãng các phương tiện truyền thông. Các phương tiện truyền thông cung cấp tín liệu và củng cố các niềm tin chung, hay ít nhất, cũng là những niềm tin đang chiếm vị thế độc quyền (hegemonic) trong nền văn hóa Phương Tây. Ta cần biết các niềm tin ấy để có thể nghĩ ra cách tái định nghĩa chúng, thách thức chúng và sử dụng được chúng cho các mục tiêu của ta, trong ngữ cảnh các tổ chức tôn giáo của ta và trong các cố gắng đạt công lý của ta.

Lý do thứ hai khiến cho việc nghiên cứu các phương tiện truyền thông có liên quan tới nền thần học hiện đại là: các phương tiện truyền thông cung cấp thứ ngôn ngữ hàng đầu cho kinh nghiệm văn hóa chung qua truyện kể, qua hình ảnh và ý niệm.

Dù muốn hay không, các phương tiện điện tử và in ấn vẫn cung cấp cho ta một ngôn ngữ chung, thường được chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa tiêu thụ làm trung gian, theo nghĩa được mọi người trên thế giới chia sẻ. Sau đây là một điển hình. Trong khi nghiên cứu để hoàn thành luận án tiến sĩ, Clark gặp một thanh niên Ả Rập người Phi Châu theo Hồi Giáo. Người thanh niên này kể lại cuộc hành trình của anh ta tới Libya. Anh ta rất muốn nói với các thân nhân của mình về truyền thống Hồi Giáo, nhưng họ không muốn nghe những chuyện như thế. Họ bắt ngang câu chuyện và hỏi anh ta: “Anh có thích Michael Jackson không?”

Trong điển hình trên, ta thấy phương tiện nhạc phổ thông đã trở thành ngôn ngữ chung, được người trẻ khắp thế giới cùng nhau chia sẻ. Dĩ nhiên, điều ấy không chỉ giới hạn nơi người trẻ mà thôi. Vì bất cứ ai trong chúng ta, khi đặt bút viết điều gì, ta đều rút tỉa từ các kinh nghiệm văn hóa quen thuộc. Thông thường, các nhà khoa bảng thường chỉ bị lôi cuốn bởi nền văn hóa ưu tú (elite culture). Họ sử dụng các tác phẩm bác học, các tiểu thuyết và thi ca cổ điển. Họ chỉ nghĩ đến những kinh nghiệm đi thăm các phòng trưng bày nghệ phẩm hay đi xem một cuốn phim được giới phê bình tán thưởng. Những điều đó mới “nói” với họ được, theo nghĩa không những chúng được dùng để minh giải tư tưởng của họ mà còn nắm bắt được khía cạnh xúc cảm trong tư duy của họ.

Và đó là một trong những thách đố được Paulo Friere đặt ra cho các nhà giáo dục. Ông viết: “Các nhà giáo dục và các chính trị gia thường hay nói nhưng chẳng được ai hiểu vì ngôn ngữ của họ không thích ứng với hoàn cảnh cụ thể của người nghe… Để thông đạt một cách hữu hiệu, nhà giáo dục và chính trị gia phải hiểu rõ các điều kiện cơ cấu vốn lên khuôn tư tưởng và ngôn ngữ của người ta về phương diện biện chứng”.

Nhưng tư tưởng và ngôn ngữ của người ta được lên khuôn như thế nào? Đâu là ngôn ngữ của người ta? Xin thưa, đó chính là ngôn ngữ của các phương tiện truyền thông đại chúng. Peter Horsfield, một thần học gia đáng kính của Úc, từng nói rằng nhiều nhà khoa bảng không thích các phương tiện truyền thông đại chúng vì bản chất thương mãi của chúng và vì tính mơ hồ và phi sắc tướng (amorphous) của chúng về phương diện tâm linh. Nhưng nền văn hóa ưu tú (high culture) cũng đâu phải là phi thương mãi. Mozart, khi được hỏi tại sao không bao giờ sáng tác một bản concerto, từng trả lời rằng: “Vì đâu có ai đặt tôi sáng tác như thế”. Có người cũng cho rằng giữa tôn giáo và truyền thông thương mãi vốn có nhiều liên hệ với nhau. Hãy lấy Martin Luther làm thí dụ. Các tư tưởng của ông được truyền bá phần lớn là vì các nhà in thương mãi tại Âu Châu thấy ông là một tác giả sinh nhiều lợi nhuận cho họ.

Nền văn hóa đại chúng không phải là nơi phát sinh ra dịch bản mới nhất của Kitô Giáo, nhưng chắc chắn nó là một ngữ cảnh của văn hóa. Nó là ngôn ngữ hàng đầu của đại đa số người ta. Cho nên, thiển nghĩ thần học phải nghiêm túc xem sét nó nếu các thần học gia muốn được người ta nghiêm chỉnh xem sét mình, coi mình như những người biết thực sự quan tâm tới họ.

Cho nên, một trong những cây cầu hiển nhiên giữa thần học và ngành nghiên cứu các phương tiện truyền thông chính là mối quan tâm tới các kinh nghiệm có ý nghĩa của người ta. Bởi thế, một điều mà ngành nghiên cứu các phương tiện truyền thông có thể đem lại cho các thần học gia chính là việc hiểu biết hơn cách làm thế nào để cái thế giới quan chung và hầu như độc quyền kia cũng như những câu truyện phần lớn có tính nghi vấn đang được loan truyền trong nhiều phương tiện truyền thông kia trở nên có ý nghĩa trong cuộc sống hàng ngày của người ta, cả về phương diện tôn giáo.

Các phương tiện truyền thông mà lại có ý nghĩa tôn giáo? Hẳn ai cũng phải ngạc nhiên. Clark bảo chính ông cũng vậy. Một điều kỳ thú ông nhận ra lúc tìm hiểu để viết về thanh thiếu niên là diễn trình tác động qua lại giữa các phương tiện truyền thông và bản sắc tôn giáo, một diễn trình được ông gọi là “tái sinh” (regeneration). Đó là trường hợp Jodie, một thiếu nữ 20 tuổi không muốn chấp nhận các niềm tin của nền dưỡng dục Thệ Phản nữa vì, như cô nói, có “quá nhiều sự kiện đi ngược lại Thánh Kinh”. Khi được hỏi cô thích tin vào chương trình truyền hình nào, thì cô nói “có lẽ là X-Files… Trong tâm tư tôi, chắc chắn ta không phải là sinh vật thông minh duy nhất… Thiên Chúa là một hữu thể cao hơn, làm sao ta biết ngài không phải là một giống người lạ? Trong X-Files, Mulder đã chẳng nói một điều như thế đó sao, rằng làm sao ta biết Thiên Chúa không phải là một giống người lạ?”

Trong thí dụ trên, ta có thể nhìn ra một diễn trình qua đó, bản văn của phương tiện truyền thông, hay cách Jodie đọc bản văn đó, đã góp phần cung cấp tín liệu và củng cố điều được cô coi như một niềm tin tôn giáo. Thực vậy, chúng cung cấp cho cô một cái khung để hiểu các niềm tin của cô và một ngôn ngữ nhờ đó cô thông đạt các niềm tin đó cho người khác. Cô chờ mong nhân vật Mulder, một kẻ hoài nghi các định chế và dự án, xem anh ta nói gì về Thiên Chúa để cả cô nữa cô cũng coi đó như niềm tin của mình. Điều ấy chính là điều Clark gọi là tái sinh: lấy bản văn của phương tiện truyền thông rồi từ đó, tái sinh ra một ý nghĩa; ý nghĩa này sau đó sẽ củng cố và cung cấp tín liệu cho cái hiểu tôn giáo.

Điều trên có nhiều hệ luận quan trọng đối với ngữ cảnh tôn giáo, như Mary Hess, một nhà giáo dục tôn giáo của Công Giáo, từng nhận định. Chương trình X-Files đã trở thành một phương cách để thiếu nữ kia nói về niềm tin của mình và điều gì quan trọng đối với cô. Điều ấy không những chứng minh rằng nền văn hóa đại chúng có thể được dùng làm tài nguyên để người trẻ suy nghĩ về tôn giáo. Mà nó còn là điểm nhấn để đối thoại trong các giáo hội, trong các chủng viện, hay trong các ngữ cảnh khác.

Nhưng các phương tiện truyền thông không phải chỉ là nguồn ý nghĩa và cái hiểu tôn giáo cho những người trẻ không có hậu cảnh tôn giáo. Và đây là lý do thứ ba khiến thần học cần lưu tâm tới ngành nghiên cứu các phương tiện truyền thông. Các phương tiện này còn là ngôn ngữ hàng đầu của ý nghĩa qua đó tôn giáo được cảm nghiệm, được hiểu và được làm cho có ý nghĩa đối với chính những người vốn đang hiện hữu trong ngữ cảnh tôn giáo truyền thống.

Một linh mục có lần nói với Clark về Phép Rửa mà chính ngài cử hành. Gia đình bé thơ tụ họp quanh ngài, trong đó có cả đứa anh trai lên 5. Khi vị linh mục chúc lành cho bé thơ và nâng em ra khỏi nước, mắt đứa anh trai bỗng sáng lên như nhận ra một điều gì và rồi em hân hoan hô lớn: “The Lion King!” (Sư Tử Vua).

Điểm quan trọng của câu truyện là Phép Rửa đã trở thành một cảm nghiệm tôn giáo có ý nghĩa đối với đứa trẻ vì “Sư Tử Vua” vốn có ý nghĩa; chứ không ngược lại. Khi nghe kể lại câu truyện này nhân một cuộc gặp mặt của các nhà giáo dục tôn giáo của Công Giáo, có bà phát biểu: quả là câu truyện lý thú, vì lâu nay bà đã tốn biết bao thì giờ tìm tài nguyên để giúp các bậc phụ huynh hiểu phần nào tư duy thần học hiện nay về Phép Rửa. Bà thấy rằng khi được hỏi tại sao Phép Rửa quan trọng, phần lớn người ta chỉ biết nhắc lại những điều xưa cũ mà chính họ cũng chỉ hiểu mù mờ, như Phép Rửa tha tội nguyên tổ và biến ta thành con cái Nước Trời. Trái lại, trình bày khúc phim “Sư Tử Vua” sẽ giúp người ta “ngộ” được sự cam kết của cả cộng đoàn đối với đứa trẻ, cả trên bình diện trừu tượng lẫn trên bình diện còn quan trọng hơn nữa là bình diện xúc cảm. Như thế, câu truyện do các phương tiện truyền thông cung cấp đã đem lại cho ta một cái khung để hiểu được ý nghĩa một biến cố tôn giáo, chứ không ngược lại.

Đó quả là khúc quanh có ý nghĩa do các biến cố đem đến. Khúc quanh đó mời gọi ta nhìn nhận điều này: Giáo Hội không còn có thể chỉ dựa vào thế giá luân lý và học lý có tính lịch sử của mình nữa. Đàng khác, không thể cho rằng các biểu tượng của Giáo Hội tự chúng có ý nghĩa nội tại. Ta phải coi chúng như “có khả năng trở nên có ý nghĩa” mà thôi, điều này tùy thuộc ngữ cảnh của bản văn. Giống bất cứ biểu tượng nào, các biểu tượng tôn giáo đều không được người ta cho là tự chúng có ý nghĩa. Chúng phải được biến thành có ý nghĩa…

Việc ấy mang lại nhiều hệ luận đối với điều ta tìm kiếm nơi các phương tiện truyền thông. Thí dụ, thay vì chỉ đọc các câu truyện do các phương tiện tuyền thông cung cấp, ta sẽ tìm cách khám phá xem những câu truyện và biểu tượng ấy đã trở nên có ý nghĩa như thế nào và vào lúc nào đối với các độc giả hay cử tọa của chúng. Nghĩa là, ta cần chú ý nhiều hơn tới con người.

Vì nền văn hóa đại chúng là ngôn ngữ hàng đầu đem lại ý nghĩa cho người ta, nên ta không thể đơn giản coi nó là hời hợt, là phiến diện được nữa. Coi một chương trình truyền hình như “Touched by an Angel” (Được Một Thiên Thần Hướng Dẫn) chẳng hạn là hời hợt, hay coi nền âm nhạc Kitô Giáo hiện đại như một thứ “kẹo bông đối với trí óc” (cotton candy for the brain), là vô tình bác bỏ điều vốn có ý nghĩa đối với cuộc sống hàng ngày của người ta. Nó cũng giống như việc một số người coi Đức Mẹ Đồng Trinh của Guadalupe như một thứ lầm lạc chỉ vì không phù hợp với qui điển thần học của họ.

Ba điều ngành nghiên cứu truyền thông cần đến thần học

Trên đây là một số lý do khiến các thần học gia nên chú ý tới việc nghiên cứu các phương tiện truyền thông. Tuy nhiên, ngành nghiên cứu các phương tiện truyền thông cũng học hỏi được ít nhất ba điều sau đây từ thần học.

Thứ nhất, ngành nghiên cứu các phương tiện truyền thông tuy quan tâm tới việc tạo ra ý nghĩa, nhưng thường không chịu định nghĩa chính từ ngữ “ý nghĩa”. Thay vào đó, ngành này cho rằng ý nghĩa là điều xẩy ra nơi cử tọa và do đó, tùy cử tọa nói ra ý nghĩa ấy. Thần học, nhờ quan tâm đến việc nói về ý nghĩa liên quan tới Đấng Tối Hậu, có thể cung cấp cho ta một số hướng dẫn về các phạm trù người ta thường dùng khi sử dụng từ ngữ ý nghĩa. Điều đó có thể làm phong phú thêm các phân tích của ngành nghiên cứu các phương tiện truyền thông.

Thứ hai, ngành nghiên cứu các phương tiện truyền thông cần được giúp đỡ để khám phá ra các mối liên kết giữa hệ thống giá trị được người ta công bố và các định chế lịch sử của tôn giáo. Nhiều nhà nghiên cứu thấy rằng người ta cảm thấy dễ chịu hơn khi nói về cả các chọn lựa của truyền thông lẫn việc lên bản sắc tôn giáo trong nền luân lý bản thân của mình. Phải chăng, đối với người ta, luân lý và tôn giáo chỉ là một? Nếu không, làm sao ta biết là chúng khác nhau như thế nào đối với người ta?

Thứ ba, ngành nghiên cứu truyền thông về phương diện văn hóa thường hiểu chính trị và công lý theo nghĩa Mácxít. Đó là lý do tại sao nó dễ gạt tôn giáo qua một bên. Làm thế nào để cái hiểu về vai trò giải phóng của tôn giáo (cả bình dân lẫn định chế) nơi các phong trào quần chúng có thể cung cấp tín liệu và thâm hậu hóa được cái hiểu của ngành nghiên cứu truyền thông về chính trị?

Không có gì linh thánh

Không Có Gì Linh Thánh (Nothing Sacred) là một vở kịch nhiều kỳ chiếu trên Đài ABC trong hai năm 1997 và 1998, do một linh mục Dòng Tên, Cha Bill Cain, sáng tác và do David Manson sản xuất. Vở kịch nói về một linh mục cấp tiến thuộc thập niên 1970, một người được mô tả là hoài nghi. Vở kịch bị nhiều người phê phán là đã mô tả người Công Giáo ngoan đạo như những người lạnh lùng và độc ác trong khi ca tụng sự bất chính thống và sự bất kính. Vở kịch và những người bảo trợ bị Liên Đoàn Công Giáo Mỹ tẩy chay. Và sau cùng, Đài ABC phải hủy bỏ ngang xương vào tháng 3 năm 1998.

Clark cho rằng sở dĩ vở kịch này được chiếu trên truyền hình vì nó đề cập tới nhu cầu cần có tôn giáo và thần học để người ta coi trọng các phương tiện truyền thông. Nói theo Martha Williamson, nhà sản xuất bộ phim “Được Một Thiên Thần Giao Tiếp” (Touched by an Angel) (1), hiện nay, trong kỹ nghệ truyền hình, tôn giáo được coi như “gia vị trong tháng” và có nhiều người còn coi nó như “gia vị trong cuộc sống người ta”. Tuy nhiên, thoạt đầu có tới 6 triệu lượt người vào xem “Không Có Gì Linh Thánh” nhưng càng về sau, con số càng giảm, xuống chỉ còn một nửa. Đến độ, riết rồi ít người còn nhắc tới bộ phim ấy. Một gia đình Công Giáo gốc Châu Mỹ La Tinh cho rằng tại nó có nội dung tiêu cực đối với Đạo Công Giáo nên đã quyết định không coi bộ phim này. Một người Thệ Phản có khuynh hướng bảo thủ cho rằng đây là một chương trình truyền hình điển hình mà ông không bao giờ coi vì nó “phạm thánh”. Điều đáng lưu ý là đối với ông, loạt phim “The Simpsons” cũng thuộc loại phạm thánh.

Tuy thế, loạt phim này vẫn lôi cuốn một số khán giả, những người cho rằng nó phản ảnh kinh nghiệm của họ, những người được chính soạn giả mô tả thuộc thiểu số có học và có khuynh hướng cấp tiến, không nhất thiết phải là Công Giáo, thấy mình thất vọng về tôn giáo định chế. Ấy thế nhưng, theo bài xã luận của tờ “Commonweal”, loạt phim này cũng khẳng định sự đồng nhất với định chế bằng cách mô tả nhiều thời điểm bí tích. Thành thử, thật ra, loạt phim này có ý nghĩa cả với định chế lẫn những người thất vọng về định chế ấy. Cho nên, nói về sự ủng hộ của định chế, một hệ luận quan trọng của phương thức lấy khán giả làm tâm điểm là thử hỏi xem:

A. Nếu đặt nó vào một khung cảnh giải trí khác, thì làm cách nào “Không Có Gì Linh Thánh” kiếm ra khán giả? Và các giáo hội định chế có thể giúp được gì trong diễn trình này? Một điều nữa: làm thế nào các giáo hội định chế có thể sử dụng “Không Có Gì Linh Thánh” làm tài nguyên để cùng các phương tiện văn hóa đại chúng khác nói về đức tin, về truyền thống và kinh nghiệm tôn giáo?

