Archive for the ‘ Mục vụ ’ Category

Tương Quan Giữa Giáo Hội Và Thế Gian

Tương Quan Giữa Giáo Hội Và Thế Gian
VietCatholic News (03 Oct 2010 09:00)

Lời mở đầu

Trong mấy năm gần đây, Giáo Hội Hoàn Vũ cũng như Giáo Hội tại Việt Nam phải đối diện với nhiều khó khăn và thử thách. Những khó khăn và thử thách đó khiến người tín hữu có nhiều ưu tư và lo lắng; tuy nhiên, từ trong bóng đen vẫn sáng lên niềm vui và hy vọng. Những ưu tư và lo lắng ấy mời gọi người môn đệ dõi bước theo Thầy Giêsu, tin tưởng và phó thác vào Người để vượt qua mọi chướng ngại trên hành trình trần gian tiến về Thành Đô Vĩnh Cửu là Nước Trời. Người môn đệ đang sống trong thế gian, được mời gọi dấn thân vào đó để làm men, làm muối và làm ánh sáng cho trần gian; qua ơn gọi dân thân, người môn đệ kín múc từ tình yêu Đức Kitô Phục Sinh và Thần Khí của Người để biết đâu là “thế gian thật” và đâu là “thế gian giả”, từ đó nhận chân những giá trị nào là phù hợp với Tin Mừng của Đức Kitô để làm tươi trẻ Hội Thánh và canh tân bộ mặt trái đất này.

Chúng ta đang sống trong một thế giới với nhiều biến đổi và biến đổi không ngừng; và chúng ta cũng đang sống trong một thế giới đa cực, đa văn hoá, đa tôn giáo, đa hệ… Cái thế giới này hầu như bị phân hoá ra thành nhiều mảnh. Thế gian có nhiều nghĩa. Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu theo bốn nghĩa cơ bản: các loài thụ tạo tồn tại trong vũ trụ này, thế giới loài người, thế giới vị lai và cuối cùng là ma quỷ cùng các thế lực đen tối của nó.

1. Thế giới vạn vật – Thế gian cần được tôn trọng và bảo vệ

Thế gian ở đây được hiểu là công trình tạo dựng của Thiên Chúa. Muôn loài muôn vật được tạo dựng trong năm ngày từ ngày thứ nhất cho đến ngày thứ năm trong chương thứ nhất của sách Sáng thế.¬¬¬¬¬¬¬¬(1)Chúng là những thụ tạo tốt đẹp mà Thiên Chúa đã dựng nên. Những loài này, khi tình trạng nguyên thuỷ của công trình tạo dựng bị sụp đổ do sự bất tuân phục của nguyên tổ loài người, thì đã lâm vào cảnh hư ảo…, nay đang mong ngóng ngày được giải thoát khỏi cảnh hư nát để được hưởng tự do và vinh quang của con cái Thiên Chúa.(2)

Công trình cứu chuộc của Thiên Chúa được thực hiện nơi Đức Giêsu Kitô bao gồm những loài này nữa. Vào thời gian tới hồi viên mãn, tất cả các loài vật này cũng sẽ được quy tụ dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô.(3)

Trong thời đại mà người ta đua nhau khai thác tài nguyên thiên nhiên ồ ạt để làm giàu, không lưu tâm đến những tác động có ảnh hưởng xấu lên môi trường. Môi trường đã bị ô nhiễm nghiêm trọng. Điều này được minh chứng cụ thể qua việc trái đất ngày càng nóng lên, thiên tai ngày càng xảy ra nhiều. Trong những năm gần đây, các nhà môi trường, các nhà khoa học và những người hữu trách đã nhiều lần lên tiếng cảnh báo về những tác động của việc môi trường bị ô nhiễm lên đời sống con người. Môi trường là vấn đề sống còn của con người. Tương lai của nhân loại phụ thuộc vào ý thức của con người hôm nay đối với môi trường.(4)

Trong tình hình môi trường đang gồng gánh những sự khai thác bừa bãi và tàn phá nặng nề, Giáo Hội được mời gọi bảo vệ công trình tay Thiên Chúa tạo nên, cái công trình mà Thiên Chúa đã dựng nên rồi trao lại cho con người làm chủ. Giáo Hội tha thiết mời gọi người tín hữu ý thức tầm quan trọng của môi trường đối với việc phát triển toàn diện của thế giới con người. Đức giáo hoàng Bênêdictô XVI nhiều lần lên tiếng mời gọi người tín hữu ra sức tôn trọng và bảo vệ môi trường.(5)

2. Thế giới loài người – Thế gian cần được yêu mến và cứu độ

Thế gian theo nghĩa thứ hai được hiểu là con người. Ngoài những thụ tạo vừa nói trên, con người cũng là loài thụ tạo được dựng nên, nhưng là được dựng nên vào ngày thứ sáu theo trình thuật sáng thế.(6) Được dựng nên sau cùng, nên loài người là đỉnh cao trong công trình tạo dựng của Thiên Chúa; do đó, họ có một phẩm giá cao trọng,(7) vượt trên các loài đã được tạo dựng trong năm ngày trước đó.

Loài người được dựng nên theo và giống hình ảnh Thiên Chúa(8) và được ban cho cái quyền trên các loài được dựng nên trước đó. Và khi loài người phạm tội,(9) lời hứa cứu độ của Thiên Chúa nhắm tới loài người trước tiên.(10)

Chúng ta tuyên xưng đức tin trong Kinh Tin Kính, Con Thiên Chúa làm người với mục đích thực hiện lời hứa cứu độ cũng là “vì loài người chúng ta”. “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ. Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa”.(11)

3. Thế giới mai sau – Thế gian cần được ước mong và đạt tới

Thế gian theo nghĩa thứ ba được hiểu là thực tại mai sau. Trời đất này sẽ không qua đi, nhưng sẽ được biến đổi để thành “trời mới đất mới”.(12) Trời mới đất mới là thực tại mà muôn loài muôn vật và cả con người nữa đang ngong ngóng đợi chờ để được hưởng tự do và vinh quang của con cái Thiên Chúa;(13) trong trời mới đất mới, ở đó công lý ngự trị.(14)

Giáo Hội do Đức Kitô thiết lập đang tồn tại nơi trần gian là dấu chỉ và dụng cụ hướng đến trời mới đất mới. Nước Thiên Chúa đã được khai nguyên nơi trần gian,(15) nhưng đang trên đường tiến đến cùng đích tối hậu của mình. Giáo Hội có sứ mạng xây dựng Nước Thiên Chúa ngay tại trần gian này cho đến khi đạt đến cùng đích viên mãn.(16)

4. Thế giới đen tối – Thế gian cần phải nhổ đi và loại trừ

Cuối cùng thế gian được hiểu một cách tiêu cực là những thực tại đối lập với Thiên Chúa, đó là ác thần hay còn gọi là satan cùng những việc làm đen tối của nó. Đức Kitô trong lời nguyện hiến tế đã xin Chúa Cha gìn giữ các môn đệ của Người khỏi loại thế gian này.(17) Kế đến, thế gian là những việc làm xấu xa do satan gây ra.(18) Ngoài ra, thế gian bao gồm dục vọng của tính xác thịt, dục vọng của đôi mắt và thói cậy mình có của để huênh hoang tự đắc và coi trời bằng vung…(19)

Trong cánh đồng nhân loại, có nhiều thứ cây mang độc tố huỷ hoại, đó là những thế lực đen tối của ma quỷ, thù địch của con người “như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé”.(20) Đức Giêsu đến là để nhổ đi những thứ cây mà Chúa Cha đã không trồng: “Cây nào mà Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời, đã không trồng sẽ bị nhổ đi.”(21)

Ma quỷ và những thế lực là những phe đối lập với Thiên Chúa. Chúng luôn tìm cách để phá huỷ công trình tạo dựng của Thiên Chúa, luôn tìm kế để mê hoặc con người ta ngay cả Con Thiên Chúa…(22) Đức Kitô đến thế gian là để khử trừ tội lỗi và ma quỷ, và để thực hiện một cuộc giải phóng con người khỏi tình trạng tội lỗi và xiềng xích của ma quỷ. Tin Mừng thuật lại rất nhiều lần Đức Giêsu tha tội và trừ quỷ cho người ta.(23)

Tạm kết

Thế gian này quả là thiên hình vạn trạng. Từ những nghĩa như đã được phân tích ở trên, người môn đệ sẽ biết phải có trách nhiệm cùng bổn phận gì và phải có thái độ như thế nào đối với thế gian này. Có cái thế gian phải được người môn đệ Đức Giêsu yêu mến; có cái thế gian người môn đệ được mời gọi thấn thân vào để làm biến đổi từ bên trong; có cái thế gian người môn đệ phải hướng tới cho đến khi đạt được, và cũng có cái thế gian người môn đệ phải xa tránh và thậm chí là phải loại trừ.

Chú thích

(1) Xc. St 1,1tt; Ga 17,24.

(2) Xc. Rm 8,19-21.

(3) Xc. Ep 1,10.

(4) Cf. Msgr Celestino Migliore, Address at the Second Committee of the 63rd Session of the Un General Assembly on sustainable development, New York, 28 October 2008. Downloaded 27 September 2010; http://www.vatican.va/roman_curia/secretariat_state/2008/documents/rc_seg-st_20081028_sustainable-development_en.html; John Paul II, Address to the participants in the study week organized by the Pontifical Academy of Sciences, 6 November 1987. Downloaded 27 September 2010; http://www.vatican.va/holy_father/john_paul_ii/speeches/1987/november/documents/hf_jp-ii_spe_19871106_accademia-scienze_en.html

(5) Cf. Benedict XVI, Address in the Welcoming Ceremony, Government House – Sydney, 17 July 2008. Downloaded 27 September 2010; http://www.vatican.va/holy_father/benedict_xvi/speeches/2008/july/documents/hf_ben-xvi_spe_20080717_welcome_en.html

(6) Xc. St 1,1tt.

(7) Xc. Tv 8,1-10.

(8) Xc. St 1,26-27.

(9) Xc. St 3,1tt.

(10) Xc. St 3,15.

(11) Ga 3,16-18.

(12) Kh 21,1.

(13) Xc. Rm 8,19-21.

(14) Xc. 2 Pr 3,13.

(15) Xc. Vatican II, Lumen Gentium, 3.

(16) Xc. Vatican II, Lumen Gentium, 5 và 9.

(17) Xc. Ga 17,15.

(18) Xc. Ga 7,7.

(19) Xc. 1 Ga 2,15-17.

(20) 1 Pr 5,8.

(21) Mt 15,13.

(22) Xc. Mt 4,1tt; Mt 9,33; Mt 17,18; Mc 7,29-30…

(23) Xc. Các Sách Tin Mừng.
FX. Trần Kim Ngọc, OP.

Vai trò tâm lý học trong việc xưng tội

Vai trò tâm lý học trong việc xưng tội
VietCatholic News (05 Oct 2010 07:42)

Trong tâm lý trị liệu pháp (Psychotherapie) cổ điển, người ta thường có khuynh hướng xếp mặc cảm tội lỗi vào hàng ngũ bệnh lý học (Pathologie). Và mặc dù các nhà tâm lý trị liệu tân tiến ngày nay đã khám phá ra được nhiều nhận thức mới mẻ, nhưng quan niệm cũ vẫn còn ít nhiều ám ảnh và đeo đuổi họ. Dĩ nhiên có những hiện tượng bệnh tâm lý, chẳng hạn: hiện tưởng tâm thần suy sụp (Depression), chứng ảo giác, chứng rối loạn thần kinh, tình trạng tự ti mặc cảm hay mất hết tự tín nơi một số người nào đó, khiến cho những người ấy cảm thấy mình sống và hành động luôn sai sót. Nhưng những hiện tượng này là những trường hợp bệnh hoạn ngoại lệ, chứ không phải là trường hợp của những người bình thường và khỏe mạnh.

Còn bình thường, thì một người có mặc cảm tội lỗi hay cảm thấy mình có tội, là khi người ấy thực sự đã vấp phạm một tội lỗi nào đó, tức là lúc người ấy đã quyết định làm một hành động xấu, mặc dù người ấy vẫn có đủ điều kiện để làm một điều tốt. Vì thế, sau khi đã thực sự phạm một tội nào đó và rồi người ta cảm thấy mình có tội hay có mặc cảm tội lỗi, thì không thể coi đó là „mặc cảm“ hay „cảm giác“ thuẩn tuý được. Trái lại, trong trường hợp này, hiện tượng cảm thấy mình có tội là hậu quả tất yếu của hành động phạm tội gây nên, và đã được lương tâm nhắc bảo, đánh động. Vì sự ý thức được hành động sai trái và tội lỗi của mình như thế, chính là tác động nhận thức của lý trí kèm theo cảm xúc của cảm giác, chứ không phải là một tác động của cảm giác thuần tuý. Sự mặc cảm tội lỗi vì đã phạm tội thực sự này nhất thiết đòi hỏi người trong cuộc phải thành tâm tự kiểm điểm chính mình, một thái độ mà người ta gọi sự khiêm tốn.