Khi được hỏi: loạt phim nào, theo bạn, được người ta ưa thích hơn “Không Có Gì Linh Thánh”, phần lớn trả lời “Được Một Thiên Thần Hướng Dẫn”. Dù sao, loạt phim này cũng đã thường xuyên lôi cuốn được 22 triệu người Mỹ xem. Đây là điều ta cần suy nghĩ, vì ngữ cảnh của “Không Có Gì Linh Thánh” không phải là nền văn hóa Công Giáo. Ngữ cảnh ấy chính là sự cạnh tranh giữa các chương trình truyền hình để có khán giả. Thành thử câu hỏi chủ yếu cần đặt ra là tại sao “Không Có Gì Linh Thánh” thất bại mà “Được Một Thiên Thần Hướng Dẫn” lại thành công?

Nói cho ngay: phần lớn các nhà khoa bảng không thích loạt phim sau. Họ thường nêu ra 5 lý do cho việc họ không thích loạt phim này:

5. Không nhắc gì tới tôn giáo định chế.

4. Giản lược luân lý xuống bình diện chọn lựa cá nhân; không hề phê phán các bất bình đẳng về cơ cấu và định chế hóa.

3. Cho người ta cảm giác Thiên Chúa giải quyết các vấn đề bản thân và xã hội bằng các can thiệp siêu nhiên vào cuộc sống các cá nhân.

2. Nó cảm xúc hóa tôn giáo.

1. Nó đưa ra các câu trả lời hời hợt và liến thoắng cho các vấn đề phức tạp của xã hội.

Như thế, dựa vào quan điểm của khán giả, ta học được điều gì? Có thể cho rằng có lẽ người ta không nhất thiết muốn tôn giáo phải trừu tượng và gây mâu thuẫn; họ muốn nó dễ lui tới. Cả “Không Có Gì Linh Thánh” lẫn “Được Một Thiên Thần Hướng Dẫn” đều sử dụng các câu truyện, dù loạt phim đầu được nhiều người coi là phức tạp hơn loạt phim sau. Nhưng có lẽ ngay những người chịu xem “Không Có Gì Linh Thánh” cũng có thể rút ra được một ý nghĩa nào đó làm cho cách tiếp cận phức tạp của nó ra đơn giản hơn. Các nhà khoa bảng có thể buồn khi biết điều đó, nhưng nếu đó là cái nhìn của quần chúng, thì hẳn họ sẽ không đi tìm khuyết điểm của cái nhìn đó mà là cái có ý nghĩa trong đó. Điều này dẫn ta tới hệ luận thứ hai:

B. Có thể rút ra được điều gì trong cái ta gọi là các câu trả lời liến thoắng cho các vấn đề phức tạp để mang lại ý nghĩa thần học cho người ta? Và cả hệ luận có liên quan này nữa:

C. Nếu người ta tự xây dựng cho mình các ý nghĩa tôn giáo riêng bằng cách dựa vào các tài nguyên văn hóa, thì làm cách nào xây dựng được các suy nghĩ thần học có ý nghĩa đối với người ta mà không cần đến định chế? Điều này cho thấy cần phải khảo sát kỹ hơn các thực hành tôn giáo bình dân cũng như các thực hành trong các ngữ cảnh Châu Mỹ La Tinh, người Da Đen, duy nữ và các nền thần học khác. Nó cũng cho thấy điều nữa: các thần học gia cần khảo sát xem người ta sử dụng các phương tiện truyền thông ra sao.

Tóm lại, suy nghĩ về các phương tiện truyền thông như thành phần tạo ra văn hóa không phải chỉ là suy nghĩ về vấn đề bản văn thánh đối chọi với bản văn đời. Dĩ nhiên ta có thể cho rằng bản văn thánh tiên thiên có thế giá, nhưng hẳn ta mong thấy giả thiết ấy được nhiều cuộc nghiên cứu về lối sống của người ta hỗ trợ. Nhiều người sợ rằng hiện nay người ta có khuynh hướng coi các bản văn thánh, và nói chung bất cứ điều gì có liên hệ tới tôn giáo định chế, đều chỉ có thế giá tương đối. Các công trình nghiên cứu về tôn giáo của các tác giả như David Morgan về ảnh tượng, của Mary Hess về các phương tiện truyền thông trong ngữ cảnh giáo dục tôn giáo và ngay cả của một số tác giả Công Giáo đã trích dẫn trên đây đều có những nhận định như thế. Giống bất cứ biểu tượng văn hóa nào nói chung, các biểu tượng tôn giáo không tự chúng có ý nghĩa. Điều ấy cho thấy ta không thể tách Kitô Giáo ra khỏi ngữ cảnh văn hóa. Các biểu tượng, các truyện ký, các thực hành đều có liên hệ với ngữ cảnh của chúng. Truyện ký giúp người ta hiểu; biểu tượng trở nên có nghĩa khi được lồng trong truyện ký.

Phải đặt các biểu tượng tôn giáo trong một ngữ cảnh có thể làm cho chúng có nghĩa đối với người ta. Các phương tiện truyền thông có thể làm được việc đó: nó giúp các biểu tượng tôn giáo hiện diện trong ngữ cảnh truyện ký và được thưởng ngọan trong các căn hộ của người ta. Các tổ chức tôn giáo và văn hóa có thể tạo ra các truyện ký tôn giáo cả từ trong truyền thống và định chế lẫn từ trong các hình thức mới của truyền thông đại chúng. Ta cần nhớ rằng thông đạt luôn là diễn trình đối thoại hai chiều; điều quan trọng không phải chỉ là hiểu điều phát đi mà còn cả điều thu nhận nữa. Như thế, việc thu nhận hay việc người ta tạo ra ý nghĩa mới chính là chỗ để ý nghĩa thần học xuất hiện. Bao lâu các phương tiện truyền thông được dùng để cung cấp tín liệu, nó sẽ trở thành một khía cạnh quan trọng đối với nền thần học hiện đại.

(1) “Được Một Thiên Thần Hướng Dẫn” (Touched by An Angel) là một bộ phim nhiều kỳ chiếu lần đầu trên hệ thống CBS tại Mỹ, kéo dài từ ngày 21 tháng 9 năm 1994 qua 211 kỳ và 9 mùa cho đến kỳ kết thúc vào ngày 27 tháng 4 năm 2003. Phim nói về một thiên thần được Thiên Chúa phái tới hướng dẫn những người đang ở khúc quanh cuộc đời, gặp nhiều khó khăn trong những quyết định rắc rối. Thiên thần đem đến cho họ niềm hy vọng cậy trông và hướng dẫn họ vượt qua các khúc mắc của cuộc sống.
Vũ Văn An

Ngừa thai và hôn nhân

Ngừa thai và hôn nhân
VietCatholic News (29 Aug 2010 00:45)
Đối với người Công Giáo, cuộc sống hôn nhân ngày nay càng ngày càng trở nên phức tạp, đặt ra cho họ nhiều vấn đề khó khăn. Điều này thấy rõ trong một câu hỏi do một giáo dân ở Cape Town, Nam Phi đặt ra cho Qũy Văn Hóa Sự Sống (Culture of Life Foundation) ở Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ. Câu hỏi đó như sau: hành vi giao hợp tính dục trong khi sử dụng phương thế ngừa thai có thỏa mãn các đòi hỏi Giáo Luật đối với việc hoàn hợp hay không.

Một chuyên viên của Qũy, ông E. Christian Brugger (1), đã trả lời như sau: cả giáo luật lẫn thẩm quyền giáo huấn luân lý của Giáo Hội đều chưa giải quyết dứt điểm vấn đề này. Trong trường hợp như thế, người có lương tâm luân lý nên cân nhắc các luận điểm của cả hai phía để xác định được câu giải đáp coi như đúng nhất dưới ánh sáng các sự thật rộng lớn hơn của đức tin. Đã đành, quan điểm của các nhà thần học trung thành với Giáo Hội vẫn có giá trị hơn. Nhưng người Công Giáo vẫn không nên “tin” mọi điều các nhà thần học nói là chân lý mạc khải hay giáo huấn dứt khoát của Giáo Hội. Họ cũng không nên dành cho ý kiến thần học cùng một sự vâng phục “cả tâm lẫn chí” như đối với các giáo huấn Công Giáo không có tính dứt điểm (xem Lumen Gentium số 25). Đúng hơn, họ nên cân nhắc điều các nhà thần học phát biểu và tự phán đoán xem điều ấy có đúng sự thật hay không.

Trong chiều hướng ấy, Brugger xin đóng góp ý kiến của ông về câu hỏi: việc giao hợp trong khi sử dụng các phương tiện ngừa thai có được kể là đã hoàn hợp cuộc hôn nhân không, nghĩa là liệu việc ấy có thỏa đáng để tạo nên việc hai thân xác hiệp thông thành một, một sự hiệp thông vốn cần thiết để làm cho một cuộc hôn nhân bất khả tiêu hiện hữu hay không?

Trước khi trả lời câu hỏi ấy, Brugger giải thích tại sao bản tính nhục thiêng (spiritual-bodily) của con người đã được lấy làm căn bản cho giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo về bản chất của hôn nhân. Theo ông, con người là một thể thống nhất gồm có thân xác và linh hồn. Họ là những hữu thể thiêng liêng, nhưng không phải chỉ là những hữu thể thiêng liêng đang sử dụng thân xác, như người thuyền trưởng điều khiển một con tầu. Họ còn là những hưu thể có thân xác, nhưng không phải chỉ là những hữu thể xác thân mà không có chiều kích vô xác thân. Đúng hơn nên gọi họ là “những linh hồn mang thân xác” (embodied souls). Tương quan vợ chồng chính là một biểu thức độc đáo nói lên thể thống nhất của thân xác và linh hồn ấy.

Nên để ý: một số tương quan, như mối tương quan giữa hai người bạn chẳng hạn, chỉ được thiết lập dựa trên căn bản thiêng liêng mà thôi. Điều này không có nghĩa tình bạn không dính dáng gì tới thân xác. Dĩ nhiên là có, vì hễ đã là nhân bản thì đều có dính dáng tới thân xác cả. Ở đây chỉ muốn nói: tình bạn có được là do một hành vi tinh thần, một hành vi ý chí, nghĩa là dựa vào sự đồng tình của các bên. Tình bạn ấy cũng chỉ kéo dài bao lâu bạn bè còn muốn là bạn bè của nhau. Nếu một trong các người bạn rút lại sự đồng tình kia, thì mối tương quan cũng sẽ vì thế mà chấm dứt.

Hôn nhân cũng là một loại tương quan cần sự đồng tình. Nhưng nó không phải chỉ là một tình bạn bình thường, được thiết lập và duy trì duy nhất bằng sự đồng tình của hai người. Nó còn một chiều kích thân xác hết sức sâu sắc, đó là chiều kích “trở nên một thân xác” được thể hiện bằng hành vi giao hợp tính dục đầu tiên (xem St 2:24; Mt 19:5; Eph 5: 31). Việc nên một thân xác này, như Thánh Phaolô từng nói (xem 1Cor 6:16) bắt đầu hiện hữu, bất kể người ta có kết hôn hay không. Nhưng vì nó kết hợp hai con người một cách độc đáo cả hồn lẫn xác, một hình thức nói lên khả thể cho tính thân mật và phụ tạo nhân bản triệt để, nên giao hợp chỉ có thể là hành vi vợ chồng, nghĩa là phải được coi là việc hiện thực hóa và chia sẻ mối tương quan với ba đặc điểm: vĩnh viễn, độc chiếm và phụ tạo.

Nếu hai bên không sẵn sàng đồng tình chấp nhận tình bạn suốt đời theo lối vợ chồng, thì hành vi giao hợp của họ là vô trật tự vì đã thiết lập sự kết hợp thành một thân xác trên căn bản mối tương quan không vĩnh viễn. Đức Gioan Phaolô II cho rằng “ngôn ngữ thân xác” của hành vi giao hợp ngoài hôn nhân là một ngôn ngữ lừa đảo: “Vì anh nói với thân xác anh rằng em là của anh và anh là của em mãi mãi; nhưng anh lại không đồng tình với sự kết hợp ấy”.

Bởi thế, hôn nhân là loại tình bạn vĩnh viễn với hai thân xác là một, được thiết lập trên căn bản vừa đồng tình vừa là một hành vi kết hợp hai thân xác thành một thân xác. Sự đồng tình xẩy ra tại bàn thờ khi hai người trao cho nhau lời thề kết hôn. Nếu họ quả tình có ý định bước vào một loại tình bạn thành một thân xác vĩnh viễn, và họ không có ngăn trở gì, nghĩa là họ đã thành vợ chồng rồi, thì sự đồng tình của họ khiến một cuộc hôn nhân “thành sự” (ratified), một cuộc hôn nhân thực sự, nhưng chưa phải là một cuộc hôn nhân trọn vẹn. Nó chỉ trọn vẹn khi hai người phối ngẫu hòan hợp cuộc hôn nhân của mình bằng hành vi thân xác nói lên phương thức một thân xác mà họ đã đồng tình ưng thuận lúc ở bàn thờ, dâng hiến cho nhau trọn con người mình một cách không đòi lại. Nếu họ chưa bao giờ hoàn hợp cuộc hôn nhân của họ, thì sự không trọn vẹn của cuộc hôn nhân ấy được phát biểu qua sự kiện: sợi dây hôn phối của họ có thể bị Giáo Hội tháo gỡ. Nếu cuộc hôn nhân của họ vừa thành sự vừa hoàn hợp, thì sẽ không có ai, kể cả Giáo Hội, có thể tiêu hủy được nó, trừ sự chết.

Giáo luật

Về câu hỏi trên, cuốn Chú Giải năm 1985 Bộ Giáo Luật của Hội Giáo Luật Hoa Kỳ nói thế này: “Các tham khảo viên từng thảo luận các điều khoản của luật này chuộng ý niệm cho rằng hành vi giao hợp tính dục cách tự nhiên tạo ra sự hoàn hợp, còn việc sử dụng các phương tiện ngừa thai thì không ngăn cản việc hoàn tất hành vi ấy bao lâu phương tiện ngừa thai không can thiệp vào hành vi thể lý của giao hợp” (2).

Theo Brugger, điều trên có nghĩa: các tham khảo viên, tức các chuyên viên giáo luật được Tòa Thánh tham khảo trong giai đoạn chuẩn bị Bộ Giáo Luật năm 1983, tin rằng nếu người vợ dùng thuốc viên ngừa thai trong hành vi giao hợp đầu tiên của vợ chồng, thì hành vi của họ vẫn “tự nó có khả năng sinh sản con cái” nói theo ngôn từ của Bộ Giáo Luật (điều 1061), tức hành vi ấy vẫn có tính phụ tạo, dù có thể không thực sự mang đến thụ tinh (fertile). Điều ấy không hẳn vì các tham khảo viên tin rằng thuốc viên là hợp luân lý, nhưng hành vi giao hợp với thuốc viên ngừa thai không ngăn cản người chồng đặt được tinh trùng của mình vào cửa mình người vợ, một điều mà phần lớn các nhà giáo luật tin là chủ yếu đối với việc hoàn hợp.

Nhưng Brugger cho hay đối với ông cũng như đối với đa số các thần học gia về luân lý ngày nay, phán đoán trên không đúng. Theo ông, để một hành vi giao hợp tính dục trở thành hành vi “vợ chồng” và do đó, hợp pháp, hành vi ấy phải nhất quán với hai mục đích chính của hôn nhân đó là sự phụ tạo (procreation) và sự nên một. Nếu một trong hai mục đích ấy bị cố ý bác bỏ, thì dù tác phong thể lý có giống với việc giao hợp vợ chồng bao nhiêu, hành vi ấy cũng không phải là hành vi vợ chồng. Thành ra, thí dụ, nếu trong đêm tân hôn, người chồng cưỡng bức vợ phải giao hợp với mình bất chấp ý muốn của nàng, thì hành vi ấy không phải là hành vi vợ chồng, nghĩa là chưa hoàn hợp, vì hành vi ấy chống lại tự do của nàng, nên nó đi ngược lại mục đích “nên một” của hôn nhân. Nó cũng không phải là hành vi thuộc loại nhân bản, ít nhất là đối với người vợ; nó chỉ là một hành vi của tác phong thể lý. Cũng tương tự như thế, nếu khi dùng các phương tiện ngừa thai, một người hoặc cả hai vợ chồng có ý định để hành vi giao hợp của mình không đưa đến thụ tinh (fertile), nghĩa là không sinh sản, thì vì ý định tích cực chống lại mục đích sinh sản ấy, hành vi giao hợp này không phải là hành vi vợ chồng. Nếu không phải là hành vi vợ chồng, thì hiển nhiên nó không hoàn hợp được cuộc hôn nhân. Cho nên, một hành vi cố ý ngừa thai trong giao hợp tính dục không thoả mãn các đòi hỏi của điều 1061 qui định việc hoàn hợp hôn nhân.

Nếu lối biện luận trên đúng (một biện luận, như trên đã nói, chưa phải là giáo huấn của Giáo Hội, mà chỉ là ý kiến thần học), thì nó đem lại khá nhiều hệ luận quan trọng đối với việc chuẩn bị hôn nhân. Cặp vợ chồng nào có ý định ngừa thai trong năm đầu tiên của cuộc hôn nhân để tránh có con (điều mà Brugger tin là khá đông) thì dù họ đã bước vào một cuộc hôn nhân thành sự tại bàn thờ, họ sẽ chỉ hoàn hợp cuộc hôn nhân ấy khi họ chịu thực hành một hành vi giao hợp vợ chồng biết tôn trọng cả hai mục đích của hôn nhân. Điều này có nghĩa họ chỉ kết hợp nên một thân xác thực sự kể từ lúc ấy; trước đó, họ chưa nhận được ơn thánh vốn đổ trên tính một thân xác của hôn nhân; và bởi thế, cuộc hôn nhân của họ vẫn có thể bị hủy tiêu. Nó cũng có nghĩa: họ đã bước vào cuộc hôn nhân với ý định làm một hành vi xấu một cách nặng nề, rất có hại cho cuộc hôn nhân của họ.

Brugger cho rằng: sau 40 năm uống viên thuốc đắng này, các cặp vợ chồng ngày nay cần các mục tử của Giáo Hội lên tiếng rõ ràng hơn rằng: ngừa thai hoàn toàn chống lại mục đích của hôn nhân; nó là hành vi chống lại hôn nhân, một siêu vi khuẩn luân lý ngay bên trong mối liên hệ vợ chồng. Ông tin rằng linh mục nào biết rõ một cặp vợ chồng nào đó có ý định thực hành ngừa thai sau khi lấy nhau nên làm hết cách để thuyết phục họ đừng làm như thế. Cố gắng thuyết phục của ngài phải bao gồm nhiều việc hơn là chỉ nói với họ rằng điều đó không đúng. Ngài nên giải thích rõ ràng bao nhiêu có thể lý do tại sao việc giao hợp có tính ngừa thai là điều sai; dĩ nhiên phải làm như thế trong tình bác ái và nhẫn nại, vì biết rằng đối với nhiều người, sự thật về ngừa thai là điều rất khó nhận ra. Cuối cùng, nếu họ bác bỏ giáo huấn của Giáo Hội, thì ngài nên từ chối không làm đám cưới cho họ. Brugger bảo rằng theo ý kiến của ông, phong chức linh mục cho một người bác bỏ giáo huấn của Giáo Hội về việc độc thân của giáo sĩ là một lầm lẫn lớn về mục vụ thế nào, thì làm đám cưới cho những người bác bỏ giáo huấn của Giáo Hội về sự trong sạch phu phụ cũng sai lầm như thế.

Ngay khi không theo nhận định này, thì ngài cũng nên nói càng rõ càng hay để cặp vợ chồng ấy hiểu tội ngừa thai không là chuyện đùa đối với sự lành mạnh của hôn nhân, dù thực hành mục vụ Công Giáo ở một số nơi từng có quan điểm ấy cả mấy thập niên qua.

(1) E. Christian Brugger là một chuyên viên kỳ cựu về đạo dức học tại Qũy Văn Hóa Sự Sống (Culture of Life Foundation) và là giáo sư diễn giảng về thần học luân lý tại Chủng Viện Thần Học St John Vianney tại Denver, Colorado. Ông đậu Tiến Sĩ Triết tại Oxford năm 2000.

(2) Commentary on canon 1061 (1985, Canon Law Society of America), p. 745.

Vũ Văn An

Cuộc tranh luận về linh đạo giới trẻ (2)

Cuộc tranh luận về linh đạo giới trẻ (2)
VietCatholic News (26 Aug 2010 19:48)
Những người ngoại giáo tí hon xinh đẹp

Bill Farrelly, người giữ một mục trên tờ Marist Messenger, thì chú trọng nhiều hơn tới Thế Hệ X, có thể nói như thế, nghĩa là Thế Hệ đi trước thế hệ Y, hay thế hệ cha mẹ của thế hệ này. Theo ông, muốn “nắm” được Thế Hệ Y thì phải nắm được Thế Hệ X. Đầu dây mối rợ của hiện tượng xa rời Giáo Hội nằm chính trong Thế Hệ X này.

Ngày 16 tháng 6 vừa qua, Farrelly cho đăng một bài tựa là “Những người ngoại giáo tí hon xinh đẹp” (Beautiful little pagans). Ông bắt đầu bằng một lời thống thiết “Vì Chúa Kitô, xin Giáo Hội hãy tỉnh dậy!”. Ông bảo: ông không có ý phạm thượng, mà chỉ đưa ra một lời khẩn khoản, đồng thời dóng lên tiếng nói thất vọng của mình khi khám phá ra lý do tại sao 7 trong số 8 đứa cháu của ông cứ tiếp tục làm người ngoại giáo tí hon xinh đẹp. Lý do ấy là: ông đã cố gắng truyền lại cho con cái ông niềm tin của ông, nhưng con cái ông đã từ khước không truyền lại cho con cái chúng cùng một niềm tin ấy, thậm chí từ khước luôn cả việc rửa tội cho chúng.

Farrelly cho hay: con cái ông là những con người đứng đắn, biết lo lắng, trung thực và biết yêu thương. Ông tôn trọng quyết định của chúng trong việc ngưng không tham dự Thánh Lễ nữa, vì chúng có quyền lựa chọn như thế. Nhưng điều ông không hiểu và dường như con cái ông không hiểu là chúng đã vô tình tước mất quyền lựa chọn ấy của con cái chúng, vì chúng đã không cho con cái chúng có dịp tiếp xúc với đức tin như chính chúng từng được cha mẹ chúng cho tiếp xúc.

Đó là mối thất vọng đầu. Mối thất vọng sâu xa hơn và thực chất hơn, theo Farrelly, phát xuất từ Giáo Hội. Bởi thế ông mới tha thiết khẩn khoản: “vì Chúa Kitô, xin Giáo Hội hãy tỉnh dậy!”. Ông cho rằng số đông các vị hồng y và giám mục phải chịu trách nhiệm về những điều đang xẩy ra. Các ngài là nguyên nhân chính khiến cho quá nhiều người trưởng thành ngưng không tham dự Thánh Lễ nữa và do đó không cho con cái mình theo học các trường Công Giáo hay Kitô Giáo nữa. Các ngài chịu phần trách nhiệm lớn hơn cả khiến những trẻ em này không được rửa tội và chỉ nhận được một nền giáo dục thế tục.

Farrelly bảo: ông biết các nhà lãnh đạo Giáo Hội đang phải đương đầu với rất nhiều trở ngại, các ngài không tạo ra chủ nghĩa duy vật, một chủ nghĩa đang làm con người thời nay, cả người tin lẫn không tin, quay mặt khỏi Thiên Chúa và luân lý. Nhưng xem ra nhiều vị không muốn hay không có khả năng xử lý các thách đố này. Ông không chối cãi việc vẫn có những vị giám mục và hồng y can đảm, sẵn sàng đương đầu với các thách đố này và biết rằng Giáo Hội phải trở nên thích ứng hơn với cuộc sống hằng ngày của người ta. Nhiều linh mục, tu sĩ và nữ tu cũng đang dấn thân trên nẻo đường này. Ông ngả mũ kính cẩn chào các nhà lãnh đạo ấy.

Ông chỉ mong giáo dân từ Thánh Lễ Chúa Nhật trở về, cảm thấy mình được tươi mát trở lại, được thúc đẩy trở lại nhờ những bài giảng có linh hứng, có thách thức. Theo ông, nhiều bài giảng chỉ lặp đi lặp lại, nghe buồn nản và chẳng dính dáng gì. Người ta, nhất là người trẻ, rất mong được thông tri. Các giáo hội Kitô Giáo khác đã chứng tỏ rằng muốn người ta đến với mình, mình phải làm cho việc thông tri thiêng liêng dính dáng với cuộc sống của thế kỷ 21. Và điều quan trọng là: nếu người lớn đến, thì trẻ em sẽ đến. Và rồi một ngày kia, khi chúng lớn khôn, chúng sẽ tự quyết định có nên tiếp tục đến hay không.

Bởi thế, Farrelly cho hay: ông tiếp tục cầu nguyện để những đứa cháu của ông nhận được cơ may mà cha mẹ ông từng đem lại cho ông, mà ông và vợ ông từng đem lại cho con cái mình. Ông cũng cầu nguyện cho các vị giám mục và hồng y để các ngài làm dễ diễn trình tạo cơ may ấy.

Phản ứng

John Kelly ở Adelaide nghĩ rằng nhận định của Farrelly về trách nhiệm của hàng giáo phẩm có hơi quá đáng. Theo ông, cha mẹ nào cũng đều có trách nhiệm phải chuyển giao đức tin cho con cái. Ông tin rằng các cố gắng của ta cộng với lời cầu nguyện sẽ không uổng công. Lời của Thánh Ambrôsiô với Thánh Nữ Monica về cậu thanh niên Augustinô là một khích lệ và bảo đảm rất lớn.

Một độc giả khác, Gary Edmonds, thì cho rằng lý do khiến các anh chị em ông không tham dự Thánh Lễ là vì Chân Lý đã không được truyền lại cho họ một cách hữu hiệu. Nói rằng Chúa Giêsu yêu bạn quả có đúng, nhưng đàng sau câu nói ấy còn có một câu truyện, một ý niệm, một cuộc sống cần được gia đình rao giảng. Nếu người ta không nắm được Chân Lý ấy thì không hẳn là do bài giảng của một linh mục nào đó, mà vì bạn vẫn còn nói một thứ ngôn ngữ khác với ngôn ngữ của con cái. Phải rao giảng ngay ở chỗ họ đang hiện hữu. Hãy sử dụng loại suy (analogies), liên hệ đức tin với một điều gì đó họ ưa thích.

Nhưng phản ứng chi tiết nhất là của David Timbs, ở Albion, Victoria. Ngày 23 tháng 8 vừa qua, “blog” của hãng tin Cathnews cho đăng tải đóng góp của ông, tựu trung, cũng để nói lên nỗi lo ngại về hiện tượng quá chú trọng tới giới trẻ, tới Thế Hệ Y, mà phần nào quên lãng các thế hệ khác.

Bản phúc trình về nền linh đạo của Thế Hệ Y

David Timbs đặc biệt lưu ý tới bản phúc trình năm 2004 do Đại Học Công Giáo Úc thực hiện về linh đạo của Thế Hệ Y, dưới sự bảo trợ của Hội Đồng Giám Mục Úc Châu. Thế hệ Y được mô tả là mắc hội chứng quá tự yêu mình (narcissistic), thiếu động lực, thiếu cam kết và kỷ luật. Người ta có thể cho rằng họ được bảo vệ quá đáng, được khích lệ và nuông chiều thái quá. Đây là một thế hệ bị quyến rũ bởi câu thần chú “bạn có thể trở thành bất cứ điều gì bạn muốn” và ít khi nghe cha mẹ nói chữ “không” cũng như ít khi chịu học biết các biên giới xã hội. Mỹ từ “quyền lợi” thường được nghe thấy, chứ hạn từ “trách nhiệm” thì ít khi được nghe.

Riêng về phương diện tôn giáo, Bản Phúc Trình của Đại Học Công Giáo Úc cho ta một số thống kê khá lý thú về Thế Hệ Y: 31% nhận mình là duy nhân (humanist), ý thức rất ít hay không ý thức gì về “Thiên Chúa” hay “một quyền lực cao hơn” theo nghĩa tín điều; 17% cho mình không thuộc một hệ thống tuyên tín nào; 32% không có ý kiến; chỉ có 19% tự nhận mình thực hành niềm tin. Điều cũng lý thú là những người trả lời cuộc thăm dò cho biết họ rất ít quan tâm tới các giáo phái hay những nhóm tôn giáo ngoại biên (religious side-shows). Xem ra những hứa hẹn “yêu thương” và phúc âm thịnh vượng của một Kitô Giáo nhạc rock không lôi cuốn họ lâu dài.

Theo David Timbs, những sự kiện trên đem đến cho Giáo Hội một bằng chứng rõ ràng rằng Giáo Hội cần phải xem sét cả việc mình tự trình bày với giới trẻ ra sao lẫn việc mình đã lượng giá chương trình nối vòng tay lớn về phúc âm của mình như thế nào. Ông bảo sự lo lắng và bất mãn của Bill Farrelly một phần có lẽ đã phát sinh từ việc lãnh đạo nghèo nàn trong Giáo Hội, không biết nhìn trước. Có lẽ các ngài đang xây dựng những đền đài và viện bảo tàng lộng lẫy cho giới trẻ mà quên không chăm lo mục vụ cho thửa vườn (Gioan XXIII). David Timbs cũng cho rằng Mark Johnson có lý khi cho rằng Giáo Hội đã qui hướng các năng lực rao giảng Tin Mừng của mình một cách nghèo nàn vào giới trẻ. Cha mẹ là người cần được giúp đỡ để hiểu các hậu quả của việc dẫn đưa con cái mình vào thứ bí tích “xã hội học”, tức cái thứ nghi thức vào đời theo kiểu Clayton: cơ hội để chụp hình (photo op) với những món quà hậu hĩnh và tiệc tùng sau đó. Phó sản của cái thứ “bí tích” này là so sánh, là nhận vơ, là loại bỏ và cả bắt nạt nhau về phương diện xã hội và kinh tế. Hỏi thực tại lâu dài nào còn tồn tại nơi đứa trẻ sau khi những cái đó qua đi? Phép Rửa, Phép Thánh Thể và Phép Thêm Sức dẫn đưa nó vào thứ cộng đồng Kitô Giáo nào? Cam kết lâu dài và diễn tiến nằm ở đâu? Những dịp như Giáng Sinh và Phục Sinh cũng thế. Chúng đã bị rút gọn để trở thành những chuyện “con nít”. Quả cha mẹ của Thế Hệ Y đã âm thầm trao con cái mình cho những ông quản trị viên của thị trường ngoài kia.

David Timbs trích dẫn Michael Carr-Gregg, một tâm lý gia trẻ, người đã nhận diện ra bốn thế giới có tương quan với nhau mà tuổi trẻ gọi là nhà: thế giới bên trong, thế giới gia đình, thế giới bạn bè và thế giới trường học. Mới đây, ông ta còn thêm thế giới thứ năm, tức thế giới liên mạng. Đó là các lãnh vực xã hội hóa của tuổi trẻ nhưng đáng sợ thay, 90% sự tương hành qua lại giữa các thế giới này đã được thực hiện bằng điện tử! Và điều dễ hiểu là các thế giới đó đem đến thật nhiều sợ hãi, lo âu và hỗn độn cho nhiều người trẻ đang chới với đương đầu với những sức mạnh quá lớn đến không thể xử lý được. Dễ bị khai thác và thao túng là đặc điểm nổi bật của tuổi trẻ khắp nơi, đến nỗi nếu để một mình, họ khó có thể lèo lái cách an toàn trong các thế giới ấy. Các người trẻ Công Giáo của chúng ta cũng thế thôi.

Tuy nhiên, theo David Timbs, một trong những khám phá ấm lòng của Phúc Trình trên là dù Thế Hệ Y dành rất ít thì giờ hay không dành chút thì giờ nào cho Giáo Hội định chế, nhưng họ hết sức mến phục bộ mặt không vô nghĩa, bộ mặt rất bình dân nhưng lại nhiều thách đố của Chúa Giêsu. Tín điều đã mất hẳn đối với họ, nhưng Chúa Giêsu chân thực của Phúc Âm thì không, Người vẫn liên hệ với kinh nghiệm nhân bản. Người vẫn có thể nói với họ và nói cho họ bằng một giọng thuyết phục và dễ hiểu. Điều ấy hình như chúng ta thiếu đã lâu.

Tuy nhiên, theo Alex Reichel, ở Oyster Bay, Sydney, sự chú ý tới Chúa Giêsu của Thế Hệ Y trên đây chỉ là chuyện mây gió (ephemeral) và chưa được dị biệt hóa khỏi cảm tính. Muốn làm cho Chúa Giêsu hiện thực thật sự thì cần phải yêu Thánh Kinh. Thánh Thần của Chúa Giêsu vượt qua mọi biên giới xã hội. Hãy đọc Tông Đồ Công Vụ sẽ thấy: Chúa Giêsu chân thực kia đã thành lập một Giáo Hội.

Đối với Bản Phúc Trình của Đại Học Công Giáo Úc, Marjorie ở Brisbane nhận xét rằng đó không hẳn là một cuộc thăm dò giới trẻ Công Giáo mà thôi, bởi lẽ đa số các sinh viên thuộc Đại Học này không nhất thiết là người Công Giáo. Tuy nhiên, bản thăm dò trên có những câu hỏi khá chi tiết về đức tin Công Giáo như về Sự Hiện Diện Thực Sự của Chúa Giêsu trong Phép Thánh Thể. Chỉ có điều bản thăm dò đã không giải thích các câu trả lời theo hậu cảnh đức tin của sinh viên.

Bởi thế, theo Garry ở Ipswich, Queensland, đã đến lúc phải có một cuộc nghiên cứu dựa trên việc tham dự Thánh Lễ của giới trẻ, nhất là của các học sinh tiểu và trung học. Hiện nay, nhiều dữ kiện thống kê đang cho thấy việc tham dự Thánh Lễ tại các nhà thờ Công Giáo của hai lớp người này khá nghèo nàn. Trong trường hợp các học sinh tiểu học, những em không thể tham dự Thánh Lễ nếu không được cha mẹ đưa đi, điều hiển nhiên là phải tập chú các cố gắng mục vụ vào cha mẹ. Cha mẹ có tham dự Thánh Lễ, con cái họ mới có dịp tham dự. Riêng đối với các học sinh trung học, vấn đề có phức tạp hơn. Nhiều cuộc nghiên cứu còn cho thấy, sau khi rời trung học, đa số các em còn ngưng hẳn việc tham dự Thánh Lễ. Người ta, vì thế, nghiêng hẳn về lối giải thích: Không có gì trong Thánh Lễ lôi cuốn và vận dụng được các em.

Fran, ở Brisbane, tự nhận mình là người sinh trong thập niên 1960. Thế hệ của bà (ông?) được người ta liệt vào thế hệ thứ 2 của những người Công Giáo không được học (uneducated). Thành thử, Thế Hệ Y, một Thế Hệ không được giáo dục, không được học về đức tin thì làm sao biết và hiểu được đức tin ấy? Fran là người may mắn nhờ được “thách thức” bởi bà mẹ và sở thích đọc và thích học hỏi các sách vở tiền Công Đồng Vatican II. Phúc đức khác của Fran là gặp được những “người đi lễ” hằng ngày hiểu biết đức tin, sẵn sàng đồng hành với bà (ông?). Fran thú nhận: ít gặp được vị nào trong hàng ngũ ơn gọi tu trì chịu dạy theo Thánh Kinh và Huấn Quyền.

Chủ điểm Bản Phúc Trình “Nền Linh Đạo Thế Hệ Y”

Trên VietCatholicNews, từ 16 tháng 6 năm 2008, chúng tôi có cho đăng tải một loạt bài về bản Phúc Trình “Nền Linh Đạo Thế Hệ Y” của Đại Học Công Giáo Úc, nhân dịp sắp sửa khai mạc Ngày Giới Trẻ Thế Giới tại Sydney. Đúng như Marjorie ở Brisbane nhận xét, bản phúc trình này nhằm khám phá nền linh đạo của tuổi trẻ Úc nói chung, chứ không hẳn tuổi trẻ Công Giáo Úc nói riêng. Tuy nhiên, nó cung cấp thật nhiều dữ kiện hữu ích cho mục vụ giới trẻ Công Giáo, và nhất định là một gợi ý, hay đúng hơn, một kích thích tố giúp Hội Đồng Giám Mục Úc nói chung và Đức Hồng Y George Pell của Sydney nói riêng mạnh dạn đứng ra đăng cai tổ chức Ngày Giới Trẻ Thế Giới năm 2008, một ngày giới trẻ tuyệt vời dưới bầu trời lồng lộng của Thánh Giá Phương Nam. Chỉ cần nhớ lại đêm Chầu Thánh Thể với 400,000 con người, trong đó, có cả người Kế Vị Phêrô, im lặng rập mình thờ lạy Ngôi Hai Nhập Thể, đại diện cho cả và thiên hạ cùng vũ trụ tinh hà, cũng đủ lấy lại sở hụi tổ chức rồi.