Trong trường hợp này, người thực hành tâm lý trị liệu pháp không có quyền đưa ra bất cứ phán quyết luân lý nào về hành động của bệnh nhân để cho là xấu hay tốt, bởi vì anh chỉ là người trị liêu, chứ không giữ vai trò xét xử của pháp lý. Dĩ nhiên, điều đó tuyệt đối không muốn nói rằng trong cuộc sống con người không có sự hiện hữu của chiều kích luân lý đạo đức.

Và trong thuật ngữ y khoa (medizinische Termonologie), hai cách thức của mặc cảm tội lỗi này người ta có thể cho là thuộc về sinh lý học và bệnh lý học. Nhưng trong y khoa, từ ngữ „sinh lý học“ thường được sử dụng để nói về tình trạng những người khỏe mạnh bình thường, chứ không phải người bệnh tật. Trong khi đó, từ ngữ „bệnh lý học“ lại được sử dụng để nói về tình trạng mất định hướng, bị khủng hoảng, sinh lý bất ổn và bệnh hoạn.

Người ta có thể quan sát và nhận thức được điều đó, chẳng hạn trong trường hợp khi bị đau nhức ở một phần nào đó trên cơ thể do bị chấn thương, nghĩa là bộ phận thần kinh tại „hiện trường“, nơi bị chấn thương, liền cấp báo trong nháy mắt cho trung ương bộ máy thần kinh biết điều gì đang tác động không tốt cho cơ thể. Chính nhờ có ký hiệu báo động này mà diễn tiến điều trị và chữa lành vết thương mới có thể tiến hành được.

Trái lại, sự đau đớn thuộc bệnh lý học lại thiếu cảm giác, hay người ta cũng có thể nói là „thiếu sự báo động“ của cơ thể. Cũng gần tương tự như thế, mặc cảm tội lỗi là một sự cảm nhận đau đớn của linh hồn, và đồng thời sự cảm nhận ấy cũng cho thấy sự tác hại của tội lỗi lên con người.

Chính hình ảnh về y khoa trên đây cũng minh giải cho thấy rằng theo nguyên tắc thì sự bất lực trong việc cảm nhận được sự đau đớn là một mất mát đầy nguy hiểm cho cuộc sống. Và cũng tương tự như thế trong lãnh vực tâm lý học, nếu nói một cách tổng quát thì sự thiếu mặc cảm tội lỗi biến con người thành quái vật, chỉ biết hành động theo sự điều khiển của bản năng tự nhiên cho sự tồn tại của mình một cách ích kỷ, và đồng thời coi tất cả những người khác chỉ là những phương tiện hay những bậc thang giúp họ đạt tới sự tồn tại ich kỷ ấy của mình mà thôi. Vì thế, khi họ cảm thấy những đồng loại nào đó có thể là một đe dọa nguy hiểm cho sự tồn tại của mình, thì họ tìm mọi cách diệt trừ. Đây là một điều đã được minh chứng rõ ràng trong suốt lịch sử nhân loại qua một số nhân vật tiêu biểu, như các nhà độc tài: Tần Thủy Hoàng, Tào Tháo, Nero, Hitler, Stalin, Mao Trạch Đông, Ceausescu, Pol-pot, v.v…!

Nhưng dĩ nhiên, không chỉ những nhân vật vừa được nêu danh mới độc ác khủng khiếp như thế. Mỗi người trong chúng ta cũng đều có thể trở thành tồi tệ, bất nhân và nguy hiểm cho đồng loại một cách tương tự, nếu chúng ta thiếu sự trung thành với sự hướng dẫn của lý trí và thiếu sự thuần phục tiếng nói của lương tâm, mà đánh mất đi ý thức sống động về thiện/ác và phúc/tội và chỉ tìm kiếm sự lợi lộc ích kỷ do bản năng tự nhiên điều khiển. Vì con người không chỉ „nhân chi sơ tính bản thiện“, tức bản tính con người sinh ra vốn tốt, nhưng trong mỗi người còn ẩn chứa khả năng có thể trở nên tốt hay trở thành xấu, có thể làm lành hay làm ác. Tất cả đều tùy thuộc vào sự nỗ lực hướng thiện của bản thân và môi trường ngoại cảnh. Bởi vậy, con người cần có được một nền giáo dục tốt, đúng đắn và một môi trường xã hội lành mạnh.

Trong ngôn ngữ thần học, để trình bày những tình trạng lành mạnh hay bệnh hoạn đó, người ta sử dụng các ý niệm „lương tâm ngay chính“ và „lương tâm sai lạc“.

Đối với những người có tâm thức tôn giáo sâu xa hay cũng được gọi là những người tín hữu đạo đức, thì mặc cảm tội lỗi lành mạnh cần phải được giải quyết qua Bí tích Hòa Giải, tức qua việc xưng tội. Bởi vì, qua việc xưng tội, người ta loại bỏ ngay chính nguyên nhân sâu xa nhất của tội lỗi. Trong khi đó, mặc cảm tội lỗi thuộc lãnh vực bệnh lý học thì chỉ tìm cách loại bỏ hay giải quyết mang tính cách tâm lý, tức qua thần kinh bệnh học (Psychiatrie) hay qua tâm lý trị liệu pháp (Psychotherapie), và trong trường hợp này, người ta không thể chứng mình được một cách rõ ràng tội lỗi do cảm xúc gây nên và vì thế, cũng không thể loại trừ tội lỗi một cách tận gốc được. Hành động này cũng có thể so sánh với hành động người nhổ cỏ chỉ nhổ những sợi cỏ bò trên mặt đất, còn các rễ ăn sâu dưới đất thì vẫn để nguyên, và sau đó mọi sự đâu lại vào đấy, chứ không có gì thay đổi cả.

Đàng khác, sự bất cập của tâm lý trị liệu pháp cũ là ở chỗ đã thường tâm lý hóa (và đã bệnh lý hóa) mặc cảm tội lỗi „thuộc sinh lý“, và vì thế đã làm đảo lộn con đường dẫn tới sự hoán cải và qua đó làm lệch lạc cả sự hoàn thiện. Không ít các nhà tâm lý trị liệu pháp, vì do vũ trụ quan thuần chủ quan của họ, đã phủ nhận cả những vấn đề minh nhiên, chẳng hạn những tội lỗi thực tiễn và cụ thể. Thật vậy, nếu con người được định nghĩa một cách thuần túy vật chất, chẳng hạn như trường hợp nhà phân tâm Sigmund Freud đã làm, thì tất nhiên sẽ đi tới hậu quả hợp lý là con người không có tự do và trách nhiệm nữa. Theo chủ nghĩa giản lược này, thì thủ phạm sẽ trở thành nạn nhân và trút hết tội lỗi của mình lên các hoàn cảnh tâm lý này nọ, như: „tôi đã không thể làm khác được“, hay đổ tội cho những người khác, như: „do sự giáo dục sai lạc“ của cha mẹ hay của thầy cô giáo.

Nhưng sự tìm cách qui tội cho ngoại cảnh một cách truy tưởng như thế sẽ làm nảy sinh hai khuynh hướng nguy hiểm, đó là đánh mất hoàn toàn cảm năng về tội và ảo tưởng tự cho mình là vô tội, tức tự công chính hóa chính mình. Tuy nhiên, theo tâm lý, thì con người sẽ phải luôn trường kỳ phấn đấu mới mong có thể tiếp tục giữ được phần nào sự tự lừa dối mình như thế, vì trong một lúc nào đó lương tâm người ấy sẽ lại đánh động và làm hồi tỉnh lại ý thức về tội trong mình và từ đó nảy sinh ra tình trạng bất ổn nội tâm, mà người ta thường gọi „lương tâm cắn rứt“. Trong thuật ngữ thuộc phân tâm học, người ta gọi sự „trường kỳ phấn đấu“ này là tình trạng tâm lý dồn ép (Refoulement (F) hay Verdrängung (D)). Một thái độ „chạy tội“ như thế thường sẽ trực tiếp dẫn tới tình trạng bất ổn và „mất vui“ nội tâm, vì đương sự phải luôn tìm mọi cách để tự vệ và để tự khẳng định sự vô tội của mình, như: Thủ phạm chắc chắn là những người khác, chứ „tôi chỉ là kẻ đáng thương mà thôi.“

Tình trạng tâm lý dồn ép về sự bất toàn của mình là một chủ nghĩa cầu toàn bệnh hoạn

Nhưng thái độ không muốn chấp nhận khả năng lầm lỗi của mình như thế là một chủ nghĩa cầu toàn (Perfectionisme) mang nặng tính chất rối loạn thần kinh, một chủ nghĩa lẫn lộn giữa sự hoàn thiện Kitô giáo với sự mất ý thức về tội. Người theo chủ nghĩa cầu toàn bệnh hoạn, thì xác tín rằng anh không được phép để mình làm bất cứ sai lỗi nào. Và hậu quả tất yếu là anh cũng không muốn hoàn thiện mình hơn, vì làm sao một người lại cần phải hoàn thiện mình hơn nữa, khi người đó không sai phạm bất cứ lầm lỗi nào cả? Người ấy chỉ cần sự chứng thực là anh luôn hành động đúng đắn, thế thôi. Nếu vậy, đối với người ấy, sự hiện diện các quy luật này nọ trong Giáo Hội là cả một xúc phạm, vì như thế là đã tỏ ra nghi ngờ tính cách hoàn thiện nơi con người anh, và sau cùng tất cả các quy luật ấy còn là một đe dọa đến sự hiện sinh của anh. Vì thế, rất có thể anh sẽ bức xúc tự hỏi: „Những gì tôi làm trong phòng ngủ của tôi thì có liên quan gì đến Đức Giáo Hoàng?“

Qua đó, người ta nhận thấy được rằng người bị chứng rối loạn thần kinh sẽ thất bại vì thiếu đi ý thức tội lỗi và đồng thời khuynh hướng hiếu chiến sẽ bắt đầu nảy nở dần trong người đó, và khuynh hướng ấy thường sẽ đưa người đó có những tư tưởng và thái độ thù nghịch vô căn cứ đối với tôn giáo nói chung, cũng như phê bình chỉ trích, chứ không còn tìm ra được lý do để thông cảm với Giáo Hội nói riêng. Đối với những người mang sẵn định kiến tự tôn và thiếu phán đoán trung thực về tình trạng nội tâm của mình, thì mỗi sai lỗi nhỏ mọn nhất của người đại diện của Giáo Hội đều là một xì-căn-đan nguy hiểm, cần phải được nêu danh và tẩy trừ để trả lại cho Giáo Hội sự thánh thiện nguyên thủy, hay nói theo ngôn ngữ tân thời: để „lành mạnh hóa“ Giao Hội.

Nhưng chúng ta biết rằng sứ điệp đầy yêu thương và khoan dung của Giáo Hội lại đang tìm cách giải thoát con người ra khỏi sự phán đoán và quan điểm hẹp hòi và chủ quan như thế qua Bí tích Hòa Giải, qua sự xưng tội riêng thường xuyên. Bởi vì, đã là người thì ai cũng có sự lầm lỗi, dù người ấy ở đấng bậc nào đi nữa. Vâng, tất cả chúng ta đều là những kẻ có tội trước mặt Chúa, và vì thế, ai ai cũng đòi hỏi phải có thái độ khiêm tốn hối cải và hoàn lương.

Diễn tiến của sự ăn năn hối cải thăng tiến sự tự do cá nhân của con người

Như thế, trong Bí tích Hòa Giải, bên cạnh chiều kích chủ yếu là ân sủng thiêng liêng của Thiên Chúa ban, còn có lãnh vực tâm lý và nhân bản nữa. Đúng vậy, nơi một người thành tâm đón nhận Bí tích Hòa Giải một cách sốt sắng và nghiêm chỉnh, thì sau ý nghĩa thần học là sự tha thứ của Thiên Chúa, còn có tác dụng của tâm lý học nữa. Nói cách khác, một người sau khi xưng tội một cách đúng đắn xong – tức thành tâm ăn năn hối cải và làm đầy đủ các đòi hỏi cần thiết của Bí tích Hòa Giải – thì sẽ được Thiên Chúa tha thứ cho các tội đã phạm và đồng thời người ấy cũng cảm thấy thanh thản nhẹ nhàng, chứ không còn bị mặc cảm tội lỗi đè nặng lương tâm như trước kia.

Qua sự được giải hòa với Thiên Chúa cũng như với đồng loại bằng sự thú nhận tội lỗi và sự tha thứ, tâm lý dằn vặt của con người sẽ được giải tỏa. Đây quả là một sự vơi nhẹ có hiệu quả mạnh mẽ và sâu xa đối với người mang nặng khuynh hướng cầu toàn đang phải đối mặt với cuộc chiến nội tâm giữa tâm lý tự khẳng định chính mình và thực tại bị dồn ép. Ở đây, người ta cũng phải ghi nhận là nếu xét về phương diện tâm lý, thì có lẽ Bí tích Hòa Giải Kitô giáo, tức sự xưng tội, là một thực tại duy nhất có thể làm cho con người xác tín được tận đáy lòng thẳm sâu của họ, để họ có thể suy tư, tự kiểm điểm, thú nhận tình trạng thực tiễn của tâm hồn mình, ăn năn hối cải và hoàn lương.