Nói thế có vẻ “tâng bốc” giá trị của Bản Phúc Trình quá đáng. Thực ra, nó chỉ nhằm thăm dò nền linh đạo của lớp người được họ tổng kết là theo khuynh hướng của chủ nghĩa duy cá nhân, một chủ nghĩa hết sức thách thức quan niệm cổ truyền cho rằng xã hội chỉ vững ổn khi các thành viên của nó có chung các giá trị và niềm tin giống nhau. Không biết hình ảnh 400,000 con người trong đêm vọng Ngày Giới Trẻ Thế Giới 2008 tại Sydney có đánh đổ được phần nào cái khuynh hướng cá nhân chủ nghĩa này hay không. Nhưng rõ ràng đó là ý nguyện của những người đứng ra tổ chức Ngày Giới Trẻ Thế Giới năm 2008, và là ý nguyện của người sáng lập ra ngày này, Đức Cố Giáo Hoàng và là Người Tôi Tớ của Chúa, Gioan Phaolô II.

Bản Phúc Trình cũng nhấn mạnh điều này, điều mà Farrelly nhấn mạnh rất đúng: Thế Hệ Y không được lên khuôn do các biến cố mới đây, mà chính nền văn hóa Úc và cha mẹ họ đã lên khuôn cho họ. Chính Thế Hệ Được Mùa Con Nít, tức cha mẹ họ, đã sống qua thời kỳ có những biến chuyển lớn về xã hội và văn hóa trong hai thập niên 1960 và 1970. Thành thử, cố gắng tái phúc âm hóa cần được tập chú vào cha mẹ của Thế Hệ Y. Trong các nhà thờ Công Giáo Úc hiện nay, sự vắng bóng các cha mẹ này hết sức rõ ràng. Và phải chăng hiện tượng ấy cũng đang xẩy ra cho các cộng đồng Công Giáo Việt Nam, nhất là các cộng đồng hải ngoại?

Một điểm nữa được Bản Phúc Trình nhấn mạnh, ngược với Garry ở Queensland, là họ không dựa vào con số tham dự Thánh Lễ để nghiên cứu thái độ giới trẻ đối với tôn giáo mà dựa vào linh đạo hay cuộc sống tâm linh. Đã đành, tại Israel, linh đạo liên hệ đến ý niệm thần linh, đến ý niệm Thiên Chúa. Từ thế kỷ 17 trở đi, nó chỉ phong cách bản thân của từng người đối với việc tôn giáo. Nhưng những lúc gần đây, linh đạo có một định nghĩa rộng rãi hơn nhiều, trong đó, tôn giáo định chế chỉ đóng một phần rất nhỏ. Ai cũng có thể tự định nghĩa được linh đạo của riêng mình. Khởi đầu cuộc nghiên cứu, nhiều người từ khước hoàn toàn ý niệm ‘tâm linh’ tuy họ vẫn có một lối sống, một thế giới quan, một hệ thống giá trị và đạo đức riêng. Thành ra, để không độc đoán loại trừ một ai, các tác giả đã đưa ra một định nghĩa hết sức rộng rãi về linh đạo: để chỉ bất cứ thế giới quan nào bạn có và bất cứ hệ thống giá trị nào đi đôi với thế giới quan kia, dù trong cách nói năng của bạn, bạn từ khước không dùng các hạn từ như linh đạo, tâm linh.

Từ đó, các tác giả đưa ra ba mẫu linh đạo: Truyền Thống, Chiết Trung (eclectic) và Duy Nhân (humanist). Linh Đạo Truyền Thống để chỉ những ai nhận mình là Kitô hữu, tham dự các giáo hội Kitô giáo, cũng như một số tín hữu thuộc các tôn giáo lớn có tính hoàn cầu, như Hồi Giáo, Phật Giáo và Ấn Giáo, vốn là các truyền thống tôn giáo cực kỳ lâu đời trên thế giới. Tuy nhiên, họ chỉ đại diện rất ít trong cuộc nghiên cứu này. Tóm lại, tuy Truyền Thống ở đây chỉ các Kitô Hữu và Các Truyền Thống Khác, nhưng cốt chính vẫn nhằm vào các Kitô hữu, bởi lý do đơn giản họ là nhóm đa số gắn bó với con đường truyền thống.

Chiết Trung là những người tin theo hai hay nhiều hơn các niềm tin Tân Đại (New Age), bí truyền hay Đông Phương. Thí dụ, tin tái sinh, tin đồng bóng (psychics), tin bói toán hay thuật chiêm tinh. Thêm vào đó, họ còn có thể thực hành tới bốn thể loại tôn giáo và tâm linh Tân Đại, bí truyền hay Đông Phương sau đây: yoga, tai-chi, bói bài hay bói toán. Phải nói ngay, một số người tự nhận là Chiết Trung vẫn duy trì một số niềm tin của Kitô giáo, như tin có sự sống đời sau, tin thiên thần, ma qủy v.v… Tuy chưa biết liệu các niềm tin này có phù hợp với quan điểm truyền thống của Kitô giáo hay không. Căn cứ vào tính chiết trung của họ, nghĩa là cái quan điểm sẵn sàng ‘thu nhặt’ đủ thứ, thì các niềm tin kia khó mà đi đúng hướng của Kitô giáo chính thống.

Nhóm Duy Nhân là nhóm khá đông của Thế Hệ Y. Nên các tác giả muốn tìm hiểu cái nhìn của họ về cuộc đời. Gọi họ là Duy Nhân, vì xem ra nhóm này không muốn đi theo một con đường tâm linh nào, kể cả con đường Truyền Thống lẫn các nẻo đường Chiết Trung của Tân Đại, của bí truyền và của Đông Phương. Xem ra họ nhất định quay gót đối với các nền linh đạo ấy. Mà thật ra, họ không duy nhân theo nghĩa cực đoan của hội duy nhân hay hội duy lý. Họ không nhất thiết giận dữ chống đối tôn giáo cổ truyền, mà có phần tỏ ra khoan dung đối với các tôn giáo ấy. Nên theo định nghĩa, họ không bài tôn giáo, họ chỉ không chọn con đường ấy cho bản thân họ.

Nhiều người duy nhân cho hay họ tin Thiên Chúa. Thành thử, các tác giả Phúc Trình chia các người Duy Nhân theo nhiều cấp bậc khác nhau. Có những người duy nhân kiên định, nghĩa là những người cho hay họ không tin Thiên Chúa và chưa bao giờ tin cả. Tuy nhiên vẫn có một biên giới chung giữa người duy nhân và người truyền thống, trong đó, có người trước đây từng có liên hệ với Kitô giáo hay một tôn giáo truyền thống nào đó, nhưng nay đã rời khỏi các tôn giáo này, nhưng vẫn giữ lại một số niềm tin nào đó. Những người này không những có thể nói họ tin Thiên Chúa, mà cho dù họ nói họ không tin đi chăng nữa, thì họ vẫn tin vào một lực sống hay một hữu thể cao siêu nào đó.

Nói cho ngay, căn cứ vào con số thống kê, ta thấy 48% Thế Hệ Y tin Thiên Chúa. Nhưng điều đó có thể gây hiểu lầm. Vì còn 30% nữa cho biết họ không biết chắc. Ngay những người nói họ không tin Thiên Chúa, ta vẫn có thể hiểu họ muốn nói: “chúng tôi không tin Đấng Thiên Chúa của các anh, hay Đấng Thiên Chúa của các tôn giáo định chế”. Còn những người không biết chắc, thì hết hai phần ba cho biết họ tin vào một hữu thể hay một lực sống cao hơn trong vũ trụ. Và đa số họ còn tin thêm rằng hữu thể hay lực sống cao hơn đó quan tâm chăm sóc tới họ nữa. Thành thử ra, có đến 80% Thế Hệ Y tin có một cái gì đó ở bên ngoài kia, và có tới 70% Thế Hệ Y tin cái gì bên ngoài kia ấy quan tâm tới họ. Một trong các tác giả của phúc trình, là Michael Mason, cho rằng đó là hình ảnh có tính cá nhân hóa rõ rệt đối với ‘cái gì đó ở bên ngoài kia’, một cái gì họ tin là có thật.

Kết quả cuộc nghiên cứu cho thấy nhóm Truyền Thống chiếm 44 %, nhóm Chiết Trung chiếm 17% còn nhóm Duy Nhân chiếm 31%. Như thế đủ thấy nhóm Duy Nhân khá đông. Đông hơn con số thống kê chính thức của điều tra dân số. Nhưng đâu là vai trò của các Giáo Hội, một lãnh vực vốn là chuyên môn của Mason, vì ngài là một linh mục. Theo ngài, đây là phạm vi chính của cuộc điều tra. Và ở đây, người ta thấy các Giáo Hội như Anh Giáo và Công Giáo cũng chẳng lôi cuốn Thế Hệ Y gì lắm so với một vài giáo hội khác. Anh Giáo chiếm khoảng 8% Thế Hệ Y, ít hơn con số Thống Kê Dân Số là chừng 8% hay 9%. Có khá nhiều người Anh Giáo thuộc Thế Hệ Y cho biết trước đây họ từng theo Anh Giáo nhưng nay không còn thuộc hệ phái ấy nữa. Các tác giả hỏi những người hiện nay không còn thuộc bất cứ giáo hội nào xem họ có thuộc giáo hội nào khi còn nhỏ tuổi hơn không, thì phần lớn nói là họ thuộc một giáo hội nào đó, cho đến cuối ban tiểu học. Việc chuyển tiếp từ tiểu học qua trung học thường là lúc người trẻ quyết định giáo hội không là của họ nữa. Và trong cả hai nhóm Anh Giáo và Công Giáo, đến hơn một phần tư trả lời “Có”, tôi vốn thuộc giáo phái ấy, tôi vốn nghĩ mình là Anh Giáo hay Công Giáo, nhưng nay, tôi hết nghĩ như thế nữa.

Tuy nhiên, những giáo phái như Luthêrô, Giáo Hội Chúa Kitô, Baptist, Pentecostal chiếm đến 16% Thế Hệ Y và họ nổi bật về nhiều phương diện trong niềm tin và thực hành Kitô giáo. Về phía Công Giáo, xem ra nhiều người thuộc Thế Hệ Y có phần tâm linh cao hơn là thế hệ cha mẹ họ, tức Thế Hệ Được Mùa Con Nít (Baby Boomers). Xem ra họ ý thức mạnh hơn đến mối liên kết bản thân của họ với Thiên Chúa. Và hình như cũng vì vậy mà có sự thay đổi trọng tâm từ chính trị qua bản thân nữa.

Đối với các tôn giáo khác như Hồi Giáo chẳng hạn, thì tuy họ rất mạnh về một số niềm tin và thực hành tôn giáo, nhưng việc tham dự các buổi phụng vụ, thì có vẻ lại không bằng các nhóm Kitô giáo khác. Có thể vì họ sống không gần các đền thờ chăng. Họ có chịu ảnh hưởng bởi trào lưu thích ứng với hiện đại và đổi thay không? Điều này không tránh khỏi, vì mặc dù chịu ảnh hưởng mạnh bởi gia tài sắc tộc của họ với các yếu tố tôn giáo của nó, họ vẫn tỏ ra hết sức Úc Châu ở nhiều phương diện khác. Giữa các niềm tin từng tạo nên tôn giáo của họ, họ nghĩ họ có quyền muốn lựa và lọc niềm tin nào họ thích, họ có khuynh hướng muốn nhìn nhận rằng các giá trị luân lý chỉ là tương đối, và không hề có điều đúng và điều sai tuyệt đối cho mọi người. Thành ra, nói chung, một số các nhấn mạnh có tính duy cá nhân, vốn là đặc điểm nổi bật của Thế Hệ Y, cũng đã tìm được đường xâm nhập các nhóm tôn giáo khác như Hồi Giáo, Phật Giáo và Ấn Giáo.

Nhưng cần lưu ý một điều những người trả lời không thuộc một trong các giáo hội định chế trên không có nghĩa là họ thuộc Nhóm Vô Tôn Giáo. Nghĩ như thế không đúng. Vì tuy không thuộc một giáo hội định chế nào, nhiều người vẫn duy trì một số niềm tin tôn giáo và tham dự một số các thực hành tôn giáo riêng tư. Đúng như nhà xã hội học Hans Moll ở thập niên 1970 đã nói: phần lớn những người thuộc nhóm “Vô Tôn Giáo” thực sự là đại biểu cho những người thực hành tôn giáo cách riêng tư, một thứ cảm nhận linh đạo cá thể. Ông ta gọi họ là các tín hữu riêng tư. Nhưng ngày nay, trong ngành xã hội học về tôn giáo, người ta đang tranh luận gay gắt xem liệu những tín hữu riêng tư ấy có giữ được chút tôn giáo nào trong họ hay không. Nhiều người cho rằng cái gì đơn độc (solitary) cũng hết sức mỏng dòn, dễ vỡ.

Nhưng phải nói sao về những người cho là mình vô tôn giáo nhưng là người tâm linh? Theo Andrew Singleton, tại Hoa Kỳ, người ta đã tìm hiểu nhiều về mối liên hệ giữa những người thưa Có, tôi là người tâm linh, nhưng không phải là người tôn giáo. Thiển nghĩ nhóm chiết trung cho ta một số ý niệm ở đây, vì họ vốn ủng hộ một loạt các niềm tin khác nhau và một số ít hơn các thực hành, nên ta có thể gọi họ là tâm linh nhưng đứng ngoài biên giới tôn giáo. Tuy nhiên, trong cuộc điều tra này, các tác giả tránh không đặt ra các câu hỏi liên quan đến tâm linh đối nghịch với tôn giáo. Vì trong các cuộc phỏng vấn trước khi thực hiện cuộc điều tra này, họ thấy rằng phần lớn giới trẻ không thực sự hiểu rõ linh đạo là thế nào. Mà có yêu cầu người trẻ định nghĩa chữ linh đạo đi chăng nữa, hay họ nghĩ gì về chữ này, thì phần đông tỏ ra lúng túng. Thành thử, các tác giả chỉ đặt những câu hỏi đại loại như “bạn có nghĩ là bạn sống lối sống đó không? Hay nếu không, thì là lối sống nào? Một lối hỏi gián tiếp. Nói cách khác, theo Michael Mason, giới trẻ không dùng hạn từ linh đạo. Điều ấy không mấy quan trọng. Các tác giả dùng cách khác để đề cập tới nội dung của linh đạo. Dù sao, ở đây, hạn từ này cũng không được dùng rộng rãi như tại Hoa Kỳ. Hơn nữa, các tác giả phỏng vấn người trẻ mà có em chỉ mới 12 tuổi, nên chữ linh đạo có một nghiã rộng rãi hơn chữ tôn giáo.

Lược tóm trên đây đủ cho thấy cuộc điều tra trên không thể bị coi là một phí phạm, trái lại là một đóng góp lớn để điều hướng mục vụ giới trẻ trong tương lai. Giới trẻ thực ra không hẳn là một giới người, một thế hệ cứng ngắc, nó có tính lưu chẩy và tùy cố gắng đúng chỗ của ta mà dòng chẩy của nó hướng về phía nào. Đối với chúng ta, hướng đó vẫn luôn là hướng của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Kitô lịch sử đã đành, nhưng nhất là Đấng Kitô đang sống động trong lòng Giáo Hội, trong lịch sử nhân loại.

Vũ Văn An

Cuộc tranh luận về linh đạo giới trẻ (1)

Cuộc tranh luận về linh đạo giới trẻ
VietCatholic News (25 Aug 2010 01:19)
Trên “Blog” của hãng tin CathNews gần đây có cuộc tranh luận về linh đạo giới trẻ, hay chính xác hơn, về linh đạo Thế Hệ Y. Đây là thế hệ những người sinh khoảng từ giữa thập niên 1970 tới đầu thập niên 2000. Người ta còn gọi họ là Thế Hệ Thiên Niên Kỷ, Thế Hệ Tiếp Theo, hay Thế Hệ Liên Mạng. Khỏi nói, thế hệ này hiện là “mối lo” của các bậc phụ huynh nói riêng và của cả xã hội nói chung. Giáo Hội cũng cùng chung một mối lo ấy. Rất nhiều phong trào trong Giáo Hội đã được liên tiếp tổ chức làm môi trường sống đạo, thực hành đạo và cả truyền đạo cho giới trẻ. Nhất là dưới thời Đức Gioan Phaolô II, linh đạo giới trẻ đã được đặt lên hàng đầu, với sáng kiến lịch sử bắt đầu từ năm 1985: Ngày Giới Trẻ Thế Giới, được gợi hứng bởi Năm Tuổi Trẻ Quốc Tế do Liên Hiệp Quốc tổ chức vào năm 1985.

Ngày Giới Trẻ Thế Giới

Thực ra, ý niệm Ngày Giới Trẻ Thế Giới có nguồn gốc trước đó nhiều, ít nhất cũng từ ngày vị linh mục trẻ Woityla, lúc còn là tuyên úy tại Krakow, Ba Lan, tụ họp bạn bè của mình thành nhóm Srodowisko để khai phá các động lực bản thân và ơn gọi của tuổi thiếu niên và đầu đời trưởng thành. Hạn từ Srodowisko là do chính cha Wojtyla sáng chế, được nhiều người cho là rất khó phiên dịch. Có người dịch là “môi trường” nhưng bản thân Đức Gioan Phaolô II thích dịch là “lãnh vực” (milieu) vì có nghĩa nhân bản hơn. Nó là sự kết hợp của một số tổ chức được cha Wojtyla thành lập cho giới trẻ và những người mới lập gia đình. Hai trong số những tổ chức đầu tiên này mang tên Rodzinka, hay “tiểu gia đình”, và Paczka, hay “gói” hoặc “lô”. Hình thức Srodowisko nghiêng về những cuộc thảo luận trí thức. Giới trẻ và các nhà trí thức được mời gọi tham dự những cuộc đi chơi xa. Nhiều người nhất trí rằng chính kinh nghiệm này đã lên khuôn các ý niệm và thừa tác vụ của Karol Wojtyla lúc còn là linh mục, rồi giám mục và sau cùng giáo hoàng.

Ngài đã diễn dịch thừa tác vụ ấy một cách công khai nhân dịp gặp gỡ giới trẻ vào ngày Lễ Lá năm 1985 tại Rôma qua tông thư “Gửi Giới Trẻ Thế Giới”, một tông thư pha trộn cả hoài niệm và bảo khuyên lẫn phương thức hiện tượng luận mà ngài nắm rất vững đối với bất cứ điều gì nhân bản. Người ta vẫn coi cuộc gặp gỡ giới trẻ năm 1985, qui tụ 300,000 người, là Ngày Giới Trẻ Thế Giới đầu tiên. Kể từ ngày ấy cho tới năm 2008 là năm có Ngày Giới Trẻ Thế Giới tại Sydney, Úc, gần 14 triệu bạn trẻ khắp thế giới đã tìm về gặp gỡ nhau gần một tuần lễ để ca hát, cầu nguyện, kết tình thân ái, củng cố và làm chứng cho đức tin Công Giáo. Nếu tính cả con số các bạn trẻ tham gia các ngày giới trẻ hàng năm tại các giáo phận khắp thế giới, và các bạn trẻ khắp thế giới “thông công” với các bạn trẻ đích thân tìm về gặp gỡ nhau nhân các Ngày Giới Trẻ Thế Giới, thì con số kia hẳn phải lên rất cao. “Con đường dài nội ngoại tâm” này, như kiểu nói của Đức Bênêđíctô XVI, hẳn đã và đang đưa nhiều người trẻ tìm về với Giáo Hội và giúp họ lên đường truyền bá Tin Mừng, ít nhất cho Thế Hệ Y mà phần lớn họ thuộc về.

Tổ chức Ngày Giới Trẻ Thế Giới là một biến cố lớn có tầm quốc tế và do đó khá hao tốn nhân lực và vật lực, nếu không nhằm ích lợi về lâu về dài, các vị lãnh đạo Giáo Hội, cả trung ương lẫn địa phương, chắc chắn không bao giờ nghĩ tới. Thành quả của Ngày Giới Trẻ Thế Giới năm 2008 đã được nhiều người nhìn nhận. Tuy nhiên, trước Ngày Giới Trẻ Thế Giới 2011 tại Madrid, có người lên tiếng cho rằng hình như Giáo Hội quá chú trọng tới giới trẻ mà quên mất các giới khác.

Quá phí phạm vào tuổi trẻ

Mark Johnson, hiện đang giảng dạy môn Nghiên Cứu Tôn Giáo tại Đại Học Sydney (1), chẳng hạn, ngày 6 tháng 4 vừa qua, có viết một bài tựa là “Chủ nghĩa Phúc Âm bị phí phạm vào giới trẻ” (Evangelism wasted on the young). Johnson bảo ông lo ngại trước hiện tượng người ta đang quá nhấn mạnh đến việc lôi cuốn ‘giới trẻ’ tới nhà thờ mà quên mất những người ‘có tuổi’ vốn siêng năng giữ việc thờ phượng. Ông tự hỏi có phải chúng ta đang bị lôi cuốn vào cái thứ triết lý sống của thị trường trong đó, chỉ có ‘tuổi trẻ’ mới lôi cuốn mà thôi, còn người ‘có tuổi’ thì cho ra bên lề, chỉ có ‘tuổi trẻ’ mới nói lên sinh khí của định chế, chứ người ‘có tuổi’ chỉ là dấu chỉ sự mục rữa của định chế. Phải chăng chúng ta đang bị rù quyến vào việc đi tìm cái thứ hấp dẫn của văn hóa đại chúng trong tất cả những nét hời hợt và tàn bạo của nó, như thể mình chỉ còn là những thiếu niên bị đầu độc đến tin rằng tìm sự nổi tiếng bằng bất cứ giá nào chính là lý do duy nhất cho cuộc hiện sinh của mình? Người ta lo lắng tự hỏi: không biết sứ điệp của mình có “sexy” (thu hút giới tính) đủ chưa?

Theo Johnson, những câu hỏi như thế cần được sáng suốt giải đáp. Ông bảo: song song với giới trẻ, các nhóm người khác, những người không mấy trẻ trung, những người 30, 40 hay 50 tuổi, cũng cần được phúc âm hóa bằng cùng một chiến thuật như đã được dùng trong việc khám phá ra nguồi suốn tươi trẻ của định chế.

Về Ngày Giới Trẻ Thế Giới, Johnson hỏi: tại sao lại không có những biến cố tương tự như Ngày Người Có Tuổi Thế Giới? Ngày Người Trung Niên Thế Giới? Ngay cả Ngày Thế Giới Những Người Do Dự Không Muốn Nói Tuổi Thực Của Mình? Ông cho hay: ngoài nguy cơ triết lý sống thị trường nói trên, còn có hai lý do khiến người ta ít chú ý tới việc phúc âm hóa những người trên 30 tuổi, chứ đừng nói những người trên 60 tuổi. Lý do thứ nhất là sự phức tạp trong việc phúc âm hóa những người đã có tư tưởng chín muồi rồi. Điều này không có nghĩa: người lớn tuổi nhất thiết là người khôn ngoan, nhưng chỉ muốn nói rằng kinh nghiệm sống đã khiến họ có những cái nhìn chín muồi hơn. Nhiều vấn đề trước đây dễ dàng giải quyết hay dễ bỏ qua nay được xét lại, nhiều chủ trương cũ bây giờ thành không thoả đáng. Sự chín muồi không cần đến quảng cáo rùm beng hay hứng khởi nhất thời để giải quyết các bất ổn trong đời. Nếu chỉ cần đến quảng cáo rùm beng thì nguyên nền văn hóa chuộng nổi tiếng cũng đã quá đủ để thỏa mãn các nhu cầu vô bổ ấy rồi. Liệu sự toàn vẹn của Phúc Âm có còn đó không nếu bắt chước là đặc điểm trong các cố gắng phúc âm hóa của ta? Chín muồi đòi hỏi ý nghĩa, chứ không hẳn chỉ là những điều chắc nịch hai chiều ráp sẵn và những cái ôm hôn tập thể.

Ý nghĩa ấy đòi có sự mềm dẻo dễ uốn trong phương thức, đòi ta phải chân nhận rằng không thể có thứ một cỡ hay một kích thước mà lại vừa cho mọi người được. Johnson cho rằng cái khuôn mẫu một cỡ vừa cho mọi người ấy rất thích hợp với những khung cảnh hoành tráng như Ngày Giới Trẻ Thế Giới, trong đó ‘người hành hương’ mới được coi là xứng hợp, nghĩa là chỉ những ai xét ra rút được phúc lợi từ việc tham dự này mới được dành cho danh xưng chính thức là ‘người hành hương’. Những tham dự viên được chọn lựa ấy mới phù hợp với khuôn mẫu một cỡ vừa cho mọi người mà họ từng được huấn giáo. Nhưng thử hỏi, khuôn mẫu ấy áp dụng được cho bao nhiêu người trưởng thành? Bao nhiêu người trưởng thành sẵn sàng để mình được lùa (corralled) vào cái vòng khép kín ấy? Cái khuôn mẫu thiếu mềm dẻo ấy không thể đương đầu được với tính đa dạng của người trưởng thành. Dựa vào tính đồng dạng và hoành tráng là giải pháp dễ dãi. Người trưởng thành thật sự không dễ bảo một cách nhất dạng như vậy.

Lý do thứ hai khiến cho người trưởng thành với các đặc tính đa dạng và chín muồi của họ không phải là tập chú của việc phúc âm hóa là: há chúng ta không bị vứt bỏ, như người ta vứt bỏ đồ hàng để cứu con tầu sắp chìm, chỉ vì sự phức tạp, nhu cầu cần sắc thái, khả năng người trưởng thành không hài lòng với những câu trả lời giáo điều kiểu một cỡ vừa với mọi người đó sao? Há ‘tuổi trẻ’ không những là khuôn mặt lôi cuốn giới tính và sôi nổi của một Kitô Giáo có thể tiếp thị được và đã trở thành hàng hóa mà còn là phương thế để những điều xưa coi là chắc nịch nay có thể đóng gói lại cho bóng bẩy sáng loáng đó sao? Những lời xưa cũ được những người trẻ xinh tươi nói ra? Johnson bảo: nếu việc tập chú vào ‘tuổi trẻ’ hiện nay là triệu chứng của việc cả định chế bác bỏ những điều đã gầy dựng, coi chúng như lạc hướng, bất chính thống thì điều này cần phải được thách thức. Đơn giản, không những vì những người bị làm ngơ và vứt bỏ kia vẫn là thành viên của Dân Chúa giống hệt các khuôn mẫu sáng chói mới đang được đẩy lên sân khấu chính, mà còn vì chính ‘tuổi trẻ’ cũng không được nhìn trong sự phức tạp riêng của họ, trong cái giá trị và đa dạng nội tại có tính cá thể của họ. Họ chỉ là một phương tiện để cổ vũ quan điểm của một ai đó.

Johnson cho rằng các Phúc Âm cho ta một Chúa Giêsu luôn tích cực cam kết với từng người, với tính đa dạng của từng người. Phúc Âm Gioan công bố rằng: trong nhà Chúa Cha, có rất nhiều chỗ ở, chứ không phải chỉ có một nơi đóng kín. Mỗi người chúng ta, già hay trẻ, đều có giá trị riêng. Tính toàn vẹn của việc phúc âm hóa đòi phải nhìn nhận giá trị từng người và tìm cách nói về nó.

Phản bác

Nhận định trên đây của Johnson về Ngày Giới Trẻ Thế Giới rõ ràng có tính cường điệu, nếu không muốn nói là sai lầm. Một độc giả từ Warrnambool, thuộc tiểu bang Victoria cho biết: tuổi được khuyến cáo tham dự Ngày Giới Trẻ Thế Giới là từ 15 tới 35, nhưng có những cụ già 80 tuổi, những em bé sơ sinh và người trung niên, cũng đã hăng hái tham dự. Mặt khác, Giáo Hội không tìm người trẻ để “thu hút giới tính”, nhưng vì họ là thành phần “sinh tử” của cộng đồng Kitô Giáo, giống bất cứ thành viên nào thuộc bất cứ lớp tuổi nào. Chính nghĩa của những người từ 30 tuổi trở lên dĩ nhiên không được lãng quên, nhưng lấy đó làm cớ để công kích diễn trình phúc âm hóa là điều không nên.

John Lim ở Canberra thì cho rằng Ngày Giới Trẻ Thế Giới là một biến cố có tính hoàn cầu tương tự như Giải Túc Cầu Thế Giới và Thế Vận Hội. Tuy không tham dự, nhưng ông ý thức rõ về nó. Tuy không về Sydney để chào đón Đức Giáo Hoàng, nhưng, giống như mọi người ‘có tuổi’ khác trong giáo xứ, ông vui hưởng các biến cố chuẩn bị cho ngày đó. Cảm nghiệm được ‘tái phúc âm hóa’ của ông đã đến nhờ cái năng lực trẻ trung và đức tin nồng ấm được hàng trăm nghìn khách hành hương phát biểu khi được chào đón tại cộng đoàn giáo xứ. Theo ông, vứt bỏ cái não trạng “còn tôi thì sao?” phải là bước đầu tiên hướng tới diễn trình phúc âm hóa. Thay vào đó, hãy hân hoan với những người mừng vui trong Chúa và chúc phúc cho hạnh phúc của họ cũng như biết ơn vì những phúc lành nhận được! Ông Lim cũng cho rằng vẫn có những sinh hoạt dành sẵn cho những người ‘có tư tưởng chín muồi’ như các buổi cấm phòng có hướng dẫn, phong trào Cursillo, Gặp Gỡ Hôn Nhân (Marriage Encounter) và nhiều phong trào khác. Không hoành tráng như Ngày Giới Trẻ Thế Giới, nhưng cũng hữu hiệu và phong phú không kém.

Một người từ Melbourne, ký tên Mikayla, cho rằng Johnson tố cáo tuổi trẻ thiếu sắc thái trí thức vì họ thiếu kinh nghiệm của người lớn tuổi. Đã đành kinh nghiệm là thầy dạy vĩ đại, nhưng điều ấy không nhất thiết có nghĩa là tuổi trẻ nông cạn, hời hợt, thiếu cái sâu sắc trí thức. Theo Mikayla, Giáo Hội đúng khi tăng cường năng lực vào việc phúc âm hóa tuổi trẻ, vì những người này thường là những người hay bị lãng quên nhất bởi chính những người đáng lý ra phải là các các nhà lãnh đạo thiêng liêng của họ, ông muốn nói tới các bậc cha mẹ. Khá nhiều người Công Giáo có tuổi đã xa rời việc sống đạo hay hướng dẫn đức tin cho con cái mình. Kết quả là hiện nay một tỷ số khá cao các thiếu niên không coi mình thuộc bất cứ tôn giáo nào, mà chỉ là những người đi tìm chân lý và một điều gì đó để tin. Đó quả là một lãnh vực hàng đầu để ta tập chú việc phúc âm hóa vào, nhất nữa vì tuổi trẻ thường còn là nạn nhân của ảnh hưởng tai hại do chủ nghĩa thế tục hiện đại tạo ra. Những người lớn lạc xa Giáo Hội không hẳn bị lãng quên. Các chiến dịch như “ Đem Người Công Giáo Trở Về ” (Catholics Come Home) là để dành cho họ, đây là một phong trào lớn trên truyền thông Mỹ (2) và cả Úc nữa.

Mikayla nhận xét thêm: điều kỳ cục là Johnson cho rằng người trẻ bị sử dụng để lôi cuốn tính đáng tin (cred), nhưng lại cho hay: họ thường là nạn nhân của những câu trả lời giáo điều ngây thơ. Vậy họ là những nhà cực cấp tiến hay cực bảo thủ đây? Đàng khác, sau khi dành nhiều thì giờ chỉ trích giới trẻ, Johnson quay qua chỉ trích Giáo Hội định chế, đã thất bại không nhận thức được tính đa dạng và tính cá thể của tuổi trẻ.

Mikayla cho hay đã tham dự Ngày Giới Trẻ Thế Giới và nhóm của ông (bà?) gồm bất cứ ai muốn tham dự, bất kể là người năng dự Thánh Lễ, người không tham dự Thánh Lễ hay người ngoài Công Giáo. Trong nhóm, có học sinh trung học, sinh viên đại học, sinh viên chuẩn bị tiến sĩ, một giáo sư tiến sĩ, một số công nhân, một tu sĩ Phansinh khổ tu, và một linh mục Dòng Đa Minh. Mỗi người tự chọn các buổi nói chuyện, cũng như các buổi cầu nguyện mình ưa thích. Có người tham dự các buổi Thần Học Thân Xác của Đức Gioan Phaolô II. Có người tham dự các buổi nói chuyện về đặc sủng của Viện Siena. Có người im lặng cảm nghiệm việc tôn thờ Thánh Thể. Không hề có chuyện “một cỡ vừa cho hết mọi người”, mà là phản ảnh lịch sử và sự đa dạng phong phú của Giáo Hội, trong đó có cả nghi lễ Đông Phương. Xem ra, Johnson không hề tham dự Ngày Giới Trẻ Thế Giới tại Sydney, nên không thấy thực tại của ngày đó. Thành thực mà nói, các vị giám mục, linh mục và nữ tu, mà Mikayla từng gặp, luôn thừa nhận, công bố và bênh vực giá trị và phẩm giá nội tại của ông (bà?). Các vị hết sức kính trọng việc tìm kiếm chân lý của Mikayla, không bao giờ “ban phát” những câu trả lời hai chiều có sẵn và những cái ôm hôn tập thể, trái lại cung cấp cho Mikayla đủ các nguồn bác học và lịch sử khác nhau, nếu cần để nghiên cứu thêm.

Một độc giả khác từ Budgevoi, Tiểu Bang New South Wales, thì nhắc Johnson nhớ lại lịch sử… Trước Thế Chiến II, một trong những tên độc tài tồi tệ nhất từng đưa ra nguyên tắc này: “Ai nắm được tuổi trẻ là nắm được tương lai”. Hắn đã theo đuổi một cách thành công nguyên tắc này với kết quả thảm khốc cho nhân loại: Thế Chiến II. Giáo Hội Công Giáo, nhờ áp dụng nguyên tắc trên tại Âu Châu, nên đang sinh động trở lại tại đó.

Charles Rodrigues, ở Hadfield, Melbourne, thuật lại kinh nghiệm Ngày Giới Trẻ Thế Giới năm 2008: các nhóm người trẻ được mời và ngụ tại các nhà trong giáo xứ của chúng tôi trong Ngày Giới Trẻ Thế Giới ở Úc quả là một làn gió mát mẻ. Họ đến từ Spain, Barbados, Germany và Dubai. Quyền lực Chúa Thánh Thần thấy rất rõ trong cách phát biểu niềm tin của họ ra bên ngoài nhất là trong cách họ cầu nguyện, thông đạt với nhau và tỏ tình yêu cho nhau.

(Còn một kỳ)

(1) Xem VietcatholicNews 18/08/2010, Cuộc Bầu Cử Liên Bang Úc dưới cái nhìn thần học

(2) Xem VietCatholicNews 15/06/2010, Chiến dịch đem Người Công Giáo Trở Về

Vũ Văn An

Nữ quyền và nữ tính

Nữ quyền và nữ tính
VietCatholic News (13 Aug 2010 19:45)
Alice von Hildebrand, nhũ danh Alice Jourdain, là một triết gia kiêm thần học gia Công Giáo. Bà sinh năm 1923 tại Brussels, Bỉ. Tới Mỹ năm 1940, bà học tại Đại Học Fordham, nơi Dietrich von Hildebrand làm giáo sư, và đậu tiến sĩ tại Đại Học này. Từ năm 1947, bà dạy triết tại Hunter College thuộc City University of New York và đã chính thức về hưu từ năm 1984. Bà kết hôn với Dietrich von Hildebrand, năm 1959, sau khi người vợ thứ nhất của ông qua đời. Bà hiện sống ở Mỹ, vẫn tiếp tục giảng dạy và trước tác, đồng thời phổ biến các công trình triết học và thần học của chồng. Bà nổi tiếng với hai tác phẩm The Privilege of Being a Woman (2002) và The Soul of a Lion: The Life of Dietrich von Hildebrand (2000).