Việc thành tâm nhìn nhận mình là kẻ yếu đuối và xưng thú các khiếm khuyết cũng như các tội lỗi của mình cho vị Linh Hướng, vị đại diện của Thiên Chúa – một người cũng hoàn toàn mang đầy yếu đuối như mình và cũng cần đến sự tha thứ của Thiên Chúa – chứ không tìm cách bào chữa, dấu diếm hay đổ lỗi cho người khác, quả thực là một hành động hết sức dũng cảm của người có đức tin mạnh mẽ. Bởi vì, người ấy xác tín được rằng Thiên Chúa luôn khoan dung và đầy lòng trắc ẩn, sẽ tha thứ mọi tội lỗi cho tất cả những ai biết thành tâm ăn năn và quay trở về với Người, và đồng người ấy cũng xác tín được rằng dù vị Linh Hướng ngồi ở tòa Cáo Giải kia cũng là một người như bao người khác, nhưng qua trung gian của Giáo Hội, ngài đã được Thiên Chúa tuyển chọn làm người đại diện hữu hình cho Người để mang lại ơn tha thứ cho hối nhân.

Do đó, hành động xưng tội mang lại tác dụng tâm lý mạnh mẽ nhất định trên người hối nhân, mà hiệu quả cuối cùng là sự chữa lành, sự thánh hóa và sự hồi sinh. Câu nói dũng cảm của hối nhân „Con đã phạm tội…“ đã nói lên rằng đương sự đã tự lên án hành động lệch lạc sai trái của mình, loại bỏ nó và bắt đầu lại từ đầu. Người ấy cảm thấy lương tâm thanh thản nhẹ nhàng, chứ không còm cảm thấy nặng chĩu, không vui và bất ổn nữa. Nhưng dĩ nhiên, đó không chỉ là một cảm nhận mang tính cách thuần túy tâm lý mà thôi, nghĩa là một vấn đề thuộc cảm giác, nhưng trước hết đó là một thực tại của linh hồn, được đức tin và lý trí chứng thực: Con người thực sự đã được Thiên Chúa tha thứ mọi tội lỗi đã phạm, vì đã can đảm và thành tâm xưng nhận chúng trước tòa Chúa qua Bí tích Hòa Giải, qua việc xưng tội.

Như vậy, con người sẽ loại bỏ được tội lỗi của mình, được tha thứ và được cứu rỗi, khi biết chân thành chấp nhận chúng và hối cải. Hay nói theo ngôn ngữ tâm lý học, khi con người biết loại bỏ được khuynh hướng tự tôn và tự mãn sai lệch về mình, thì con người thực sự đang ở trong tiến trình trở nên lành mạnh.

Tuy nhiên, việc xưng tội còn đòi hỏi phải có sự đền tội kèm theo, nghĩa là sự nỗ lực bù đắp và sửa chữa những tác hại do tội gây nên, như dấu chỉ tất yếu của sự tự nhận thức được chính mình và ăn năn hối cải chân thành. Ăn năn hối cải có nghĩa là hoàn lương và tìm ra định hướng nội tâm mới cho đời mình. Qua đó, nảy sinh lòng quyết tâm xa tránh tội lỗi – tức những hành động không hợp lý – và nhờ sự cương quyết xa tránh tội lỗi như thế giúp cho con người tránh được cả những dịp đưa con người tới chỗ phạm tội. Người ta có thể nói được rằng diễn tiến này đã thăng tiến và mở rộng sự tự do bản thân người liên hệ. Bởi vì, nếu một người có thói quen phạm đi phạm lại các thứ tội, mà không chịu chấm dứt ngay, hay nói theo ngôn ngữ thần học luân lý là „thiếu dốc lòng chừa“, thì thói quen xấu ấy sẽ dần dà trở thành bức màn vô thức được phủ lên tình trạng sai trái tội lỗi của người đó, khiến cho đương sự không còn nhìn thấy rõ được tình trạng tội lỗi xấu xa của mình nữa, nên vẫn cho mình là đàng hoàng, trong trắng và vô tội. Cụ thể là không ít người suốt cả 3,4 năm trời, hay còn lâu hơn nữa, không hề đi xưng tội, nhưng họ vẫn cảm thấy mình không hề phạm tội gì cả và lương tâm họ cũng không hề áy náy (vì có lẽ đã trở nên quá chai lì rồi). Trong khi đó, một tín hữu đạo đức sốt sắng thì luôn biết phát huy và trau dồi cho tiếng lương tâm mình mỗi ngày một trở nên nhạy cảm, sắc bén và lành mạnh trong tất cả mọi tư tưởng, lời nói và hành vi sai trái.

Điều đó muốn nói rằng, nếu nhìn theo phương diện tâm lý học, thì toàn bộ diễn tiến của việc xưng tội, gồm có sự xét mình hay sự dọn mình, là một dịp tốt và cụ thể nhất, giúp cho con người thoát ra khỏi vực sâu của tình trạng bán vô tri hay cả vực sâu của tình trạng vô tri về tội lỗi của mình. Đồng thời việc xưng tội làm vô hiệu hóa những xung đột nội tâm đầy nguy hiểm qua hành động xưng nhận các lầm lẫn và các tội lỗi của mình một cách rõ ràng với vị đại diện của Thiên Chúa. Chính nhà phân tâm học Sigmund Freud cũng đã trình bày một cách rất sáng suốt rằng bệnh rối loạn thần kinh sẽ phát triển mạnh ở đâu tội lỗi được che đây khéo léo, hầu để lý tưởng hóa cái tôi một cách thái quá so sánh với bản ngã thực tiễn. Nói cách khác, khi một người càng tô đẹp hình ảnh của chính mình một cách quá đáng, thì khả năng trở nên bệnh hoạn càng nhiều, khi người ấy phải đối mặt với thực tại cụ thể. Trong khi đó, qua việc xưng nhận tội đã phạm, thì tình trạng đau khổ, bất an và dồn ép của nội tâm sau khi sai phạm các tội lỗi sẽ có thể hoàn trả lại cho lương tâm sự thanh thản và an bình, và qua đó cả chứng rối loạn thần kinh của đương sự cũng được giảm thiểu, bởi lẽ việc làm cần thiết cho sự giải tỏa tình trạng tâm lý bị dồn ép cũng đã bớt đi.

Ở đây, có lẽ chúng ta cũng cần nhắc lại một ý niệm thường hay được một số học giả trích dẫn, mà người ta có thể gọi là sự „ảo giác tôn giáo“ hay sự „rối loạn thần kinh mang tính cách tôn giáo“ (ekklesiogene Neurose). Đây là ý niệm mà vào năm 1955 nhà phụ khoa học Schaetzing viện vào để gán ghép một cách lầm lẫn một loại bệnh thuộc thần kinh bệnh học như là hậu quả của công cuộc truyền bá tôn giáo gây ra. Nhưng trong thần kinh bệnh học tân thời ngày nay, sự gán ghép này được coi là sai lạc và lỗi thời. Trái lại, chính sự đòi hỏi rõ ràng về luân lý trong tất cả các lãnh vực của cuộc sống đã mang lại cho con người điều kiện để làm giảm thiểu tình trạng tâm lý bị dồn ép của mình, một tình trạng do chính tội lỗi của bản thân gây nên, mà người ta, vì do thiếu nhận thức đầy đủ về gánh nặng tâm lý ấy, thường chỉ có thể tháo gỡ, cởi mở hay làm vơi nhẹ đi được phần nào tình trạng đó mà thôi.

Tiếp đến, sự đam mê của con người thường hay phát triển lệch sang một hướng khác – tức bằng một sự thỏa mãn ngắn ngủi trong chốc lát – càng làm cho tiếng nói của Giáo Hội trở nên vô cùng cần thiết trong việc làm tăng cường lý trí và sự suy luận của con người trong diễn tiến thuộc nội tâm thần. Bởi vậy, những người chuyên môn chân chính trong lãnh vực tâm lý trị liệu pháp đã có lý khi phủ nhận hoàn toàn ý niệm „ảo giác tôn giáo“.

Điều đó cũng muốn nói rằng sự đòi hỏi khắt khe thuộc lãnh vực luân lý đạo đức không hề là nguyên nhân gây ra chứng loạn thần kinh mà ý niệm „ảo giác tôn giáo“ muốn áp chỉ – như một vai khuynh hướng Mục Vụ bị tâm lý hóa hay hoàn toàn dựa vào tâm lý học, đã từng truyền bá trong hàng thập niên qua –, nhưng sự đòi hỏi ấy thực ra là một nhu cầu cần thiết khi đối mặt với tình trạng mất ý thức về tội nơi một số người. Đây là một tình trạng nguy hiểm, làm cho sự phán đoán của con người về chân/giả, thiện/ác bị lệch lạc và không còn chấp nhận định nghĩa về tội/phúc của lý trí lành mạnh bình thường nữa, bởi vì phương tiện cần thiết và hữu hiệu trong việc hàn gắn lại những đổ vỡ tâm lý và trong việc cứu chữa linh hồn con người – việc xưng tội – đã bị đánh giá thấp hay đã bị loại bỏ trong cuộc sống hằng ngày, hoặc cá nhân người liên hệ đã tự ý sao nhãng và bê trể trong việc lãnh nhận Bí tích Hòa Giải. Chính Bí tích Hòa Giải làm cho đức tin Kitô giáo nói chung và sự đòi hỏi cần thiết trong việc cải thiện cuộc sống mỗi người nói riêng, trở thành sống động.

Thật vậy, một trong những điều kiện khắt khe tiên quyết của đời sống hoàn thiện theo tinh thần Kitô giáo là sự đòi hỏi phải biết nhận thức được sự yếu đuối và sự sai phạm các tội lỗi của bản thân và tẩy rửa chúng qua sự hoán cải nhờ vào Bí tích Hòa Giải hay việc xưng tội. Vì thế, nếu để muốn khẳng định sự tự công chính hóa của mình một cách sai lạc và bệnh hoạn, mà người ta tìm cách loại bỏ ý niệm về tội, hay: để muốn làm vơi nhẹ sự dằn vặt của lương tâm, mà người ta hùng hổ chống đối các điều luật của Giáo một cách chủ quan, thì người ta sẽ khó tránh được tình trạng tâm lý bị dồn ép trước sự bất toàn của mình, vì bản chất con người vốn bất toàn và hay sa phạm các thứ tội (x. 1Ga 1,8).

Đây cũng là xu hướng của một số người, nhất là những người thuộc thế hệ trẻ, đã từng làm bùng nổ vào thập niên 80 của thế kỷ vừa qua một phong trào nông nổi và quá khích với khẩu hiệu chứa đầy tính chất chống đối: „Tin Mừng, chứ không phải là Tin Buồn“ hay: „Tin Lành, chứ không phải Tin Dữ“. Điểm đặc biệt là những thành phần này không muốn nhắc đến các từ ngữ hay các ý niệm thuộc luân lý, như „tội lỗi“, „Hỏa ngục“, „án phạt của Thiên Chúa“, „ma quỷ“ hay sự báo oán và đền bù về các tội ác trong cuộc sống mai hậu, v.v…! Bởi vì những từ ngữ hay ý niệm đó luôn là dịp tốt làm vang vọng lên một cách rõ ràng và sống động tiếng nói của lương tâm, kèm theo sự cắn rứt và dằn vặt không nguôi, một điều mà họ rất sợ hãi. Nhưng người ta cũng tự hỏi là những thành phần của phong trào kia đã trải nghiệm thế nào về ý niệm „tin buồn“ hay „tin dữ“ mà họ nêu danh? Và tại sao?

Trong khi đó, ngược lại, những người tín hữu thường xuyên lãnh nhận Bí tích Hòa Giải hay xưng tội một cách sốt sắng, thì bình thường sẽ đạt tới được sự nhận thức cao và rõ ràng về chính mình và về tình trạng cuộc sống của mình, bởi vì những tín hữu ấy phát huy cho mình được khả năng biết cân nhắc và phán đoán một cách chính xác những cảm xúc, những tình cảm, những đam mê và các hành động của mình. Lương tâm những người ấy luôn nhạy cảm, sắc bén và sống động. Vâng, những người như thế thường có được khả năng suy tư đúng đắn về những sinh hoạt của đời sống tình cảm của mình. Và nhờ thế, những người tín hữu ấy không hề hành động theo bản năng tự nhiên hay gán ghép các sai lỗi của mình cho định mệnh mù quang, nhưng họ luôn hành động với đầy đủ ý thức và luôn dựa theo sự phán đoán hợp lý của lý trí. Đây chính là điều dẫn tới sự tự ý thức lành mạnh về chính mình, vì đã được bám rễ sâu trong ý thức đầy đủ về thiên chức làm nghĩa tử Thiên Chúa của mình.