Trong một cuộc phỏng vấn năm 2003 với hãng tin Zenit, bà cho rằng người phụ nữ muốn không bị vướng vào cạm bẫy của chủ nghĩa duy nữ, nên mô phỏng gương sống kiên cường nhưng khiêm nhường của Đức Maria. Theo bà, Đức Maria chính là mô thức hoàn hảo của nữ tính. Đối với bà, sống trong thế giới duy tục hóa ngày nay, người phụ nữ cần nhớ rằng chu toàn vai trò làm mẹ có giá trị vô song trước mặt Thiên Chúa.

Nhân dịp này bà cho biết lý do tại sao bà viết cuốn “The Privilege of Being a Woman”. Bà cho rằng nọc độc của chủ nghĩa duy tục đã thấm sâu vào xã hội hiện đại. Người đàn ông chính là nạn nhân đầu tiên của nó. Trong xã hội ấy, con người càng ngày càng xác tín hơn rằng muốn là một người nào đó, họ phải thành công ở trên đời. Mà thành công ở đây có nghĩa là có tiền, có quyền lực, có danh tiếng, được thừa nhận, có tính sáng tạo, khai phá…

Nhiều người hy sinh cả cuộc sống gia đình để đạt được mục tiêu trên: họ chỉ về nhà để thư giãn hay vui chơi. Việc làm mới là phần đời sống được họ xem trọng. Vô số các cuộc hôn nhân đã vì thái độ này mà tiêu tan. Các bà vợ có lý để cảm thấy mình chỉ như những vật phụ thuộc, để thư giãn. Các ông chồng dành rất ít thì giờ cho các trao đổi yêu thương, vì quá bận với công việc. Con cái ít thấy người cha. Người vợ đau khổ không những là điều dễ hiểu, mà đôi khi còn bị coi là điều hợp lý nữa.

Nhưng còn phụ nữ thì sao, họ có xác tín được rằng làm người đàn bà là một điều tốt hay không? Theo Alice von Hildebrand, điều kỳ cục là phong trào duy nữ, thay vì làm cho phụ nữ ý thức sâu sắc hơn cái đẹp và phẩm giá làm vợ và làm mẹ của họ, cũng như sức mạnh tâm linh mà họ vốn tác động trên người chồng của mình, thì lại thuyết phục để họ xác tín rằng cả họ nữa cũng phải bước theo não trạng duy tục. Nghĩa là cả họ nữa cũng phải gia nhập lực lượng lao động; cả họ nữa cũng phải tự chứng tỏ rằng mình là một ai đó bằng cách chiếm bằng cấp, đua tranh với đàn ông ngay trong thị trường lao động, chứng tỏ cho đàn ông thấy mình chẳng thua kém gì họ, và nếu có cơ hội, còn có thể trổi hơn họ nữa.

Phụ nữ tự du mình vào ý niệm coi nữ tính như một yếu đuối. Họ bắt đầu coi khinh các nhân đức, như nhẫn nại, quên mình, tự hiến, hiền dịu, và tự đặt cho mình mục tiêu trở nên giống đàn ông về mọi phương diện. Một số phụ nữ còn tự thuyết phục để xác tín rằng mình phải dùng cả ngôn ngữ thô tục để cho bọn phái “mạnh” biết rằng chúng chị không phải là những con búp-bê yểu điệu vô nghĩa như bọn em vẫn nghĩ.

Cuộc chiến phái tính cứ thế diễn biến. Những người rơi vào cạm bẫy của chủ nghĩa duy nữ muốn trở thành đàn ông về mọi phương diện và sẵn sàng bán cái quyền có từ lúc sinh ra đời (birthright) lấy cái nồi cháo (tương tự). Họ trở nên mù lòa không thấy sự kiện này là đàn ông và đàn bà, dù bình đẳng về phẩm giá hữu thể, đã được Thiên Chúa quyết định tạo nên khác nhau: Người đã tạo nên họ có nam có nữ. Họ khác nhau nhưng bổ túc cho nhau.

Alice von Hildebrand cho rằng: mỗi giới tính đều có những điểm mạnh; và mỗi giới tính cũng đều có những điểm yếu. Theo kế hoạch diệu kỳ của Thiên Chúa, người chồng có nhiệm vụ giúp vợ vượt thắng các điểm yếu ấy để mọi trân châu bảo ngọc của nữ tính nàng đạt đến trạng thái tuyệt hảo, và ngược lại.

Biết bao nhiêu người đàn ông đã thực sự trở nên “chính họ” nhờ tình yêu của vợ. Biết bao nhiêu người đàn bà đã được cái dũng và sự can đảm của chồng biến đổi. Thảm trạng của thế giới ngày nay là chúng ta đã trở thành những người bỏ đạo. Nhiều người đã vất bỏ các gia bảo đã được mạc khải ban tặng, đó là thể siêu nhiên.

Xét trong yếu tính, tội nguyên tổ chủ yếu là cuộc tấn công chống lại phẩm trật giá trị: con người muốn trở nên ngang hàng với Thiên Chúa, không cần Thiên Chúa nữa. Hình phạt vì thế mà thật khủng khiếp: thân xác con người nổi loạn chống lại linh hồn. Ngày nay, việc lật nhào phẩm trật giá trị này còn đi xa hơn nữa đến nỗi Peter Singer chối phăng luôn cả tính trổi vượt của con người đối với con vật, và người ta lo cứu mấy con cá voi con, còn trẻ thơ nhi thì để mặc tình bị sát hại.

Toàn bộ đảo lộn hết: hôn nhân tan vỡ; nhiều người không thèm tính tới chuyện kết hôn; các vụ sống chung chỉ kéo dài bao lâu chúng còn thoả mãn cá nhân. Các liên hệ không tự nhiên từng bị Platông kết án nặng nề nay trở thành thời thượng và đòi quyền được đặt lên ngang tầm với những mối liên hệ do Thiên Chúa sắp xếp.

Yếu mà mạnh

Theo Alice von Hildebrand, dưới quan điểm duy tự nhiên (naturalistic), người đàn ông mạnh hơn: không những vì họ mạnh hơn về thể lý, nhưng còn vì họ có óc sáng tạo hơn, nhiều khám phá hơn và nhiều năng xuất hơn. Phần lớn các công trình vĩ đại của thần học, của triết học và mỹ thuật đều là công trình của đàn ông. Đàn ông là những kỹ sư vĩ đại, các kiến trúc sư vĩ đại.

Nhưng sứ điệp Kitô Giáo dạy rằng: dù tất cả các công trình khám phá ấy có giá trị, song chúng chỉ là tro bụi so với đức hạnh. Vì người đàn bà, từ bản tính, vốn có mẫu tính. Thực vậy, người đàn bà nào, bất luận có chồng hay không, đều được mời gọi làm mẹ sinh lý, làm mẹ tâm lý hay làm mẹ thiêng liêng, nên họ trực giác thấy rằng trước mặt Thiên Chúa, cho đi, nuôi dưỡng, chăm sóc người khác, chịu đau khổ với họ và vì họ (làm mẹ bao hàm chịu đau khổ) thì có giá gấp bội hơn việc chinh phục các quốc gia hay bay lên mặt trăng.

Đọc cuộc đời Thánh Têrêxa Thành Avila hay Thánh Têrêxa Thành Lisieux, ta hẳn lưu ý tới sự kiện này: các vị không ngừng nhắc tới “sự yếu đuối” của mình. Cuộc đời các người đàn bà anh hùng này, và của nhiều người đàn bà khác, dạy ta điều này: ý thức và chấp nhận sự yếu đuối của mình, đi đôi với niềm tín thác vô bờ vào tình yêu và quyền năng Thiên Chúa đã đem lại cho các linh hồn ưu tú này một sức mạnh lớn lao đến thế vì đó là sức mạnh siêu nhiên.

Sức mạnh tự nhiên không thể đọ với sức mạnh siêu nhiên. Chính vì thế, Đức Maria, người đàn bà diễm phúc, đã “mạnh như một đạo quân xếp hàng vào trận”. Nhưng đồng thời, Ngài cũng được xưng tụng là “nhân thay, dịu thay, Thánh Maria trọn đời đồng trinh”.

Như Dom Prosper Gueranger từng nhắc tới trong cuốn “Năm Phụng Vụ”, sức mạnh siêu nhiên này giải thích tại sao ma qủy lại sợ trinh nữ khiêm nhường này còn hơn cả Thiên Chúa. Chỉ vì sức mạnh siêu nhiên của Ngài, một sức mạnh vốn đạp dập đầu nó, làm nó nhục nhã hơn là sức mạnh của Thiên Chúa.

Đó cũng là lý do tại sao ngày nay Tên Xấu Xa đang phát động một cuộc chiến tàn bạo nhất chống lại nữ tính từng có chỗ đứng trong lịch sử thế giới. Vì gần tới ngày tận cùng của thời gian và biết rằng chiến bại cuối cùng của mnìh đã gần kề, hắn đang tăng gấp đôi các cố gắng của hắn nhằm tấn công kẻ thù vĩ đại của hắn là người đàn bà. Sách Sáng Thế 3:15 nói rằng: “Ta sẽ đặt sự thù nghịch giữa ngươi và người đàn bà”. Chiến thắng cuối cùng là của nàng, như đã thấy nơi người đàn bà mặc áo mặt trời.

Alice von Hildebrand nói rằng: sứ mệnh người đàn bà ngày nay có tầm quan trọng hết sức chủ yếu. Xét về một phương diện, họ là chìa khóa đưa tới sáng suốt, tỉnh táo (sanity), bước đầu dẫn tới hồi tâm. Vì siêu nhiên dựa trên tự nhiên và nếu không trở lại với sự tỉnh táo tự nhiên, thì nét cao cả của sứ điệp siêu nhiên cũng sẽ mãi mãi không bao giờ đến được với ta.

Tại sao người đàn bà nắm được chìa khóa này? Vì ảnh hưởng của họ đối với đàn ông hết sức lớn lao khi họ hiểu đúng vai trò và sứ mệnh của mình. Ai trong chúng ta cũng từng nghe các linh mục thổ lộ rằng ơn gọi của họ là do mẹ họ hay bà họ gợi hứng.

Thánh Nữ Monica, nhờ hợp tác với Thiên Chúa, đã đem được người con trai hoang đàng của mình về với Thiên Chúa. Mẹ của Thánh Bernard, mẹ của Thánh Phanxicô de Sales, người chỉ lớn hơn ngài có 15 tuổi, và mẹ của Thánh Gioan Bosco đều là những nhân tố chủ yếu trong hành trình nên thánh của con trai mình.

Khuôn mẫu của nữ tính

Theo Alice von Hildebrand, người đàn bà nắm được chìa khóa trên vì họ là người canh giữ sự trong sạch. Điều này thấy rõ ngay trong cấu trúc cơ thể họ, một cấu trúc nhằm che dấu một cách trong trắng các cơ quan thân mật riêng tư. Vì các cơ quan của họ được “che màn” (veiled) cho thấy sự huyền nhiệm và thánh thiêng của chúng, nên người đàn bà được đặc ân vô giá là chia sẻ giới tính với đức diễm phúc Maria, tạo vật thánh thiện nhất trong mọi tạo vật.

Chủ nghĩa duy nữ vốn khởi sự tại các nước Thệ Phản, vì một lý do giản dị là các nước này quay lưng lại với mẹ Chúa Kitô, như thể Chúa Cứu Thế cảm thấy bị tước mất vinh dự vốn được dành cho Mẹ yêu dấu của mình. Như sách Khải Huyền đã ám chỉ, Đức Maria quả là khuôn mẫu của người đàn bà. Nhờ chạy đến với Ngài, cầu nguyện cùng Ngài và chiêm niệm các nhân đức của Ngài, người đàn bà sẽ tìm được đường trở lại với cái đẹp và phẩm giá sứ mệnh của mình.

Đức Maria dạy ta hai qui luật dẫn ta tới thánh thiện. Qui luật thứ nhất: “Tôi là nữ tỳ của Chúa. Xin hãy làm cho tôi như lời thiên thần nói”. Điều này có nghĩa: sứ mệnh người đàn bà là để mình được ơn thánh làm cho mầu mỡ (fecundated), là tiếp nhận một cách thánh thiện. Qui luật thứ hai: “Hãy làm bất cứ điều gì Người nói”. Đây chính là chương trình thánh thiện Giáo Hội dành cho ta. Hiển nhiên, nếu người đàn bà hiểu được sứ điệp này, thì hôn nhân, gia đình và Giáo Hội sẽ vượt qua được cơn khủng hoảng khủng khiếp đang đè nặng lên chúng ta. Như Phụng Vụ từng nói, “Thiên Chúa đã đặt sự cứu rỗi vào tay một người đàn bà”.

Vũ Văn An

Cuộc cách mạng sinh y học

Cuộc cách mạng sinh y học

VietCatholic News (10 Aug 2010 01:38)

Năm 2006, Shinya Yamanaka của ĐH Kyoto thực hiện một khám phá đáng chú ý. Ông thấy rằng khi chích các gien (genes) thuộc bộ bốn prôtêin vào các tế bào da của chuột, thì các tế bào này được tái thảo chương thành các tế bào rất giống với các tế bào gốc của phôi thai. Một năm sau, Bác Sĩ Yamanaka chứng minh được rằng cũng chính bốn yếu tố trên đã thực hiện được việc tái thảo chương các tế bào da của con người. Được biết dưới danh xưng các tế bào gốc đa năng được cảm ứng (induced pluripotent stem cells), các tế bào gốc mới này đã cách mạng hóa lãnh vực tế bào gốc trong sinh học.

Thực thế, đầu năm 2010, Tạp chí Nature Methods đã tuyên dương diễn trình tạo ra các tế bào gốc đa năng được cảm ứng là “Phương pháp của năm”, nhờ các hứa hẹn do các tế bào này đem lại cho ngành y khoa tái tạo (regenerative medicine) cũng như cho việc khám phá và phát triển các thứ thuốc. Vì nhìn nhận tiềm năng sinh y học của chúng, nên nhiều phòng thí nghiệm nghiên cứu đã tham gia chương trình tế bào gốc đa năng được cảm ứng này. Nhưng thực ra, các tế bào gốc đa năng này còn hứa hẹn nhiều điều hơn là cuộc đột phá sinh y học này. Vì có thể thay thế được tế bào gốc phôi thai, nên chúng có thể ‘gọn gàng’ gác qua một bên thế lưỡng nan đạo đức học từng đe dọa không cho lãnh vực nghiên cứu quan trọng này tiến bước. Nhờ ưu thế về đạo đức học này, không những các nhà khoa học mà cả các nhà lãnh đạo của Giáo Hội Công Giáo cũng hoan hô các khả thể nó cung hiến. Như thế, cả hai phía trong cuộc tranh luận gay gắt có tính lịch sử về tế bào gốc sẽ cùng ủng hộ kỹ thuật mới về nghiên cứu tế bào gốc đa năng.

Ấy thế nhưng chẳng may, vẫn còn một vấn đề đạo đức phụ thuộc: các tế bào gốc đa năng được cảm ứng này vẫn còn cần được thí nghiệm và chứng thực bằng cách sử dụng các tế bào gốc của phôi thai, ít nhất cũng trong giai đoạn đầu của cuộc nghiên cứu. Trong buổi giao thời có tính quá độ này, cuộc đối thoại có tính xây dựng giữa hai phía của cuộc tranh luận trên là điều sinh tử nếu ta muốn bước qua thời đại mới một cách nhanh chóng và hợp đạo đức, trong đó, các tế bào gốc của phôi thai không còn cần thiết cho việc nghiên cứu nữa.

Ưu thế đạo đức học

Ít nhất, cũng có ba ưu thế mạnh mẽ về đạo đức học trong việc theo đuổi kỹ thuật tế bào gốc đa năng được cảm ứng. Thứ nhất và trên hết, việc sản xuất ra các tế bào gốc này không bao hàm việc hủy diệt các phôi thai nhân bản. Đúng hơn, diễn trình tái thảo chương dùng để tạo ra các tế bào gốc đa năng được cảm ứng chỉ bao hàm việc tái chuyển hóa các thể bào (conversion of somatic cell), nghĩa là tái chuyển hóa các tế bào đã phát triển thành một phần đặc thù trong cơ thể rồi, như tế bào da chẳng hạn, trở lại trạng thái tế bào gốc có thể uốn nắn được để chúng phát triển thành các phần khác trong cơ thể. Việc này tương phản với việc cô lập hóa các tế bào gốc của phôi thai, là các tế bào vốn rút ra từ khối nội bào của phôi thai, tức khối nội bào được việc thụ tinh trong ống nghiệm tạo ra, để rồi sau đó giết chết chính phôi thai ấy.

Điều trên dẫn tới ưu thế đạo đức học thứ hai của các tế bào gốc đa năng được cảm ứng. Vì không có việc thụ thai trong ống nghiệm, nên trứng của người đàn bà không cần đến, và mọi vấn đề đạo đức học liên quan tới việc sản xuất và sử dụng trứng để nghiên cứu về tế bào gốc cũng như liên quan tới việc thụ tinh trong ống nghiệm, đều tránh được. Ưu thế thứ ba có quan hệ tới việc vốn được gọi là sinh vô tính để trị bệnh (therapeutic cloning), là việc chuyển dịch nhân của thể bào vào trong một trứng đã lấy nhân đi. Lý lẽ nguyên thủy bào chữa cho việc sinh vô tính để trị bệnh là nó giúp người ta có thể thực hiện được việc sản xuất ra các tế bào gốc có thể xứng hợp về di truyền học (và cả miễn dịch học nữa) với người hiến nhân của thể bào. Việc xứng hợp này không thể có được với lối dùng tế bào gốc của phôi thai vì các tế bào này lấy từ một cá nhân khác hẳn, tức từ phôi thai chứa chúng. Còn các tế bào gốc đa năng được cảm ứng thì vốn đã xứng hợp rồi vì nó được lấy từ chính bệnh nhân, như lấy từ các tế bào da bằng thủ tục sinh thiết (biopsy) chẳng hạn. Điều này khiến cho việc sinh vô tính không còn cần thiết nữa. Như thế, vệc sử dụng các tế bào gốc đa năng được cảm ứng tránh được các lưỡng nan đạo đức học có liên quan tới tế bào gốc phôi thai. Các phôi thai sẽ không còn bị tiêu diệt; việc thụ tinh trong ống nghiệm cũng không còn cần nữa; và việc sinh vô tính để chữa bệnh cũng thế, không ai cần đến ưu thế của nó nữa.