Và cuối cùng, từ đó sẽ nảy sinh ra lòng tri ân cảm tạ sâu xa đối với một Thiên Chúa luôn đầy khoan dung và nhân từ, Đấng đã tha thứ mọi tội lỗi của con người. Tiếp đến, những con người như thế cũng biết thông cảm và tha thứ cho người khác cũng như cho chính mình, và qua đó họ càng sống lạc quan, tin tưởng và vui tươi phấn khởi hơn, dù cho họ có phải sống trong hoàn cảnh nào đi nữa, hay nói rõ hơn, dù cho họ có phải đối mặt với những điều tích cực hay tiêu cực xảy ra trong cuộc sống.
Lm Nguyễn Hữu Thy

MỘT GỢI Ý VỀ VĂN HÓA VIỆT VÀ SỐNG ĐẠO

MỘT GỢI Ý VỀ VĂN HÓA VIỆT VÀ SỐNG ĐẠO

Nguon: dongten.net

Saturday, 04 September 2010 01:22

Lm. Giuse Hoàng Sỹ Quý, S.J.

 Như ai nấy đều biết, đã có nhiều học giả viết về văn hóa Việt Nam, viết từng cuốn sách một, và hẳn còn nhiều học giả khác tiếp tục nữa. Thế nghĩa là về văn hóa Việt Nam, có quá nhiều cái để nói, nên nói hoài không hết. Mà nếu có cái được nói rồi, thì vẫn có người nói lại được, nhưng khác đi. Bởi lẽ trong văn hóa, chẳng mấy khi có gì “sáng sủa và rõ ràng” hẳn như các ý tưởng của Descartes hay công thức toán học, hầu có thể chỉ đích danh: “Nó ở đây”, trăm phần trăm nó là thế này, chứ không như vậy.

Thế rồi còn những đổi thay nữa chứ. Văn hóa cũng là một thể sống nó sống với con người, mà để sống được, thì nó phải biến hóa luôn luôn, khiến cùng một vùng mà có cái khác nhau, cùng một thời mà cái mất cái còn. Như nước chấm chả hạn, tuy cả ba miền Trung Nam Bắc đều ăn nước mắm cả (khiến nước mắm trở thành một trong những nét đặc trưng của phong tục nước ta), nhưng Bắc thì để nguyên vị mặn, Trung thì chế ớt thật cay, Nam thì thêm ngọt cho dịu bớt. Còn nói về quần áo, nó gần như thay đổi từng tháng, từng ngày. Cái áo dài đặc trưng của người Việt, khi chùng thêm và thêm cúc, lúc lại cộc lốc, thậm chí ngày nay nam giới bỏ hẳn, mà nữ giới cũng đang tấp tểnh theo nam. Cả cái quần lĩnh đen và quần trúc bâu trắng cũng vậy. Đúng là toàn cầu hóa, hay nói cho đúng hơn, toàn cầu Âu-Mỹ hóa.

Chính bởi vấn đề khó thế và mênh mông đến thế, nên tôi đã xin được thu hẹp đề tài, thành “Một gợi ý về v.v”. Mà cũng không phải tất cả các làm Việt Nam, nhưng một nét gì đó của cách ấy. Cố nhiên là phải chọn cái gì sâu một tí, bởi lẽ càng sâu, càng chìm, thì nó càng tổng quát và đổi thay chậm chạp hơn. Như tâm thức (mentality) chả hạn. Vâng, dù Tây hóa đến đâu, người Việt và Á đông nói chung, vẫn có những phản những không giống Âu Mỹ. Người Tây thì, sau khi tranh cãi nảy lửa trong hội nghị rồi, vẫn rủ nhau đi uống cà phê tỉnh bơ, chứ người Việt ta thì sức mấy.

Có điều càng sâu, thì nét văn hóa ấy càng không rõ, khiến diễn tả và chứng minh không dễ gì. Và nếu khá sâu, thì nó càng dễ thuộc những vùng văn hóa lớn rộng. Như văn hóa Hy-La bao trùm cả Hy Lạp, La Mã lẫn các nước Latinh. Dĩ nhiên là Pháp chả hạn vẫn có những gì đặc thù của riêng Pháp, nhưng không vì thế mà Pháp lại không có những gì chung của cả vùng văn hóa Hy-La nói trên. Vùng văn hóa còn có thể lớn rộng hơn thế nữa. Nhất là khi C.G.Jung đưa văn hóa 1 vào sâu tới vô thức, ở đó tiềm ẩn các nguyên tiêu (arkhêtupos) thuộc đại gia đình của nhiều chủng dân, và các nguyên tiêu chung cho tất cả loài người.

Theo tôi, Việt Nam chúng ta nằm ở chỗ giao lưu của ba vùng văn hóa gốc: văn hóa Đông Nam Á phía dưới, văn hóa Ấn Độ mà ta chịu ảnh hưởng qua Phật giáo, qua tiếp cận với các quốc gia Ấn hóa xưa, như Phù Nam, Chân Lạp và Chăm, và cuối cùng, văn hóa Trung Quốc. Các văn hóa của các nước như Pháp đến sau cũng tác động không ít đến bề nổi hơn của chúng ta.

Ở đây, tôi chỉ xin chọn trình bày một cung cách sống và đánh giá rất mềm dẻo mà chúng ta có chung với Trung Quốc và một số quốc gia tiếp giáp Trung Quốc. Đó là Nguyên Lý và biện chứng Âm Dương nó chi phối tư duy và cách sống của chúng ta từ trong ra đến ngoài, từ cá nhân đến xã hội.

Chúng tôi sẽ trình bày bằng cách đối chiếu nó với cách nhìn biện chứng của Phương Tây khi họ tiếp cận thực tại. So sánh với người khác như thế sẽ giúp ta thấy chính mình rõ. Nói như vậy không có ý bảo người Việt khác hẳn người Âu Mỹ đâu. Ai nấy đều nghĩ đàn ông sống lý trí và đàn bà sống tình cảm, nhưng đâu phải vì thế mà đàn ông là thỏi sắt biết đi và đàn bà cần giải phẫu để cấy thêm cái đầu. Bằng chứng là còn có những phụ nữ siêu lãnh như Võ Tắc Thiên xưa của Trung Hoa và siêu thép như M.Thatcher gần đây của Anh Quốc.

BIỆN CHỨNG ĐÔNG TÂY ĐỐI CHIẾU TRONG HIẾU ĐẠO VÀ HÀNH ĐẠO

Để xây dựng một Kitô giáo mang bản sắc châu Á, đã có một số cố gắng, nhưng cá nhân và lẻ tẻ, nên chưa mấy thành công. Như Deleury sống như một bà la môn. Như Monchanin và Dom Le Saux đi vào lối tu và nhập định Ấn giáo. Như Lassalle mở hai trung tâm thiền bên Nhật.

Hội nhập văn hóa trong thần học thì vì khó, nên càng hiếm kẻ tham gia, trừ mấy gương mặt quen thuộc bên Ấn là Panikkar và Amalados, bên Sri Lanka là Pierris…

Có điều các vị này, cả mấy chục năm “trau dồi kinh sử” Tây, nên dù đấu với Tây, họ chỉ biết dùng súng Tây, nghĩa là dù suy Ấn hay suy Tàu, họ cứ áp dụng thứ biện chứng pháp họ quen rồi, nghĩa là hơn kém biện chứng pháp Hegel vốn thiên về loại trừ, đối kháng. Do đó, cái mà thần học Tây phương đã tìm ra thì họ muốn gạch đi, viết lại. Và vì Do Thái giáo, Hồi giáo và Kitô giáo xưa coi dân ngoại như kẻ thù, thì nay trong xu thế đối thoại, Amaladoss gần như muốn loại bỏ tính duy nhất của vai trò cứu thế nơi Chúa Giêsu. Riêng Pierris thì cùng với thần học châu Mỹ latinh, chỉ còn hiểu thứ ngôn ngữ giải phóng của Cựu ước (tách khỏi cách hiểu thiêng liêng hơn nếu quy chiếu về Tin mừng); ngược lại với Tây phương thời Trung cổ, do quá nhấn vào tính cánh chung của đạo mà quên rằng Thiên Chúa của chúng ta đã “thành thịt” giữa cõi trần này.

Chúng tôi không phủ nhận công mở đường lớn lao của các thần học gia nói trên cho một thần học châu Á còn quá non yếu. Chúng tôi chỉ xin lưu ý họ, là tránh đừng đi vào vết xe của Tây phương vốn quá nghiêng về  lý tính nên dễ dàng tuyệt đối hóa những kết luận. Chính vì lý do đó mà chúng tôi xin đưa ra đối chiếu ở đây hai cách tiếp cận thực tại của Đông và Tây, cũng là cách sống và đánh giá theo những suy nghĩ ấy.

NHỮNG CẶP ĐỐI NGHỊCH VÀ CÁCH NHÌN BIỆN CHỨNG BÊN TÂY

Để hiểu các thực tại, con người phải thống nhất chúng. Triết gia Hy Lạp cổ đã quy mọi sự vật vào những gì được coi là căn bản làm nên chúng, như nước, khí, lửa, như nguyên tử (atomos) hay đơn tử (monados). Để giải thích làm sao, những gì rời rạc và đơn giản như thế lại có thể làm nên những sự vật phức tạp như ta thấy quanh ta, thì Empedocle (thế kỷ V tr.c.n) đưa vô nguyên lý kép Tán-Tụ, mà ông gọi Ghét và Yêu, với những viên gạch phần nào đa dạng hơn, là Thuỷ, Hỏa, Thổ và Khí. Vâng, khi những viên gạch ấy kết tụ lại, thì có cái nọ cái kia thành hình, còn khi chúng rời ra để tụ lại theo cách khác, thì sẽ có những sự vật mới phát sinh.

Cách suy nghĩ như vậy cũng không có gì khác với Trung Quốc và Ấn Độ. Với học thuyết Sâmkhya Ấn Độ, thì sự tán tụ kia thực hiện trên năm loại gạch Thuỷ, Hỏa, Thổ, Khí, Âkâsa (ête), và, nền tảng hơn, trên tam cách Âm dương lực. Trung Quốc cũng chủ trương, rằng các viên gạch nền tảng nhất là âm dương, với lực tiềm sẵn trong âm dương rồi, khiến đối nghịch thành đối cực (polarisation), sinh bù trừ, hấp dẫn. Còn bớt nền tảng hơn, thì đây là ngũ hành Kim Mộc Thuỷ Hỏa Thổ.

S.Freud lấy lại ý tưởng về cặp đối nghịch Tán-Tụ hay Yêu-Ghét, mà ông gọi cách khác là Yêu-Diệt (Êrôs-Thanatos, với thanatos có nghĩa Chết), nhưng đưa nó vào giải thích sức năng động tâm sinh. Ai cũng biết con người do thể xác mà có hai bản năng: tồn sinh và truyền sinh, nhưng Freud quy hết về hai bản năng nền tảng hơn, là Yêu (hay sinh) và Diệt chúng chi phối mọi sinh hoạt của con người. Vâng, cũng như khi ăn, để thức ăn thành một với mình, rằng phải nhai và dạ dày nghiên nát nó, thì để người yêu thành một với mình, người ta cũng làm đau, thậm chí khi thanatos trội quá, có thể sinh sex-murder, tức dâm sát.

Nếu Freud mang cặp đối nghịch vào năng động tâm sinh libido, thì Hegel và Blondel lại đưa nó lên đầu, vào các ý tưởng. Vâng theo M.Blondel, thì “sức năng động của tâm trí kích sinh ra những ảnh tượng và ý tưởng tương phản”2. Thế nghĩa là nếu nghĩ đến Sáng, sẽ có Tối muốn xuất hiện. Và cũng thế đối với sống-chết, hữu-vô v.v. Riêng Hégel đã lợi dụng những ý tưởng đối nghịch từng đôi ấy để thiết lập một phép biện chứng nổi tiếng, tuy không thể nói là của chung phương Tây, nhưng tiêu biểu hơn cả cho cách suy nghĩ của phương Tây. Phép biện chứng này xướng nhất như sau: Hễ có Đề phải sinh Phản đề, để rồi trên nền tảng của hai cái giao nhau mà huỷ nhau đi sẽ sinh ra một cái mới: Tổng đề. Như thế, biện chứng Hégel nghiêng hẳn về loại trừ, đối kháng. Như đối kháng và loại trừ giữa Hữu và Vô. Hữu suông và Vô suông của Hégel chỉ là ý tưởng, mà gặp nhau thì tạo nên Biến dịch. Để cuối cùng chỉ Biến dịch như một thứ Tổng số mới là cái có thực. Để rồi ngay cả Tuyệt đối, Tinh thần, Thiên Chúa cũng chỉ là cái Toàn thể được tạo dần thành do liên hồi biến dịch của thiên nhiên bên ngoài và liên hồi ý thức (về thiên nhiên) của mọi tâm trí hợp kết lại. Nhìn nhận Biến dịch, Bergson cũng phủ nhận những thể đang biến dịch như thế. Và cũng thế, đã nhấn vào tính nội tại của Thiên Chúa, Spinoza phủ định tính siêu việt của Ngài luôn. Và cứ đà ấy, triết học Tây phương hễ nhận tinh thần thì phủ nhận vật chất, hễ nhận thân xác thì phủ nhận linh hồn, và ngược lại. Không phải hết thảy đâu, nhưng là số đông. Và thần học cũng có khuynh hướng giống thế. Như khi nhìn nhận Chúa Giêsu là Thiên Chúa, ngay thời đầu, họ đã gán cho Ngài một thân xác xem như không thực; nhìn nhận Phép rửa là cần để được cứu vớt, họ liền khinh thị lương dân; rồi nay coi có Thánh Thần hoạt động trong nhiều tôn giáo, không ít kẻ lại xem Tin mừng và Giáo hội là không quan trọng nữa.

Ngay trong lãnh vực sống đạo cũng vậy. Vào thời Trung cổ, vì quá đề cao mầu nhiệm thập giá, người ta hạ thấp những giá trị trần thế, như sức khoẻ, tài trí, thông minh, cùng với các giả trí lành mạnh; còn ngày nay khi đã quan tâm đến nhân sinh và môi trường, người ta lại quên mất tính cánh chung và siêu thế của cứu độ, quên rằng con người là những vị-thân (le pour-soi), nên không thể để con người gặp nguy hiểm. Trái lại, họ đã bảo vệ bằng mọi giá những mãnh thú có thể tấn công chúng ta bất cứ lúc nào.

CẶP ĐỐI NGHỊCH VÀ CÁCH NHÌN BIỆN CHỨNG CỦA PHƯƠNG ĐÔNG

Như Blondel phát hiện, người ta luôn tư tưởng trong những cặp đối nghịch như Sáng với Tối, Ác với Thiện, Trong với Ngoài, Có với Không v.v. Phương Đông cũng thế thôi.

Có điều nếu phương Tây thiên về lý trí, mà ý tưởng thì sáng sủa, rõ ràng, nên giới hạn rạch ròi, khó dung hợp nhau. Chứ phương Đông thiên về trực giác, cảm nhận, nên những cặp đối nghịch của họ dính sát với thực tại, nhất là với sự sống, do đó nghiêng về bù trừ hơn là mâu thuẫn. Chính R.N.Tagore cũng nhận định như thế, khi ông nói đến âm dương trong đối lập sinh hóa, cái mà sanskrit gọi là Dvandva (nhị lập)3.

Bởi thế, dù luân lý Khổng giáo chủ trương “Nam nữ thụ thụ bất thân”, người Á Đông vẫn ưa đối đáp nam nữ hai bè, như trong hát trống quân, hát quan họ, và cách hát này còn tìm thấy cả bên Lào và Vân Nam nữa.

Sự đối nghịch hướng hòa ấy sẽ đi vào mọi ngóc ngách của đời sống dù sinh lý hay tâm lý, dù luân lý hay xã hội.

Theo Hoàng đế nội kinh, vì khí dương thanh của trời và âm đục của đất giao cảm khiến cho sinh hóa, điều hòa, và cũng vì hai khí nói trên hợp lại với nhau mà làm nên con người chúng ta, nên khí sinh lý của chúng ta cũng phải tương thông với khí trời đất ấy thì sức khỏe mới tốt, chứ nếu mất thăng bằng âm dương thì cơ thể phải phát bệnh4.

Nếu ở trong tâm, thì sự thăng bằng và điều hòa ấy là giữa đức Nghiêm âm và đức Ái  dương, hoặc giữa Nhân thuộc dương và Nghĩa thuộc Âm 5. Còn trong thuật trị quốc, để dân an và thuận theo, thì vừa phải có luật pháp nghiêm minh, vừa phải có từ tâm và đức độ.

Lòng ưa xứng đối và hài hòa thấm nhuần sâu xa hồn người Việt, Hoa, đến nỗi nó thể hiện trong cả văn chương và nghệ thuật. Ở hội họa thì đó là sự hài hòa của sơn thuỷ, cùng với cỏ hoa chim chóc. Ở kiến trúc, thì đây là dựng chùa ở bên nước biếc non xanh, xây Càn thanh của vua đối xứng với cung Khôn ninh của hoàng hậu, với điện Giao thái ở giữa để có giao hòa như giữa đất trời. Còn ở thơ, thì đây là song đối. Vâng, sự song đối luôn phải có ở phần chính, phần quan trọng nhất của bài thơ thất ngôn bát cú hay song thất lục bát. Mà đối đây là đối cả ý lẫn lời (cùng với đối bằng trắc), và càng đối hay thì thơ càng tuyệt. Sau đây là một vài thí dụ quen thuộc:

Dấu xưa xe ngựa, hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.

Hay:

Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc (quốc quốc),
Thương nhà mỏi miệng cái da da (gia gia).

Người Do Thái thỉnh thoảng cũng đối đấy, nhưng chỉ đối lời mà không thêm ý, tức dùng lời khác để nói lại cùng một ý, rất thô sơ, như:

Con người là chi để Chúa nghĩ đến nó,
Con của loài người là gì để Chúa bận tâm về nó (Tv.8)

Hay:

Một cái chồi từ gốc cây Giessê đâm ra.
Một cái mầm từ rễ cây vọt ra. (Is.11.1)

Chẳng những có đối trong thơ, mà câu đối còn vượt ra ngoài khuôn khổ thơ, do một thứ sính câu đối của cả người Việt lẫn người Trung Quốc, để rồi có mặt ở những chỗ trang trọng nhất trong nhà cũng như vào những dịp lễ lớn nhất như Tết.

Cặp đối nghịch mà tương tác đã phổ biến từ xa xưa, dù chưa có tên Âm Dương, như bằng chứng tìm được trong Kinh Dịch. Căn bản thứ nhất của Kinh Dịch là các quẻ cùng với các vạch dài và vạch đứt. Vạch dài và vạch đứt, hay lẻ và chẵn, tiền thân của âm dương, sẽ nối kết với nhau mà làm nên các quẻ và tất cả. Thậm chí làm nên lưỡng cực âm dương bao quát nhất là Càn và Khôn, hay trời và đất, mà tất cả lệ thuộc vào, như một thứ Mệnh và Đạo.

Hai từ Âm Dương xuất hiện trong Đạo Đức kinh của Lão tử (thế kỷ V tr.c.n), xuất hiện mới chỉ một lần, ở mãi phía cuối, trong chương XLII:

“Đạo sinh Nhất, Nhất sinh Nhị, Nhị sinh Tam, Tam sinh vạn vật, vạn vật phụ âm nhi bão dương. Xung khí dĩ vi hòa”.

Nhưng có lẽ Âm Dương có mặt từ rất sớm, như bằng chứng tìm thấy ngay cả trong Kinh Thi, Hoàng Đế trạch kinh, Dịch truyện (truyền) v.v.6

Kể từ đó, âm dương ngày càng được nói đến và nói rất nhiều, đến nỗi gần như không một dòng triết lý nào lại không bàn về âm dương hay dựa vào nguyên lý âm dương mà suy luận, suy không những về sự hình thành thế giới, mà còn về con người, về sự sống và đạo làm người, về cả thuật cai trị lẫn xem phong thuỷ.

Về tạo thế, người xưa coi nền tảng của tất cả là Khí: khí âm và khí dương. Nhưng khí để phân thành âm dương và biến hóa được thì nó lại cần đến Lý, cái Lý ấy là “Nhất âm nhất dương”, nghĩa là có âm phải có dương, chúng tương bằng với nhau và tương tác vào nhau để có Xung hay kích động, mà cái đích của sự xung biến không phải là tan, loạn, nhưng Trung hòa: “Vạn vật đều cõng âm bồng dương, do xung nhau mà có được hòa” (Đạo Đức kinh, ch.42). Vâng, trong bất cứ triết thuyết âm dương nào, người ta cũng gặp Dĩ vi hòa, giống như Đạo Đức kinh.

Với Hoàng Đế nội kinh, khí là bản nguyên của thiên địa nhân, nên “khí tương đắc tắc hòa, bất tương đắc tắc bệnh”7.

Với Hoài Nam tử (178-122 tr.c.n) thì “Âm dương giả, thừa thiên địa chi hòa” (Khí, tr.128-129).

Với Đổng Trọng Thư (179-104 tr.c.n), nguyên khí là gốc của thiên địa nhân, mà đặc tính của nguyên khí là (hướng về) Thuận hòa hay Trung hòa. Mà để có trung hòa thì phải có thăng bằng âm dương: “Hòa giả, thiên chi chính (cốt yếu) dã, âm dương bình dã”8. Và sự thăng bằng âm dương ấy phải diễn ra trong trời đất để có mưa thuận gió hòa, để rồi nương theo đường trời phải diễn ra trong xã hội để có thịnh vượng và bình ổn, và đây là phép cai trị đúng đắn gọi là Vương chính. 9

Với Thái bình kinh (bộ sách kinh điển của Đạo giáo thời Đông Hán) thì “Âm dương cốt ở trung hòa. Đạt tới khí trung hòa thì vạn vật sinh sôi, nhân dân hòa thuận, vương trị thái bình”.10

Với Chu Hy, “âm dương biến hóa” khiến “vạn vật sinh sinh” (Chu tử ngữ loại, quyển 74).

Khổng tử, tuy không nói gì về âm dương trong Đại học và Trung dung, nhưng cái hướng Trung hòa của âm dương rất rõ trong toàn cuốn Trung dung, nhất là ở câu: “Trung là cái gốc lớn của thiên hạ, Hòa là chỗ đạt đạo của thiên hạ. Trung hòa đến hết mức thì trời đất yên vị và vạn vật sinh hóa định ổn”. Còn trong Kinh Dịch thì ở Hệ từ thượng (nếu quả Hệ từ là do đức Khổng viết), ngài cũng nói rõ: “Nhất âm nhất dương chi vị đạo” sẽ sinh biến hóa ổn định mãi mãi, “Sinh sinh chi vị Dịch”, để sống theo đó thì là Thiện, thành được theo đó thì là Tính.

Trung hòa nói đây không được hiểu là Tĩnh hòa, hay do Tĩnh mà có, nhưng Động hòa và do Động mà nên: “Xung khí dĩ vi hòa”, nghĩa là do xung động tương giao tương tác giữa hai khí âm dương, khiến hòa đây là sinh sinh biến hóa một cách điều hòa, ổn định. Sở dĩ âm dương xung tác mạnh như thế, vì đối nghịch âm dương không chỉ là đối nghịch ý tưởng lạnh lẽo, mà đối nghịch phân cực (polarisation), như trong lãnh vực điện từ ấy.

Ấn Độ cũng chủ trương biến dịch do tương tác âm dương, với lực (rajas) đã tiềm sẵn trong âm (tamas) và dương (sattva) để có sự hấp dẫn và tương tác đó. Cho nên, tuy ba đấy mà là hai, để tất cả thành nhị lập, dvandva, khiến bù trừ mà sinh sinh hóa hóa.

Vậy, như trên đã nói, đạo âm dương chính là Dịch đạo vậy: “Sinh sinh chi vị Dịch”, “Âm dương tương thôi nhi sinh biến hóa”. Dịch và biến hóa đấy, nhưng không trong xáo trộn mà điều hòa: “Âm dương biến hóa, vạn vật sinh sinh”, với sự tương giao và tương bằng của “Nhất âm nhất dương”. Giống như bốn mùa điều hòa thay đổi, cứ âm cho đến cực là mùa đông thì lại dương lên, dương cho đến cực là mùa hạ thì lại âm tới, cốt cho không gì khắc nghiệt quá. Thật ra thì trời đất hướng về Sinh: “Thiên địa chi đại đức, viết Sinh”, nên cứ để tự nhiên đi thì thiên nhiên biết tự điều chỉnh, để hễ “cùng” thì “tắc biến” để “biến tắc phản” và “phản tắc thông”.

Quả đúng Sinh là sức mạnh lớn nhất của trời đất, khiến cho từ khoáng chất phải sinh ra sự sống, và sự sống ấy tự bảo vệ mình bằng dị ứng, hệ kháng thể, tự phát triển bằng bản năng truyền sinh và tiềm năng tiến hóa hướng về những giống loại ngày càng phức tạp và hoàn hảo hơn, như ngày nay khoa học cho thấy rõ.

Sở dị phương Đông chủ dịch hiếu hòa, hẳn là vì họ nhìn ra sự đối nghịch từng cặp không qua tư tưởng cho bằng qua sự sống với sự giao hợp đực cái và gắn bó nữ nam. Mà đây là đối nghịch không loại trừ, nhưng bù trừ, vừa sâu đậm vừa phong nhiêu. Và đấy là một cái nhìn biện chứng thật sống động, với đích tới là sinh hóa và trung hòa.