Hứa hẹn cho y khoa

Điều làm cho tế bào gốc phôi thai và tế bào gốc đa năng được cảm ứng trở thành các phương thế ưu hạng cho việc nghiên cứu sinh y học là điều gì? Không giống như các tế bào của cơ thể người trưởng thành, các tế bào gốc của phôi thai và các tế bào gốc đa năng được cảm ứng có khả năng vừa có thể tiếp tục phát triển mãi mãi khi được cấy vừa có thể biến đổi (morph) thành bất cứ loại tế bào nào trong cơ thể (tính đa năng), khi gặp một tín hiệu thích hợp nào đó. Điều này có nghĩa là các tế bào gốc của phôi thai hay tế bào gốc đa năng được cảm ứng có thể được kích thích để trở thành các loại tế bào chuyên biệt, được khuếch đại khi cấy rồi sau đó được cấy trở lại để chữa bệnh, như chữa thương tích ở cột sống, bệnh Alzheimer hay chứng tiểu đường của trẻ em.

Bất cứ tế bào gốc đa năng nào, không kể loại, cũng có tiềm năng được dùng trong phương pháp trị liệu bằng cách ghép tế bào. Giống như tế bào gốc của phôi thai, người ta đã chứng minh được rằng các tế bào gốc đa năng được cảm ứng có khả năng dị biệt hóa để trở thành đủ loại các loại tế bào khác. Vì khả năng vô hạn trong việc cung cấp đủ loại tế bào (gan, thận, tim) lấy từ nhiều hậu cảnh di truyền khác nhau, nên không những các tế bào này giúp cho việc trị liệu bằng cách ghép tế bào có thể thực hiện được, mà chúng còn làm dễ diễn trình thanh lọc và phát triển các loại thuốc mới. Đàng khác, không giống như các tế bào gốc của phôi thai, các tế bào gốc đa năng được cảm ứng còn có thể được dùng cho các cuộc nghiên cứu “bệnh tình trên đĩa”, nghĩa là chúng có thể dùng trong phòng thí nghiệm để nghiên cứu việc tiến triển của bệnh. Trong các cuộc thí nghiệm này, các tế bào gốc đa năng được cảm ứng được lấy từ các thể bào của một bệnh nhân đang mắc chứng bệnh đặc thù. Một số bệnh, như Lou Gehrig, Parkinson, chứng teo cơ bắp cột sống, chứng thiếu máu vùng biển (thalassemia) và chứng loạn chức năng tự trị gia đình (familial dysautonomia), đã được nghiên cứu cách này.

Phần lớn những điều chúng ta biết về tế bào gốc đa năng được cảm ứng là do các cuộc nghiên cứu song song trên chuột. Một trong các thử nghiệm nghiêm nhặt nhất để chứng minh tính đa năng liên quan tới việc sinh sản chuột bằng diễn trình gọi là tứ bội bổ túc hóa (bổ túc hóa theo lối nhân bốn, tetraploid complementation [1]). Ở đây, bào thai được trực tiếp sản xuất ra từ các tế bào gốc đa năng đã được cảm ứng. Nếu con chuột được tạo ra sống thoát và tốt giống (fertile), thì đây là bằng chứng cho thấy các tế bào phát sinh ra con chuột này quả có tính đa năng trọn vẹn. Gần đây, các tế bào gốc đa năng được cảm ứng lấy từ chuột đã chứng tỏ được là có khả năng vượt qua được cuộc thử nghiệm nghiêm nhặt nhất, đủ thấy các tế bào loại này cũng tương đương như các tế bào gốc của phôi thai, ít nhất là nơi chuột.

Nhưng diễn trình bổ túc hóa theo lối nhân bốn không thể thực hiện được nơi con người vì cá nhân được sản xuất ra chỉ là một cá thể vô tính (clone), một hữu thể chưa có tính đạo đức học (an ethical nonstarter). Thành thử thay vào đó, trong các tìm tòi nghiên cứu về người, thì tính đa năng chỉ có thể được thử nghiệm bằng cách thực hiện các so sánh chi tiết có tính phân tử vốn dùng để thăm dò tính tương đương về chức năng giữa các tế bào gốc đa năng được cảm ứng và các tế bào gốc cùng loại của phôi thai. Việc sử dụng các tế bào gốc của phôi thai trong các cuộc so sánh này dĩ nhiên đã gây ra các nan đề đạo đức học còn sót lại đã được nhắc tới trên đây.

Tuy nhiên, những cuộc so sánh vừa nói hết sức chủ yếu đối với sự tiến bộ của khoa sinh y học. Cho đến nay, các cuộc so sánh này đã cho thấy: các tế bào gốc đa năng được cảm ứng đang có sẵn hiện nay không hoàn toàn giống như các tế bào gốc của phôi thai. Khám phá này tuy có làm ta thất vọng nhưng không bất ngờ. Thực vậy, làm sao Bác Sĩ Yamanaka có thể thành công trong việc pha chế một cách đúng đắn các yếu tố tái thảo chương này ngay từ lúc đầu được? Ai cũng nghĩ rằng một cải tiến nào đó cần phải thực hiện đối với thủ tục đầu tiên. Nhờ tận tình chú mục vào công việc, các nhà nghiên cứu hiện đang có được nhiều chỉ dẫn cho thấy những cải tiến này nên như thế nào. May mắn một điều, hiện nay rất có thể có cách thoát được vấn nạn đạo đức học mà các cuộc so sánh của phòng thí nghiệm đang gặp phải.

Cuộc chủng ngừa hợp đạo đức

Trong huấn thị “Dignitas Personae” (Phẩm Giá Con Người), công bố hồi tháng 12 năm 2008, Vatican có cân nhắc một số vấn đề đạo đức sinh học, trong đó có việc thụ tinh trong ống nghiệm, chẩn đoán di truyền trước khi ghép (preimplantation genetic diagnosis), trị liệu gien, sinh vô tính và tế bào gốc. Một vấn đề không được huấn thị nói tới chính là kỹ thuật tế bào gốc đa năng được cảm ứng. Bất chấp sự im lặng này, “Dignitas Personae” vẫn chứa một khuôn khổ cho một giải pháp đạo đức trong việc sử dụng tế bào gốc phôi thai để chứng thực cho các tế bào gốc đa năng được cảm ứng. Trong phần tựa là “Việc sử dụng các ‘chất liệu nhân bản’ có nguồn gốc bất chính”, liên quan tới việc sử dụng các thuốc chủng ngừa lấy từ các tuyến tế bào của các thai nhi bị phá trước đây, tài liệu của Vatican này viết: “nguy cơ đối với sức khỏe con cái có thể cho phép cha mẹ được sử dụng một thứ thuốc chủng ngừa từng được khai triển bằng cách sử dụng các tuyến tế bào có nguồn gốc bất chính, nhưng phải nhớ rằng mọi người đều có bổn phận phải nói rõ sự bất đồng của mình và yêu cầu hệ thống chăm sóc sức khỏe của mình phải làm ra các loại thuốc chửng ngừa khác thay thế”.

Áp dụng cùng một lối lý luận như thế, rất có thể chấp nhận được về phương diện đạo đức nếu một ai đó dùng các phương pháp trị liệu hoặc chữa chạy lấy từ các tế bào gốc đa năng cảm ứng đã được chứng nghiệm bằng cách so sánh với các tế bào gốc phôi thai, miễn là họ cần phải nói lên việc bất đồng của mình đối với việc dùng tế bào gốc phôi thai để nghiên cứu. Người trong trường hợp này không bị coi là đồng lõa (complicit) về luân lý với hành vi nguyên thủy nhằm hủy diệt phôi thai nhân bản để lấy ra các tế bào gốc phôi thai. Yếu tố chủ chốt của nguyên tắc này do đó vẫn là giả thuyết đòi rằng sẽ không tiếp diễn chương trình hủy diệt phôi thai.

Sự kiện không may hiện nay vẫn là: muốn cho kỹ thuật tế bào gốc đa năng được cảm ứng thành công thì phần nào đó nó vẫn còn tùy thuộc vào cái giá hy sinh của phôi thai người. Trên khắp thế giới ngày nay, hiện có khoảng 700 tuyến tế bào gốc phôi thai. Mỗi tuyến này đều có liên hệ tới cái chết của phôi thai người, tức một cá thể nhân bản. James Thomson một nhà sinh học thuộc Đại Học Wisconsin, Hoa Kỳ, người không những góp phần tạo ra các tế bào gốc đa năng được cảm ứng mà năm 1998 còn là nhà nghiên cứu đầu tiên cô lập được các tế bào gốc phôi thai từ các phôi thai người, từng nói rằng: “nếu cuộc nghiên cứu dùng tế bào gốc của phôi thai người ít nhất không làm bạn thỏai mái, thì bạn đâu có nghĩ ngợi đủ về nó”. Ta không nên thoải mái, trái lại phải làm mọi sự trong khả năng của ta để tối thiểu hóa việc hủy diệt các phôi thai người.

Xây đắp cuộc đối thoại tích cực

Về phương diện lịch sử, cuộc tranh luận về tế bào gốc phôi thai đã được mô tả như là cuộc tranh chấp giữa phe phò sự sống một bên và bên kia là các khoa học gia và các nhà nghiên cứu y khoa khác. Tuy nhiên, khi kỹ thuật tế bào gốc đa năng được cảm ứng ra đời, cuộc tranh luận trên đã bước vào một giai đọan mới. Cả hai phía đều muốn kỹ thuật này thành công. Phần lớn các nhà phò sự sống đều coi kỹ thuật tế bào gốc đa năng được cảm ứng là kỹ thuật có thể chấp nhận được về phương diện đạo đức học, và họ muốn khích lệ kỹ thuật này. Các nhà nghiên cứu y khoa cũng muốn thấy kỹ thuật này thành công vì tế bào gốc đa năng được cảm ứng không những không gặp khó khăn về đạo đức như các tế bào gốc phôi thai, mà chúng còn dễ dàng được sinh sản hơn trong phòng thí nghiệm. Ước muốn chung cho kỹ thuật này thành công đem lại một cơ hội chưa từng có để người ta đối thoại một cách xây dựng.

Để cuộc đối thoại này thành công, hai bên đều cần phải tương nhượng. Các nhà khoa học cần lượng giá xem có cần thêm các tuyến tế bào gốc phôi thai hay không để chứng thực tính đa năng của các tế bào gốc được cảm ứng cũng như để cải thiện diễn trình của các tế bào này hay chỉ cần tới mấy trăm tuyến hiện hữu cũng đủ. Khi chuẩn bị đưa ra câu trả lời, họ nên nhớ rằng đối với nhiều người, mỗi phôi thai người đều là một cá nhân độc đáo. Chịu thích ứng với quan điểm ấy, các khoa học gia nhất định sẽ nhận được lòng tôn kính của những người bênh vực cho giá trị của sự sống con người ngay lúc còn là phôi thai. Chứng tỏ một thiện chí như thế đối với phía bên kia là một điều quan trọng để đạt tiến bộ trong cuộc tranh luận này.

Về phần mình, các người phò sự sống phải đối diện với việc người ta có thể thí nghiệm thêm việc sử dụng tế bào gốc phôi thai để hoàn hảo hóa thủ tục tái thảo chương tế bào trong cuộc nghiên cứu dùng các tế bào gốc đa năng được cảm ứng. Sự thất vọng mà phương thức này đem lại đã bớt đi nhiều nhờ sự kiện này là người ta chưa cần phải tạo thêm tuyến tế bào gốc phôi thai mới. Sau cùng, các nhà lãnh đạo Công Giáo, trong ước muốn cổ vũ đạo đức học nhưng cũng đang càng ngày càng có thiện cảm với kỹ thuật tế bào gốc, thỉnh thoảng lại đưa ra những tuyên bố không chính xác, chẳng hạn ngụ ý rằng các tế bào gốc đa năng được cảm ứng là một loại tế bào gốc của người lớn. Quả các tế bào gốc ấy lấy từ các tế bào đã trưởng thành rồi, nhưng chúng không phải là loại tế bào của người trưởng thành. Không may, các lời tuyên bố thiếu chính xác loại này chỉ làm mù mờ thêm những người vốn không được huấn luyện trong các khoa học có liên quan và do đó chỉ làm hại cuộc đối thoại có ý nghĩa với các khoa học gia. Các nhà lãnh đạo của chúng ta nên thận trọng hơn về phương diện này.

Các cuộc nghiên cứu dùng tới kỹ thuật tế bào gốc đa năng được cảm ứng đang thay đổi cảnh giới y khoa và đạo đức sinh học. Nó đem lại nhiều hứa hẹn trong lãnh vực y khoa tái tạo, theo dõi sự tiến triển của bệnh tật và việc phát triển cũng như thử nghiệm các thứ thuốc. Chìa khóa giúp ta mau tiến tới và tiến tới một cách thành công bước vào được thời đại mới trong đó các tế bào gốc phôi thai không còn cần đến nữa phải là một cuộc đối thoại sáng suốt và trung thực giữa mọi tham dự viên của cuộc đối thoại mà trước đây từng bị bế tắc này.

Viết theo W. Malcolm Byrnes, giáo sư tại trường y khoa của ĐH Howard tại Washington D.C., đăng trong tạp chí America số ngày 16 tháng 10 năm 2010.

[1] Diễn trình tứ bội bổ túc hóa (tetraploid complementation) là một kỹ thuật trong sinh học qua đó hai phôi thai của loài có vú được phối hợp để tạo ra một phôi thai mới. Các thể bào bình thường của loài có vú có tính lưỡng bội: mỗi nhiễm sắc thể (và do đó, mỗi gien) đều hiện hữu dưới dạng kép. Còn kỹ thuật này khởi đầu bằng cách tạo ra một tế bào tứ bội (tetraploid, tăng gấp bốn) trong đó mỗi nhiễm sắc thể hiện hữu thành bốn. Điều này có được bằng cách lấy một phôi thai ở thời kỳ mới có hai tế bào và đốt nóng hai tế bào này bằng một dòng điện. Tế bào tứ bội phát sinh từ đó tiếp tục phân chia, và các tế bào con cũng sẽ tứ bội lên. Phôi thai tứ bội này phát triển bình thường qua giai đoạn phôi bào rồi được cấy vào tử cung. Các tế bào tứ bội có thể tạo nên các mô bên ngoài phôi thai (như nhau chẳng hạn), nhưng ít khi phát triển thành bào thai. Đến lúc này, người ta phối hợp phôi thai tứ bội với các tế bào gốc phôi thai nhị bội bình thường lấy từ một sinh vật khác. Phôi thai lúc ấy phát triển bình thường; bào thai sẽ chỉ phát triển từ các tế bào gốc nhị bội bình thường, trong khi các mô ngoại phôi thai thì chỉ phát triển từ các tế bào tứ bội (tài liệu của Wikipedia).

Vũ Văn An

Dị biệt giữa văn minh và văn hóa

Dị biệt giữa văn minh và văn hóa
VietCatholic News (07 Aug 2010 19:48)
Thiên Chúa ban cho Adong và Evà quyền thống trị trái đất. Sứ mệnh này được ủy thác cho họ không phải để trái đất trở thành cũ rích mòn chán mà để họ làm nó nở hoa đâm trái. Họ được mời gọi quan tâm tới trái đất, chăm lo nó và phát triển nó. Thiên nhiên là chất liệu, và con người có sứ mệnh phát huy sự phát triển của nó và làm nó ra tươi đẹp. So sánh mảnh rừng hoang với địa cảnh vùng Tuscan hay Umbria, ta sẽ thấy quả con người rất nghiêm chỉnh tiếp nhận sứ mệnh kia và chu toàn sứ mệnh ấy một cách đầy trìu mến.

Việc can thiệp của con người diễn ra dưới hai hình thức: nói theo ngôn ngữ của Dietrich von Hildebrand, hai hình thức ấy chính là “văn minh” và “văn hóa”.

Văn minh chính là các thành tựu nhân bản nhằm làm cho cuộc sống dễ dàng hơn, thực tiễn hơn, và thuận tiện hơn. Ở đây, ta liên tưởng tới việc vận chuyển: đây là một lãnh vực trong đó, kỹ thuật đã thực hiện được nhiều “phép lạ”. Việc cuốc bộ từ từ đã được thay thế bằng xe ngựa, rồi xe ngựa được thay thế bằng xe đạp, xe hơi, tầu thủy và máy bay. Ngày nay, thời giờ con người rảo khắp thế giới được tính bằng giờ, trong khi vào thời Columbus, đến được lục địa Mỹ Châu là cả một hành trình chậm chạp và nguy hiểm. Ta còn đổ bộ lên cả mặt trăng và chẳng bao lâu nữa hy vọng sẽ chinh phục được nhiều hành tinh khác.

Con người ngày nay sống trong một thế giới với những chiến thắng kỹ thuật khó mà tưởng tượng nổi: nước chẩy thay vì nước múc từ giếng, điện năng thay vì ánh sáng đèn cầy, thang máy, truyền thanh, truyền hình, điện thoại bàn, điện thoại tự động, liên mạng, điện thư… Nhưng văn minh còn vươn cao hơn nữa: cơ cấu và tổ chức nhà nước cũng là thành quả của nó. Việc ban hành luật lệ và tổ chức sinh hoạt công là các thành quả được vun đắp từ nhiều thời đại qua.

Các thành tựu đó hiển nhiên là kỳ diệu, đòi ta phải ca tụng và tuyên dương thiên tài của con người. Chúng là thành quả của nhiều năm trường miệt mài lao công và cố gắng. Nhưng chúng cũng khiến nhiều người hứng chí đến tin rằng con người là thần minh và không có gì vượt quá tầm với của họ, chỉ cần cho họ thời gian mà thôi. Thực thế, con người tin rằng mình là vua vũ trụ.