Tuy bắt nguồn từ sự sống, mà cái nhìn âm dương kia không dừng ở sự sống, nhưng vượt sự sống về phía những cảnh giới cao siêu và vô cùng bao la, chúng bao trùm hết, từ đất lên trời, từ ngoài vô nội tâm, từ cá nhân sang xã hội. Và đấy là Nguyên lý siêu hình, nguyên lý siêu hình Âm dương, do tác động của nó mà càn khôn liên kết, để rồi tất cả phải nương theo đạo trời đất ấy mà đi vào con đường thái hòa. Vâng, chúng ta đã bước sang lãnh vực của Hình nhi thượng, khiến chẳng những âm dương có mặt trong Khí và Tâm, mà còn trong Lý và Đạo nữa. Vâng, có triết gia đặt âm dương trong khí hay tâm, có triết gia trong lý hay đạo, với khí có trước lý hay lý có trước khí, nhưng lý và khí luônlà hai phạm trù đồng đại, không thể thiếu nhau trong việc hình thành và biến hóa của tất cả. Thế nghĩa là nếu Khí là nền tảng của vật chất, thì Khí cũng không thể hiện diện và biến hóa nếu không trong đường đi và quy luật, nghĩa là dưới tác động của Lý. Vâng, cả Lý và Khí đều cần cho nhau.

Tuy Chu Hy lấy Lý làm gốc của Khí, với Lý có trước Khí, nhưng ông cũng cho rằng Lý không thể hiển ra khi chưa có Khí đi cùng. Nếu Khí hiển là khí âm khí dương, thì Lý hiển lại là Nhất âm nhất dương để âm dương tương xung mà sinh biến hóa. Để rồi liền sau đấy, thể hiện kế tiếp của Lý sẽ là các quy luật. Vâng, Lý được xem như thụôc Hình nhi thượng và Khí thuộc Hình như hạ, chúng phải dựa vào nhau và tương tại với nhau, mật thiết đến nỗi không thể không có Khí để Lý dựa vô, không thể  không có Lý để Khí hiện thể và biến hóa (Xx. Khí, tr.365-374).

Ngô Trừng cùng chủ trương với Chu Hy, tuy coi Lý là chúa tể của Khí, nghĩa là nó điều khiển Khí, nhưng Lý Khí phải tương tại mà thành Đạo âm dương của trời đất, của cả đời sống sinh lý lẫn tâm linh. Mà không phải chỉ Khí mới âm dương, cả Đạo và Lý cũng âm dương luôn, thành: “Đạo âm và dương của trời, đạo mềm và cứng của đất, đạo nhân và nghĩa của con người”. Bởi thế, để tất cả biến dịch trong tương thông và ổn định, thì dù nơi vật hay người, dù trong tâm hay ngoài thế, tất cả phải đi vào quy luật âm dương. (Lý, tr.399-403)

Đổng Trọng Thư trước đó cũng coi Lý là Lý âm dương luôn (Lý, tr.135,138). Mà âm dương thì hướng về Bình, tức tương bằng, với Trung hòa là đích nhắm. Do đó, dù trong thuật dưỡng sinh hay vi chính, không thể không cố đạt sự bình ổn âm dương. Có điều trong vi chính, tức cai trị, và có lẽ trong những địa hạt khác cũng thế, Đổng Trọng Thư luôn chủ trương, rằng dương phải nhỉnh hơn âm một tí thì mới tốt; như để dân an, ta phải dùng đức (dương) nhiều hơn là hình (hình phạt, âm). (Lý, tr.137-138)

NHẬN ĐỊNH CHUNG VỀ BIỆN CHỨNG ÂM DƯƠNG

Qua những trình bày và phân tích trên, chúng ta rút ra được những đặc điểm sau đây của luật âm dương:

1. Hướng hòa. Dù âm dương được nhìn trong hỗ tương đối nghịch, nhưng đối nghịch có nhiều loại: đối nghịch bù trừ như giữa nam và nữ; đối nghịch loại trừ như giữa sáng với tối, ác với thiện, hữu với vô; đối nghịch kháng nhau tích cực như giữa nước với lửa. Đối nghịch âm dương xem ra bao trùm mọi thứ đối nghịch ấy, nhưng nghiêng hẳn về bù trừ và dung hòa, như chính hương vị âm dương nói lên và các học thuyết âm dương tỏ rõ. Vâng, biện chúng âm dương không hướng về tương diệt âm dương, để từ đó sinh ra cái mới như trong biện chứng Hégel, mà hướng về hòa hợp âm dương như giữa cái với đực, từ đó có sinh sinh hóa hóa.

2. Chủ dịch. Vâng, như bốn mùa đẩy nhau để có dịch chuyển, như nam nữ hút nhau để có hóa hóa sinh sinh: “Sinh sinh chi vị Dịch” mà!

3. Lạc quan: Hướng sinh, không hướng tử. Không như S.Freud đặt Erôs (Yêu tức Sinh) và Thanatos (Tử hay Diệt) ngang bằng nhau, Khổng tử trái lại nói về Sinh như cái đức lớn của trời đất, trong khi Đổng Trọng Thư chủ trương dùng đức nhiều hơn hình phạt để cai trị, còn các nhà âm dương luận nói chung thì luôn thuyết về sinh hóa, chứ không nhắc gì đến tử. Thế nghĩa là Á Đông có một cái nhìn thật lạc quan về biến dịch, coi Tử hay Tán chỉ là chiếc cầu nhún để vượt về phía Tụ và Sinh, y như đông tới chỉ là bước phải qua cho xuân xuất hiện.

4. Thiếu hướng cách mạng? Biện chứng âm dương nhắm đích trung hòa, nên xem ra không ưa loạn và cách mạng. Có điều khi tiên liệu “cùng tắc biến, biến tắc phản”, học thuyết cũng đã tiên liệu có loạn và cách mạng nếu không đi vào sự quân bình âm dương, do đó phải tránh những gì cực đoan. Nghĩa là thuyết âm dương muốn ngăn ngừa loạn bằng cách không gây mầm loạn, thế thôi. Riêng với cá nhân, khi công thành danh toại đến đỉnh rồi, họ phải tránh “cùng tắc biến” bằng cách lui về ở ẩn, để khỏi “trèo cao ngã đau”.

5. Thiếu hướng tiến bộ? Do hướng trung hòa và chủ trương điều hòa giống như trong chu kỳ bốn mùa tiếp nối, xem ra biện chứng âm dương thiên về ổn định, hơn là tiến hóa với những bước nhảy vọt giống như trong biện chứng Hégel. Có điều nó cũng không chống lại một tiến hóa điều hòa theo đường lối tự nhiên của trời đất.

6. Hướng trung dung. Chính vì “cùng tắc biến”, nên đạo âm dương là đạo Trung, nó đòi phải ngay thẳng, khách quan, đồng thời tránh những gì thái quá hay bất cập. Theo thuật dưỡng sinh, nếu dương khí quá thịnh thì âm sẽ suy: tình trạng Cách (nghẹt); trái lại nếu âm khí dư thì dương suy: trạng thái Quan (đóng lại).11

Tuy âm dương đòi “Nhất âm nhất dương” nên cân bằng, nhưng phương Đông thường nhấn vào âm – hay nói cho đúng, nhu- hơn. Bởi thế trong cai trị, các học giả nghĩ rằng phải Ái, Nhân, Từ hơn là Hình và Pháp. Nếu họ xếp Ái và Nhân vào vị thế dương, thì thật ra, Ái và Nhân thuộc nhu, nên đúng ra là âm mới phải. Mà đạo Nhu thì được nhấn mạnh và đề cao suốt tập Đạo Đức kinh, được đưa áp dụng trong võ Judo và Thái cực.

7. Tính tương đối của âm dương. Âm hay Dương không hề có Âm tuyệt đối hay Dương tuyệt đối. Nghĩa là hễ có Âm liền có Dương, và ngược lại. Nghĩa là âm và dương sóng đôi với nhau và “tương đối” với nhau, tương đối đến nỗi, xét về Lý, thì mỗi bên chỉ là những thế (đứng) đối với bên kia, nên thay đổi tuỳ theo bên kia, cũng như tuỳ theo môi trường và hoàn cảnh. Như ngoài hè là sáng (dương) đối với trong nhà, nhưng lại là tối (âm) đối với ngoài nắng; như gỗ là cứng (dương) đối với bùn, nhưng lại là mềm (âm) đối với đá. Quả đúng thế, như Hoàng Đế nội kinh nói, ở cơ thể con người có khí trong (dương), khí đục (âm), nhưng riêng ở khí trong, cũng có chỗ bớt trong thành âm, và ở khí đục, có chỗ bớt đục thành dương (Khí tr.112). Bởi thế, kẻ có cái nhìn biện chứng âm dương thì luôn trọng chữ Tuỳ, không dễ gì tuyệt đối hóa bất cứ cái chi chi, dù một sự vật, một học thuyết hay nguyên tắc. Mà thật sự, dù phân định rõ như đàn ông đàn bà, cũng chẳng ai nam hay nữ trăm phần trăm đâu, nhất là về mặt tâm lý. Riêng về mặt sinh lý, thì nguồn gốc của tính đực và cái cũng chẳng rõ ràng gì cho lắm. Vâng, dù nữ hay nam ai nấy đều có hormone nam testosterone và hormone nữ oestradiol, và chỉ cần thay đổi phần nào tỷ lệ là có rối loạn ngay, khiến một con chuột đực có thể động ham muốn khi gặp con chuột khác đồng giới tính với mình. Thế rồi, lại còn trường hợp có người sinh ra với hạ bộ nam mà lại với tử cung cùng buồng trứng nữa. Chính vì thực tại không mấy khi rõ nét như ý tưởng, nên người Việt ta, dù có thể chết vì tôn giáo, tổ quốc hay người yêu của mình, nhưng chết vì một học thuyết hay ý thức hệ như Tây thì không dễ.

8. Cân bằng âm dương và ảnh hưởng của văn hóa. Hẳn là từ trong kinh nghiệm về tình yêu lứa đôi và hấp dẫn đực cái mà phương Đông đã phát minh nguyên lý Âm Dương. Thế mà khi yêu nhau, thì người ta muốn hai bên đồng đẳng với nhau, nên dù hoàng tử hay công chúa, lấy ai thì người ấy cũng trở thành phò mã hay công nương luôn. Bằng như nếu không lấy nhau được, ông hoàng thà làm thứ dân để được gần người mình ngày đêm thương nhớ. Chính vì thế, bàn về Âm Dương, người ta không so sánh cái gì hơn cái gì kém, trừ trong trường hợp Âm Dương hiểu theo lý, như sáng tối và thiện ác, chúng vốn chống nhau, chứ không bù đắp cho nhau.

Thế nhưng đôi khi, một số nhà nho cũng có những so đo khác lạ. Rõ ràng trong Kinh Dịch ở phần Truyện và Lời bàn, người ta luôn coi Cứng là dương, Mềm là âm, mà khi nghĩ về cai trị và tu đức, người ta lại đặt Nhân và Ái vốn mềm vào vị thế dương, còn Nghiêm và hình luật vốn cương lại được liệt vào loại âm. Mà lý do chỉ vì để cảm hóa dân, Nhân và Ái phải được coi trọng hơn là sự nghiêm của hình phạt, dù cả hai phải đi đôi với nhau. Và cũng chỉ vì trong tu đức, Nhân được coi là trung tâm và cao đỉnh của tòa nhà đạo đức. Phải chăng vì dòng máu phụ hệ của Hán tộc đã có ảnh hưởng trong việc trọng dương khinh âm, khiến có đảo lộn âm dương này?

Chính bởi những trục trặc nói trên, theo tôi nghĩ, dù học thuyết âm dương đã được khai triển rộng sâu bên Trung Quốc thì nguồn gốc của nó có thể đã nằm ngoài Trung Quốc, ở một trong những vùng thuộc địa mà xưa người Hán gọi là Tây di và Nam man. Cách đây mấy chục năm, Kim Định đã đưa ra giả thuyết, rằng Kinh Dịch là của dòng Lạc Việt. Trước đó nữa, chuyên gia nghiên cứu về văn minh Đông Nam Á, bà E.P.Maspero cũng nhận định rằng triết lý Âm Dương của Trung Quốc đã bắt nguồn từ cảm nhận nhị lập của người Đông Dương (trong đó có Việt Nam) vốn sống thông thoáng về mặt giao tiếp nam nữ, chứ không “nam nữ thụ thụ bất thân” như Trung Hoa12. Và đây cũng là quan điểm của giáo sư Phan Đăng Nhật trong Kiến thức ngày nay số 487 (tr.8). Theo tôi, cái sơ đồ của Âm Dương có thể đã được phác họa nên bởi một trong những dân tộc mẫu hệ hay bán mẫu hệ giáo với Trung Hoa, chứ không phải dân Hán và Mãn vốn rất phụ hệ.

Theo Montandin và một số học giả trước ông, thì Đông Dương xưa thuộc vùng “văn hóa cây cung”, mà một trong những đặc điểm của văn hóa này là chế độ mẫu hệ. Ngay gần đây, Đông Nam Á vẫn còn nhiều dân tộc mẫu hệ, và đây là Chăm (Thuận Hải) ở Việt Nam, Khassi ở Assam, Minangkabau ở Sumatra, Negri Sembilan ở Malaysia. Họ giữ tập tục mẫu hệ lâu bền được hẳn là nhờ môi trường thuận lợi xung quanh, môi trường ít là không trọng nam khinh nữ, đến nỗi sau này dù Đông Nam Á có bị Ấn giáo hay Hồi giáo phụ hệ đến thống trị, thì người phụ nữ ở đây vẫn không bị “cấm cung”, ông cậu và ông bà ngoại vẫn được quý mến, và tục gửi rể tồn tại.

Người Việt chúng ta cũng thế, dù bị người Hán đô hộ cả ngàn năm, mà luật Hồng Đức của nhà Lê vẫn không có biểu hiện khinh nữ. Như phân chia tài sản và điền sản thì con cái bằng nhau, dù nữ hay nam, con riêng vợ hay con riêng chồng 13. Thậm chí về quản trị hương hỏa, nếu thiếu con trai trưởng, thì lập con gái trưởng14.

Như đã nói trên, sở dĩ nhiều dân Đông Nam Á có thể sinh hoạt mẫu hệ được, là vì môi trường trọng nữ xung quanh cho phép như thế. Để rồi đến lượt chế độ trọng nữ, cũng như trọng giới tích và quan hệ nam nữ thường đi kèm (chứ không vì xấu hổ mà phải che đậy) cũng ảnh hưởng ra xung quanh, khiến chỉ từ những vùng trời này mới có thể xuất xưởng những cảm nhận căn bản đầy hương vị sự sống như nguyên lý và biện chứng âm dương. Vâng, nguyên lý âm dương có thể đã được thai nghén xưa ở miền đất Rồng Tiên, nơi có bình đẳng nam nữ mà phần nào dấu vết còn để lại trong bộ luật Hồng Đức của nhà Lê, nó khác hẳn với bộ luật nhà Nguyễn gần như bản sao của bộ luật Thanh triều.

Một nguồn gốc khả dĩ thứ hai cho thuyết âm dương, đó là vùng Đông Ấn, nơi sản sinh truyền thống tu luyện bằng phối hợp vợ chồng. Và đây là Mật giáo (Tantra), nó ảnh hưởng sang Ấn giáo thành Sakti-giáo và sang Phật giáo Tây Tạng thành Phật giáo Mật Tông. Và chắc cũng do cùng một ảnh hưởng ấy mà có Đạo giáo Trung Quốc, để rồi qua Đạo giáo có nguyên lý và biện chứng âm dương này.

Nếu chế độ phụ hệ Hán tộc khiến đôi khi do mặc cảm tự tôn mà người ta đặt nhu vào vị thế dương, để có thể vẫn coi dương là cao hơn, thì ngược lại, tính tương bình tự nhiên của âm dương chắc cũng ảnh hưởng đến tâm tư khiến họ bớt khinh rẻ nữ tính đi. Trong khi đó, chế độ nghiêng về mẫu hệ lại khiến dù trọng âm dương luận, người ta vẫn nghiêng về âm nhu để phát hiện nguyên tắc “Nhu thắng cương” như trong Lão giáo.

9. Đạo Âm Dương thuộc Hình nhi thượng. Như ở phần cuối tiểu đề trước chúng ta đã xác định, Âm Dương không chỉ là khí âm khí dương, càng không chỉ là đực cái hay nam nữ. Âm Dương đã được siêu hình hóa để thành Lý, tức nguyên lý, và Đạo.

Hơn nữa, cái Đạo và Lý ấy không dừng ở vật chất và sự sống, mà bao trùm hết, tới tận Trời (Kiền) và toàn bộ hiện hữu. Và như thế, con người không tách riêng. Nó thuộc về vũ trụ và nó phản ánh Đạo Trời thành Tính ở lương tri. Nên về phía Trời thì lặng nhìn vô nội tâm, nó hiểu được Thiên mệnh; nhìn ra ngoại thế, nó hiểu mình thuộc hoàn vũ. Do đó mà để khoẻ mạnh, người ta phải sống thuận với môi trường; để bình an và tiến phát, người ta phải quan tâm đến phong thuỷ.

ÂM DƯƠNG VỚI THỰC TẠI VÀ TRƯỚC ỐNG KÍNH KHOA HỌC

Đúng như Blondel thấy, trong đầu ta, các ý tưởng và hình ảnh luôn sắp thành những cặp đối nghịch, như trắng với đen, động với tĩnh, sai với đúng, ác với thiện… Và do đó chúng phân định rõ và loại trừ nhau. Chứ trong thực tế, thì giữa trắng với đen có biết bao trung gian, khiến cái áo này tuy trắng so với cái khăn kia, nhưng lại là đen so với tấm vải khác. Và nếu thiện ác không thể đội trời chung, thì người thiện nhất cũng vẫn sống chung với một vài khuyết điểm, và người ác nhất cũng tiềm tàng một hai cái tốt, khiến chỉ cần “buông đao đồ tể là… thành Phật” ngay. Chính vì thế, người sống lý trí quá sẽ cứng nhắc với các nguyên tắc của mình, trong khi người sống thực tế thì ứng xử mềm dẻo. Người Á Đông thường là loại người sau, bởi Á Đông chính cống thì nhìn bằng trực giác, đánh giá bằng cảm nhận, chứ không mấy trừu tượng. Trực giác, đó là điểm mạnh của ta, nhưng nếu vì thế mà bớt lý tính, kém khách quan, thì đây lại là điểm yếu. Vậy việc phải làm là phát huy sở trường của mình, trong khi vẫn cố học cái tốt của người để bù vào chỗ yếu của ta.

Nếu đi vào vũ trụ siêu vi mô và vĩ mô, thì với khoa học mới nó đang tìm về nguồn gốc cũng như nền tảng của vật chất và sự sống, ta sẽ thấy khá rõ sức ngự trị của âm dương.

Trước hết, thế giới muôn mầu của trái đất chúng ta được kiến thiết trên nền tảng của những phân tử, mà phân tử thì hợp thành bởi nguyên tử, với nguyên tử ấy làm nên do sự bó kết của những électron dấu âm bị hút, với hạt nhân dấu dương hút chúng (sức hút ấy cần đủ để cân bằng với lực ly tâm do sự quay vòng của các electron sinh ra). Riêng hạt nhân thì hợp thành bởi proton dấu dương và neutron trung tính. Có điều dù dương hay trung tính, chúng cũng do quark kết hợp mà thành. Có tất cả 7 loại quark, quark thứ bảy vì mới được khám phá nên tôi chưa có nhiều thông tin về nó. Chứ với sáu quark kia, thì ba quark up, charm và top mang điện tích +2/3, trong khi ba quark down, strange và bottom thì lại mang điện tích –1/3. Chính vì thế, proton do 2 quark up (bốc) kết với 2 quark down (dịu) thành +4/3 sánh với –2/3 nên có dấu dương, còn neutron do 2 quark down kết với một quark up thành –2/3 sánh với +2/3 nên triệt tiêu thành trung tính. Vậy đứng về mặt vật chất với các hạt tử rất nhẹ như electron và rất nặng như quark làm nên hạt nhân, tất cả đều do âm dương thống trị… Riêng lực hay năng lượng thì từ bosons sinh ra. Tất cả có bốn lực: lực điện từ và lực hấp dẫn, lực hạt nhân yếu và lực hạt nhân mạnh. Nay nhiều nhà vật lý muốn quy lực hấp dẫn vào lực điện từ. Nghĩa là, ngoại lực điện từ, chỉ còn lực hạt nhân thôi, nên lực điện từ (đặt nền trên phân cực âm dương) chiếm ít là phân nửa của toàn bộ năng lượng. Lại nữa, mới đây người ta còn khám phá thấy trong chân không có những dao động điện từ15. Dù chân không cũng có năng lượng điện từ, há phải chăng điện từ là năng lượng nền của mọi năng lượng? Nếu đúng thế thì không phải có bốn lực cơ bản, mà cơ bản nhất chỉ có một thôi (như một số nhà khoa học nghĩ, họ muốn quy cả bốn lực vào một), và lực cơ bản duy nhứt này hoạt động bằng đối cực âm dương.

Ngoài ra, ở nền tảng của tất cả, thì nơi mỗi hạt cơ bản nhẹ electron âm có tiềm ẩn một positron dấu dương, và nơi mỗi hạt cơ bản nặng hadron (như proton, neutron, hay cơ bản hơn là quark) luôn tiềm ẩn một antihadron dấu nghịch lại! Để rồi nếu hai bên cùng hiển thị cũng cùng tiêu biến đi luôn. Mà tiêu đây không phải là thành hư vô đâu, bởi vô trung vẫn tiềm hữu khi mà trước đó trong hữu là vật chất cũng tiềm vô nó là phản vật chất. Lại nữa như chúng ta đều biết, trong khối lượng m (làm nên hạt và vật chất) có năng lượng, và trong năng lượng có khối lượng theo công thức E=mc2. Để rồi trước giây phút Bigbang là cái gì đây, là hữu hay là vô, bởi chưa có hạt thì làm sao có chỗ dựa cho năng lượng tồn tại? Mà thế thì Hữu và Vô không phải những ý tưởng rõ ràng chúng loại trừ nhau như phương Tây nghĩ, mà là những siêu thực thể chúng tiềm bên dưới những thực tại muôn màu của thế giới này. phải hiểu như thế, ta mới dễ hiểu Phật, Ấn, Đạo giáo khi họ nói không theo lý cho bằng theo kinh nghiệm (thiêng liêng hay huyền ẩn) về cái thực tại mong manh là Sắc-tướng (nâma-rupa hay danh và hình), và về cái gốc của chúng là Vô, Vô vi…

Cũng như mầu đen thực ra chỉ là không mầu, do ánh sáng bị hút hết nên không phản chiếu, nên không có chi từ đó đến được mắt ta, thì Vô thực ra cũng không là gì, để có thể được biết là gì. Vâng, Vô chỉ là một khái niệm, chỉ có trong đầu của chúng ta thôi.

Cái nền tảng nửa hữu nửa vô như khoa vật lý lượng tử phát hiện có gì đúng như cái mà nhiều nhà âm dương luận gọi là Khí, cái Khí ấy khi chưa hiển thì mông lung như có như không, và để hiển lên thì bắt đầu nó phải thành khí âm khí dương dưới tác động của Lý. Mà ngay cả Lý cũng chẳng thành gì trước khi chưa nương vào Khí để có thể tồn tại và hoạt động. Vậy giữa khối lượng với năng lượng, giữa vật chất với phản vật chất, cũng như giữa Khí và Lý nó làm nên quy luật, luôn phải có sự tương tại mà bổ túc, bù trừ như thuyết âm dương nói lên. Và cũng như thuyết âm dương nói lên, giữa hai bên của những cặp đối nghịch ấy, ranh giới không hề rõ được. Và đây là ở nền tảng thứ nhất của vật chất, của thế giới vật chất này. Và đi với thế giới vật chất này là không gian và thời gian chúng cũng không thể thiếu nhau trong một vũ trụ bốn chiều Không gian – Thời gian của Eisntein, với không gian và thời gian đều không rõ nét, không xác định được như ý tưởng về chúng trong đầu óc của chúng ta. Mọi sự trong thế giới “sắc-tướng” của chúng ta đều diễn ra trong khung phạm trù của không gian và thời gian, nhưng ở bề chìm thuộc địa hạt của khoa vật lý lượng tử, thì cái mà ta gọi bằng tên không gian và thời gian ấy xem như không còn ý nghĩa nữ (bởi lẽ xem như không hiện hữu).16

Từ Bigbang mà hình thành dần, vũ trụ này đã tiến từ khoáng chất sang sự sống, và từ thảo mộc đến con người. Từ thảo mộc qua động vật tới những động vật thượng đẳng, sự phân biệt và đối cực âm dương ngày càng rõ, càng sinh động và sâu xa hơn. Bắt đầu để truyền sinh, sinh vật chỉ cần tự cắt đôi, một vấn đề nhân bản (cloning)17, hoặc tự mình chứa cả hai bộ phận đực cái như một số loài hoa, như cá sar, cá quyết. Thế rồi sự truyền sinh sẽ hóa thành sự hợp tác của hai cá thể riêng biệt, đực cái khác nhau. Ở mức sơ đẳng, có loài dễ đổi thay giới tính như sò lõm, sò dẹp; có loài giới tính chưa rõ khi còn non, khi mới chỉ là ấu trùng, để rồi tuỳ môi trường sống mà chuyển thành đực hay cái. Tiến triển hơn, sinh vật thượng đẳng thành cái hay đực ngay trong bụng mẹ, nghĩa là giới tích được cá thể hóa với chính cá thể đó18. Hơn thế, giới tính không chỉ dừng ở cơ thể, mà còn lan đến toàn con vật, cả trong lẫn ngoài, khiến cho phản ứng của con đực không thể lẫn với của con cái, mà ngay cả tâm lý hay cảm nhận của hai bên cũng vậy. Để rồi về lâu về dài, sự phân cực âm dương tâm lý nói trên sẽ khiến cho hai con đực cái cảm thấy thân quen và cần đến nhau, tới nỗi không thể rời nhau nữa: một thứ hôn nhân tự nhiên, như ở loài ngựa biển và cá bướm19. Sự đối cực âm dương nơi con người càng trở nên sâu xa hơn, khi ở đây tâm hệ (psukhê) đã thành tâm hồn, với sự phân cực được cá thể hóa hoàn hảo, khiến cảm nhận thành tình cảm và tình cảm sâu lên thành tình yêu, nền tảng thứ nhất của một hôn nhân đúng người. Nói “nền tảng thứ nhất” có nghĩa là còn nền tảng thứ hai nữa, và đây là quyết định sống chung, nó đòi hỏi trách nhiệm và tự do.