Nhưng hành động của con người trên thiên nhiên không chỉ giới hạn trong văn minh. Họ còn để dấu ấn của mình trên một con đường rất khác: con đường văn hóa. Trái với văn minh, mục tiêu của văn hóa không phải là làm cho sự việc dễ dàng hơn, nhanh hơn, thuận tiện hơn, thực tiễn hơn, an toàn hơn hay lành mạnh hơn, nhưng là làm chúng đẹp hơn, nâng chúng lên cao, và đóng ấn chúng bằng dấu ấn linh đạo. Một con dao đẹp không phải là con dao cắt ngọt hơn, sắc hơn mà là một con dao, ngoài công dụng cắt ra, còn được đóng ấn bằng một sắc thái tâm linh hoàn toàn vượt trên những xem sét thực tiễn. Dĩ nhiên, con dao thường phải có trước con dao đẹp: con dao thường được rèn lên vì nhu cầu tất yếu. Làm sao con người bảo vệ được mình chống lại dã thú với những nanh vuốt dũng mãnh nếu họ chỉ biết trông vào bàn tay trần của mình? Là hữu thể thông minh, họ hiểu rằng mình cần phải tạo ra các khí cụ để bù trừ cho sự yếu ớt của mình, những khí cụ cần phải sắc để có thể địch lại nanh vuốt dã thú. Đó là khởi nguyên của dao, một khởi nguyên có lẽ cổ xưa nhất trong các loại khí cụ chỉ vì nó hết sức cần thiết cho sự sống còn của con người.

Trong khi con người thành công trong việc từ từ chinh phục thiên nhiên và thế giới loài vật, họ cũng hiểu ra rằng “họ không thể sống chỉ bằng cơm bánh”. Tận thẳm sâu linh hồn, con người cảm nhận được niềm khao khát cái đẹp, khao khát điều gì đó không phải nhằm các mục tiêu thực tiễn, một điều gì đó không phải chỉ là phương tiện cho một mục đích nào đó nhưng tự nó là một mục đích vì tự nó có giá trị. Cái đẹp không để phục vụ một mục đích thực tiễn: tự nó, nó có một ý nghĩa độc đáo riêng. Thực thế, Platông rất có lý khi nói trong tác phẩm Phaedrus của mình rằng: “Nhìn thấy cái đẹp, linh hồn con người mọc cánh”. Xét vì một mức độ văn minh nào đó phải có trước văn hóa (con người trước hết phải bảo đảm sự sống còn của mình cái đã), nên văn hóa rất qúy giá vì nó thêm sắc thái tâm linh, sắc thái thăng hoa vào cuộc sống hàng ngày của con người, mà nếu không có nó, đời còn gì đâu thi ca và cái đẹp. Văn hóa nhằm điều Sursum Corda (Nâng Tâm Hồn Lên). Văn minh phục vụ nhu cần thể xác con người, nhưng văn hóa nuôi dưỡng linh hồn họ.

Một dị biệt đáng lưu ý khác giữa hai lãnh vực này là: văn minh được coi như một “factum” (một sản phẩm). Con người có ý định thực hiện một mục tiêu thực tiễn và bắt tay vào làm việc cho tới khi tìm ra một giải pháp. Đó là sản phẩm do công trình của họ, do ý chí muốn thành công, do trí thông minh, óc sáng tạo, tinh thần nhẫn nại, và ý thức rằng một nhu cầu nào đó cần được thỏa mãn của họ.

Việc khai sinh ra văn hóa tinh tế hơn, mầu nhiệm hơn thế nhiều và khó có thể xác định được. Ta nên gọi nó là một “genitum” một đứa con, một điều gì đó lớn lên và phát triển một cách mầu nhiệm trong linh hồn con người, cho đến một ngày đẹp trời nào đó, nó đụng tới ý thức một nhà nghệ sĩ và nở thành một sáng tạo nghệ thuật. Con người, theo gợi hứng của Nàng Thơ (Muses), như lối nói của người Hy Lạp, cố gắng làm việc để biến thiên nhiên thành tươi đẹp, đài các hơn. Đó chính là một linh hứng, một ơn phúc. Thực vậy, sự khai sinh này, từ nguồn gốc, có thể so sánh với mầu nhiệm phụ tạo (procreation): cuộc gặp gỡ của một tinh trùng gần như vô hình với một chiếc trứng tí hon đã tạo ra một con người nhân bản theo hình ảnh và họa ảnh Thiên Chúa.

Văn minh là nhân tạo (artificial) trong khi văn hóa có tính hữu cơ. Điều này muốn nói rằng văn minh nhằm thay thế thiên nhiên: điện thoại rất thuận tiện để thay thế việc gặp gỡ mặt đối mặt, do đó đã loại bỏ yếu tố chủ yếu có tính nhân bản, đó là sự hiện diện và nét mặt khi phát biểu của người đối thoại.

Tương tự như thế, máy đánh chữ và máy vi tính đã thay thế nghệ thuật viết chữ đẹp (dù hiển nhiên một bức thư đánh máy sẽ không bao giờ có được cái giá trị và dấu ấn bản vị của một bức thư viết tay). Xe hơi thay thế việc cuốc bộ. Bóng điện thay thế cây đèn cầy. Vòi nước máy đã thay hế việc ra giếng múc nước. Kỹ thuật đã sản xuất ra một hệ thống mênh mông gồm các tác nhân liên hệ qua lại chằng chịt.

Tuy nhiên, thảm kịch ngày 11 tháng 9 đã giúp thế giới chợt nhận ra một thảm họa chắc chắn sẽ xẩy tới khi cái hệ thống chằng chịt kia sụp đổ vì một tai họa khôn lường nào đó. Con người lúc đó chắc chắn phải trở về với lối sống hang động vì lối sống hiện đại không chuẩn bị để họ có được buổi giao thời. Ngày 9 tháng 11 năm 1965, Duyên Hải Phía Đông Hiệp Chúng Quốc trở thành nạn nhân của một vụ mất điện khổng lồ. Hàng triệu và hàng triệu người phải sống trong bóng tối. Việc này không thể xẩy ra ở thời Trung Cổ. Vì nếu nến của một người Trung Cổ bị tắt, người hàng xóm của ông ta chẳng hề hấn gì, vả lại việc cấp cứu cũng khá dễ dàng và tức khắc. Bởi thế, kỹ thuật cũng có yếu điểm của nó.

Nhưng rõ ràng nó có sức hấp dẫn lớn lao, vì không những, nó chỉ nhằm làm dễ dàng cuộc sống mà nó còn làm cuộc sống ấy liên tục tiến bộ. Những người lớn tuổi trong chúng ta hẳn còn nhớ cái thời điện thoại còn hiếm hoi. Truyền thanh hầu như không có, và khi khám phá ra nó, nó chỉ có những chương trình hết sức giới hạn. Truyền hình tương đối mới có đây và hình ảnh lúc ban đầu của nó khá mờ nhạt. Bây giờ, chỉ trong ít năm, ta đã chuyển từ truyền hình trắng đen qua truyền hình mầu mà hình ảnh hiện nay thì hết sức rõ ràng và sắc cạnh. Ngày nay, người ta có thể nhìn các biến cố ở bên kia quả địa cầu ngay khi chúng xẩy ra. Thời gian và không gian xem ra đã bị thiên tài của con người chinh phục.

Khi một khám phá kỹ thuật đã được thực hiện, nó liền dẫn tới một khám phá khác, rồi một khám phá khác nữa. Ngoại trừ một thảm họa có tầm mức thế giới thì không kể, điều mà một số biến cố mới đây không loại bỏ, con người có thể mơ về một tương lai, trong đó, việc họ chinh phục vũ trụ sẽ đạt được những kích cỡ gần như phép lạ, và điều này càng làm gia tăng sự ngạo mạn của họ.

Trái lại, văn hóa không có được cái bước tiến đầy chiến thắng đó. Lịch sử thế giới cho ta thấy việc phát triển văn hóa có những bước thăng trầm, lên xuống của nó. Athens (Nhã Điển) đạt tới tột đỉnh vào thế kỷ thứ 5 trước Chúa Kitô và rồi đi xuống. Ý Đại Lợi đạt tới đỉnh cao của mình bắt đầu năm 400 (Quattrocento), dẫn tới các thành tựu ngời sáng của Phong Trào Phục Hưng. Điên khùng biết bao nếu cho rằng Bảo Tàng Viện Guggenheim, theo định nghĩa, đẹp hơn đền Parthenon vì nó trẻ hơn 25 thế kỷ. Đọ được sự vĩ đại của Bach, của Haydn, của Handel, Mozart, Beethoven, và Schubert đâu phải chuyện dễ. Ai cũng có quyền cho rằng Schoenberg là nhạc sĩ vĩ đại hơn Beethoven vì ông là sản phẩm của thế kỷ 20, nhưng không chắc gì ý kiến này được người yêu nhạc ủng hộ. Picasso có là họa sĩ vĩ đại hơn da Vinci chỉ vì ông ta là người đồng thời với chúng ta hay không?

Mới đây, thành Vienna xinh đẹp được chứng kiến việc khai sinh một ngôi thánh đường mới mà nhiều người gọi là một sự phạm thượng bằng đá và xi-măng. Nhưng nếu đem so sánh nó với nhà thờ Chartres thì quả là một việc phạm thánh.

Văn hóa và nghệ thuật là vườn bông nở rộ của trái đất nơi chúng được khai sinh. Khi cuộc sống luân lý của con người thoái hóa đến mức không còn nhận rõ được sự khác biệt giữa tốt và xấu do kết quả của một nền giáo dục duy tương đối có hệ thống gây ra, thì điều không tránh khỏi sẽ là thửa đất trên đó nền văn hóa chân chính có thể triển nở, sẽ mất hết nhựa sống cần thiết để nó thực hiện được các thành tựu vĩ đại.

Chỉ cần đưa ra một thí dụ cụ thể: mọi người yêu nhạc đều nhất trí cho rằng Le Nozze di Figaro (Đám Cưới Figaro) của Mozart là một kiệt tác nhạc kịch ít có tác phẩm tương đương. Nhạc kịch không phải chỉ để nghe; mà còn để nhìn nữa, nên phông cảnh phải xứng hợp với chất thơ của vở kịch. Thế mà ngày nay, sự sa đọa văn hóa, gây nguy hại đến tính bất tử, đã đạt tới độ thê thảm đến nỗi người ta bảo rằng tại cuộc trình diễn tác phẩm bất hủ này ở Đại Hội Salzburg năm 2001, lâu đài truyền thống hết sức đáng yêu theo lối kiến trúc baroque đã được thay thế bằng một căn phòng trần trụi chỉ có hai chiếc cửa viết chữ “Đàn Ông” và “Đàn Bà”. Sự khiếm nhã (vulgarity) và văn hóa không bao giờ đồng sàng, nên cái khẩu vị càng ngày càng thiên về tính thiếu tao nhã ấy báo hiệu cho thấy trong nhiều trường hợp, khó lòng ta còn có thể nói tới một thứ văn hóa hiện đại. Ta như đang sống trong một thời ngụy văn hóa (anti-culture). Thay vì nhã nhặn và cao thượng, nhiều người ngày nay chỉ thích những gì là khiếm nhã và du đãng. Thay vì khiến người ta có thiện cảm đối với những điều tốt đẹp nhất trong con người, thay vì là một Sursum Corda (Nâng Tâm Hồn Lên), nó chỉ biết phục vụ các bản năng thú vật thấp hèn nhất trong ta. Đó quả là một bản án tử dành cho nền văn hóa chân chính. Văn minh hiện đang bị cái tinh thần bủn xỉn (parsimony) tác động: bất cứ điều gì không tuyệt đối cần thiết đều bị loại bỏ. Văn minh thống nhất hóa và đơn giản hóa. Trái lại, văn hóa phát triển trên nguyên tắc thặng dư (superabundance). Shakespeare phát biểu sự thật này theo lối bất hủ của ông: “Đừng cho thiên nhiên hơn điều thiên nhiên cần, đời sống con người rẻ như đời sống thú vật…” (King Lear).

Ta hãy so sánh bữa ăn từ chiếc nồi đất thô kệch với bữa ăn đầy tính văn hóa: với khăn bàn đẹp đẽ, muỗng nĩa bạc, trang trí hoa lá, thức ăn dọn trong các chiếc đĩa sang trọng, trưng bày một cách nghệ thuật đến độ ta e ngại không dám phá nát công trình nấu nướng kiệt tác này. Việc ấy đâu có nhất thiết phải như thế về phương diện thực tiễn, nhưng quả là đẹp đẽ, và cái đẹp có sự biện minh riêng của nó. Văn hóa phản ảnh sự hào phóng hết sức rõ rệt trong công trình sáng tạo của Thiên Chúa: hàng triệu tinh trùng được phóng ra nhưng chỉ một con trong số đó làm chiếc trứng thụ tinh. Phép lạ đầu tiên của Chúa Kitô là điển hình tuyệt diệu của điều ta gọi là nguyên tắc thặng dư: khách mời tại tiệc cưới Cana đã dùng nhiều rượu rồi; về phương diện thực tiễn, thêm rượu nữa đâu có “cần thiết”. Nhưng Chúa Kitô vẫn quyết định biến những chiếc chum lớn đầy nước thành rượu và thẩy đều là rượu hảo hạng. Lầm lỗi lớn của ta trong cách tiếp cận đầy tính thực tiễn với đời là tin rằng tầm quan trọng của sự vật phải đo bằng tính hữu dụng thực tiễn của nó. Đại văn hào Pascal từng viết rằng ông không phải là người duy thực tiễn vì ông có thể đi xa hơn mà không cần điều ấy.

Ta dám quả quyết rằng trong xã hội ngày nay, văn hóa đang có nguy cơ bị kỹ thuật bóp nghẹt. Chỉ cần đơn cử nền giáo dục hiện nay. Thời chúng ta còn nhỏ, sinh viên được giả thuyết phải có một nền giáo dục toàn diện, phải học khoa học, toán, ít nhất một ngoại ngữ, văn chương, lịch sử, địa lý, triết lý, và mỹ thuật. Trái lại ngày nay, các nhà “giáo dục” coi cao đẳng chỉ là nơi chuẩn bị cho việc kiếm kế sinh nhai. Tại nhiều đại học, học trình cốt lõi hoặc bị rút ngắn hoặc bị bãi bỏ hoàn toàn, và kết cục, một sinh viên tốt nghiệp cao đẳng không hề biết chi về lịch sử, triết lý, văn chương, mỹ thuật và địa lý. Tóm lại, về các khoa học nhân văn, kiến thức của sinh viên, trên thực tế, chỉ là con số không khổng lồ.

Hỏi họ ai viết Thần Kịch (Divine Comedy) hay các bi kịch vĩ đại của Shakespeare là những bi kịch nào sẽ là chuyện vô ích. Nói đến âm nhạc, sự dốt nát của họ còn tệ hơn nữa. Nói chung, phần lớn các sinh viên cao đẳng ra trường mà không hề biết chi tới các truyền thống vĩ đại trong nền văn hóa Tây Phương. Vấn đề càng tệ hơn với sự kiện này: phần lớn các sinh viên tốt nghiệp này trở thành các doanh gia thành công và chẳng bao lâu sau đã tạo được những món tiền khổng lồ. Họ thấy họ đã đạt mục tiêu của mình; chân trời của họ chỉ là làm ra tiền, vui chơi, coi thể thao trên truyền hình, và thư giãn.

Cùng một thái độ thực tiễn này “Điều ấy đâu hữu dụng; nó có giúp tôi làm ra tiền đâu” đã giải thích đầy đủ tại sao tiếng La Tinh và tiếng Hy Lạp đã biến mất khỏi học trình trung học. Giá trị của hai ngôn ngữ chủ yếu của Âu Châu này không còn được con người thời nay hiểu nữa vì quan tâm hàng đầu của họ chỉ còn là làm sao tích lũy được tiền bạc. Ngày nay, vì tiếng Anh được nói khắp thế giới, nên người Mỹ đâu còn quan tâm đến việc học ngoại ngữ. Trong khi, biết các ngôn ngữ này là một kiến thức làm người ta nên phong phú một cách sâu sắc, giúp họ đi vào tận tâm thức các dân tộc khác. Mọi ngôn ngữ đều nói lên một lối nhìn thế giới. Nói rằng “không có nó tôi đâu có sao” quả có đúng, nhưng nó đã loại bỏ chiều kích văn hóa chân chính. Platông rất đúng khi ca ngợi tầm quan trọng của truyền thống, cái sợi chỉ vàng nối ta với quá khứ. Cắt đứt khỏi cái nguồn đem lại kiến thức, cái đẹp và văn hóa ấy là tự chọn cho mình một thế giới bị lột sạch tính tâm linh và vĩ đại.

Hiển nhiên, “con vượn mặc quần” có lý: chỉ cần ấn nút, anh ta có thể chứng kiến những cảnh tượng đang diễn ra cả hàng ngàn dặm cách xa. Nhưng than ôi, cũng vì ấn nút như thế, anh ta đang có khả năng hủy diệt cả một thế giới mà chính anh ta không tạo ra được. Về phương diện kinh tế, con người hiện đại mỗi ngày một giầu có hơn; nhưng về phương diện tâm linh, anh ta đang phá sản.

Nền văn hóa chân chính chỉ có thể được phục sinh bằng cách nhớ rằng con người không phải là một con vật có bộ óc cực kỳ phát triển nhưng là một ngôi vị được dựng nên theo hình ảnh và họa ảnh Thiên Chúa. Nền văn hóa chân thực chỉ có thể nở rộ trong một thế giới biết tôn kính và ý thức được phẩm giá linh thiêng của con người.

Phỏng dịch bài “Civilization and Culture at War” của Alice von Hildebrand, đăng trong InsideCatholic.com ngày 25 tháng 5 năm 2010. Bà là quả phụ của tư tưởng gia Công Giáo nổi tiếng, Dietrich von Hildebrand, người được Đức Piô XII gọi là Tiến Sĩ Hội Thánh của Thế Kỷ 20 (xem VietcahtolicNews, 29 Jul 2010). Bà cũng là giáo sư triết hưu trí của Hunter College thuộc City Univedrsity of New York, và là một tác giả nổi tiếng, trong đó có các cuốn The Soul of a Lion (Ignatius, 2000) và The Privilege of Being a Woman (Veritas, 2002).

Vũ Văn An