Sự bù trừ âm dương không dừng ở tình yêu cá nhân, các hiền nhân và triết nhân Á châu còn đưa nó vô đạo thờ Trời, rồi đạo làm người cùng với việc tu thân luyện đức. Và đây là vấn đề dung hòa, bổ túc cho nhau giữa những đức âm và đức dương, chính yếu là giữa đức Nghiêm âm và đức Ái dương, hay giữa Nhân dương và Nghĩa âm. Còn trong cuộc sống xã hội thì bên cạnh luật pháp và hình phạt nghiêm minh, người quân tử còn phải lấy đức mà cảm hóa và lấy lòng nhân mà đối xử với dân chúng.

Sự bù trừ âm dương tiến cả sang địa hạt tôn giáo nữa. Các Thể siêu việt hầu hết được trình bày như nam nhân, và đây là Yêhôvah, là Allah, là Visnu, Siva hay Buddha. Nam tính đã ngự trị, thì do bù trừ, tự nhiên các tín đồ sẽ tạo ra hay tìm đến với thần mẫu, như đức Maria Mẹ Thiên Chúa, như đức Bồ Tát Quán thế âm, Avalokitesvara, ngài đang là nam nhân bên Ấn, đã thành nữ bên Tàu, Việt Nam, để rồi được sùng bái hơn hết thảy. Và cũng thế, trường hợp của nữ thần Durgâ mà lễ hội tháng mười đã trở thành lễ hội lớn nhất của nước Tây trúc (Ấn Độ). Sự bù trừ âm dương còn đạt tới đỉnh cao nhất của sống đạo, nói trắng ra trong huyền nghiệm, như hoàng hậu Mirâ Bâi xưa bên Ấn, mỗi khi gần chông đều lẫn chồng với Thượng Chúa của mình, hoặc như Têrêsa Avila, Têrêsa Lisieux và nhiều nữ thánh khác, họ luôn nghiệm về Đức Giêsu như một tình lang, trong khi mà trước đó các ngôn sứ Israel cũng nói về Dân Chúa như người tình và hiền thê của Yaveh Thiên Chúa.

BIỆN CHỨNG ÂM DƯƠNG TRONG HIỂU ĐẠO VÀ SỐNG ĐẠO

Kitô giáo xem như có gì rất hợp với đạo âm dương. Kitô giáo vốn chống lại những học thuyết mang lý trí với các ý tưởng rõ ràng của nó đặt lên ngai thờ. Cũng chống lại các ý niệm tĩnh và trừu tượng như thế, một người Tây (gốc Do Thái) là Bergson vốn chủ trương Trực giác, để qua trực giác, ông lấy Dịch (devenir), mà ông gọi Trớn sống (Élan vital), làm cái duy nhất có thực. Còn Charles Fourrier, nhờ hiểu thấu Kitô giáo mà không coi những gì đối nghịch có thể chống phá nhau. Vâng, theo triết gia này, hòa điệu của những thái cực (extrêmes) chính là đường đi của Thiên Chúa. Một triết gia khác hơn thế, nghĩ rằng “Kitô giáo là nhất tính của những gì đối nghịch” (Le christianisme, c’est l’unité des contraires). Cũng cùng trong sự thâm hiểu Kitô giáo ấy, Teilhard de Chardin đã nhấn vào sự nội tại của Thiên Chúa giữa lòng sự sống, khi mà vào thời ấy, vì quá đề cao tính siêu việt của Ngài, người ta quên mất rằng Lời Thiên Chúa đã nhập thể. Theo Teilhard, sự nhập thể này, cùng với con người thiêng liêng, đã được Thiên Chúa nhắm ngay ở điểm khởi đầu của tạo thế, điểm 0 của Bigbang theo cách hiểu của vật lý học ngày nay.

Quả đúng là không thể hiểu đủ Kitô giáo nếu không nhìn nó trong đối nghịch bù trừ âm dương. Tôi muốn nói âm dương ở vị trí Hình nhi thượng, tức nguyên lý siêu hình. Và như thế, chúng ta có thể bắt đầu ngay với Thiên Chúa. Chúng ta cứ lo giới tính hóa Thiên Chúa, mà không biết ngay từ đầu chúng ta đã làm vậy rồi. Chúng ta chả gọi Thiên Chúa là Cha, và nhìn Ngài như một nam nhân, một ông lão đấy sao? Bằng chứng rõ nhất là, ở các tiếng Ấn-Âu với danh từ gôm hai giống đực cái, hay ba giống đực, cái và trung tính, từ Hy ngữ Theos, La ngữ Deus, Pháp ngữ Dieu đều giống đực cả. Chỉ có Ấn Độ giáo đặt tuyệt đối thể Brahma của triết học ở giống trung tính, nhưng trong tôn giáo dân gian, thì Brahma trung tính là không được nhắc đến, mà chỉ Barmâ giống đực hay Hóa công mới có mặt bên cạnh các thượng thần nam giới là Visnu và Siva. Trong Kitô giáo, thể theo cách hiểu của con người, Lời nói về Thiên Chúa khi thành người cũng thành người nam luôn. Mà thật ra ngay trong Cựu ước, Yahveh tuy được gọi là Cha, được coi là Hôn phu của Dân Chúa đấy, mà đôi khi cũng được diễn tả trong thái độ và cách nói của người mẹ.

“Ta sẽ cho con bú, sẽ bồng con vào lòng, sẽ đu đưa con trên đầu gối. Như người mẹ nựng con trai mình thế nào, Ta cũng vỗ về con như vậy…” (Is.66.12-13)

Lại theo Evdokimov, sở dĩ trong vĩnh cửu thì Cha sinh Con, mà trên cõi đời, sinh con lại là mẹ, ấy bởi vì người mẹ chính là âm bản (négatif) trong thời gian của Cha trên vĩnh cửu đấy. Thế có nghĩa Chúa Cha chính là Chúa Mẹ. Riêng Thánh Thần thì nay đã được thần học nữ quyền (feminist theology) tái khám phá là từ mẫu rồi. Vâng, Thần khí chính là mẹ khi Ngài sinh ta làm con Cha trong đời sống siêu nhiên: “Thần Khí của Con được sai đến trong lòng ta kêu lên Abba, Cha” (Gal.4.6).

Còn để hiểu Chúa Giêsu, chúng ta luôn phải giữ cân bằng hai vế sử tính và huyền nhiệm, thiên tính và nhân tính; và về mầu nhiệm của Ngài, cả hai mặt một bên là nhập thể, bên kia là thánh giá và phục sinh. Hễ lệch nghiêng bên nào, chẳng những lạc đạo mà còn nguy hiểm cho sống đạo nữa, khiến hoặc không đếm xỉa đến các giá trị tự nhiên và trần thế như vào thời trung cổ, hoặc như ngày nay chỉ quý trọng con người, chỉ muốn xây dựng xã hội thành một thiên đường tại thế thôi…

Với Giáo hội cũng vậy, Giáo hội ấy phải được giữ trong thế cân bằng giữa hai mặt hữu hình và vô hình, đoàn sủng và cơ chế. Công giáo Việt Nam quá nhấn vào tính cơ chế, đến nỗi biến chữ Cộng đồng thành Cộng đoàn và kêu giáo hội địa phương là Giáo đoàn, nghĩa là đoàn thể có tổ chức. Trong khi ấy thì thánh Phalô và Gioan trong Khải huyền lại gọi là giáo hội: “Giáo hội người Thessalonica”, “Giáo hội tại Ephêsô”, “Giáo hội ở Corinthô”, “Bảy giáo hội tại châu Á”, v.v Có nghĩa là chính Giáo hội viết hoa đang hiển hiện tại Corinthô hay Êphêsô, thậm chí tại mỗi gia đình, như có giáo phụ gọi gia đình Kitô giáo là “giáo hội tại gia” (ecelesia domestica). Vâng, Giáo hội của Chúa luôn hiển hiện bất cứ đâu người ta họp lại nhân danh Ngài, dù để cầu nguyện hay sống đạo: “Khi hai ba người họp nhau nhân danh Thầy thì Thầy ở giữa họ” (Mt.18-20)…

Cũng vì còn quá nhấn vào cơ chế, do đó quyền hành, nên tín hữu Việt Nam trở nên thụ động, không tích cực góp sức vào việc tông đồ và truyền giáo như bên Hàn Quốc, cũng chẳng dám có sáng kiến gì như trong lãnh vực phụng tự v.v. Bởi cơ chế đang mạnh, mà đoàn sủng quá yếu, nên giáo quyền cần nhập cuộc để khuyến khích việc Hội nhập văn hóa. Vâng, để khuyến khích hơn là kìm hãm. Và đó là áp dụng nguyên tắc cân bằng âm dương. Và cũng nương theo quy luật âm dương, về phía người dưới, dù thiện chí đến mấy, họ cũng nên dè dặt một tí, bởi nếu đi quá thì “Cùng tắc biến, biến tắc phản…”, giáo quyền vì lo vỡ bờ mà đóng cửa đập lại, và thế là Hội nhập văn hóa cũng sập tiệm mất.

Riêng về sống đạo, tôi đã nói dài dài trong hai tập Thần học thiêng liêng, nhất là ở phần đầu. Dưới đây, tôi chỉ xin lược lại vài ba điểm.

Về cân bằng âm dương, hãy nắm chắc cả hai bên: siêu nhiên và tự nhiên, nhập thế và xuất thế, tự tin và tin vào Chúa, tự trọng và coi mình như đứa bé trước mặt Chúa; thế rồi cầu tiến với bảo cổ, sống đạo tự mình với sống đạo cộng đồng; và sau cùng, cân bằng giữa nhu với cương, nhưng nhu mạnh hơn một tí.

Đối với Thiên Chúa, hãy giữ đúng vị thế chí âm trước Chí dương bằng đức tin theo ý nghĩa Kinh thánh, nghĩa là hạ mình hết mức, quy thuận hoàn toàn. Một cách cụ thể, hãy cụp mắt xuống để thấy Chúa lớn cao vô tận.

Còn về sống đạo, đừng quá lo cầu nguyện mà quên đưa Tin mừng vào cuộc sống. Lại trong cầu nguyện, cũng đừng lẫn cầu nguyện với đọc kinh, dù chúng ta có thể cầu nguyện bằng đọc kinh.

Khi sốt sắng và sùng đạo, người ta dễ coi thường cái gì là tự nhiên, như quan hệ gia đình, tình yêu trai gái, sức khoẻ và sắc đẹp, thông minh và tài giỏi v.v. Nhưng sống đạo đâu phải sống trên mây, mà sống từ chính con người tự nhiên của mình, cùng với khí chất và năng khiếu mà ta không thể thay đổi, nhưng chỉ có thể lèo lái và hướng dẫn để đi hết con đường của ta dưới ánh sáng Phúc âm. Và sống đạo chính là siêu nhiên hóa những quan hệ và tình cảm do tự nhiên mà có đó. Để rồi dù tu hay tục, ta luôn biết lợi dụng tất cả cho con đường đã chọn, đồng thời khiến chúng bổ túc cho nhau vì sự tròn đầy của Huyền thân Chúa. Trước đây bên Tây, người ta trọng tu mà khinh tục, nay thì ngược lại. Tại Việt nam bây giờ, người ta vẫn còn sống như Tây thời trung cổ, để chỉ kính các cha, các nữ tu, và coi nên thánh hay làm tông đồ không phải việc của tục gia. Ta nên nhận định đúng, nên thánh chính là sống thật tốt ơn gọi của mình, dù tu hay tục. Chỉ có điều đi tu thì được huấn luyện kỹ và có nhiều phương thế hơn, thế thôi. lại nữa, để nên thánh, thì dù tu hay tục, ai nấy không chỉ sống vì Chúa, mà vì Chúa và bằng những cách khác nhau, còn phải lo đến vận mệnh quốc gia và thế giới nữa. Ngoài ra, chúng ta cũng đừng nghĩ hễ khiêm nhường và tin tưởng là phải bỏ tự tin và tự trọng, nhưng dung hòa giữa hai đòi hỏi xem như đối nghịch đó. Lại cũng đừng vì nương vào Chúa mà không dám phiêu lưu, táo bạo, mà ngược lại, bởi nương vào sức Chúa nên càng phải lớn mật gấp trăm.

Nói về sùng đạo, thì không thể có sùng nếu không “ướt át” một tí, nhưng ướt mà ướt sũng thì sẽ lệch đạo và khiến trí giả xa đạo. Chả hạn như do đó mà biến đức Maria thành một vị thần bên Chúa dù dưới quyền Thiên Chúa. Cứ ướt đi, nhưng phải lấy cái lý của thần học mà chỉnh hướng cho cơn bốc của con tim. Thế nhưng cũng đừng “lý” quá, vì  lý quá sẽ sấy khô con tim ấy và bơm căng cái Tôi lên.

Sống đạo và sùng đạo tới đỉnh cao nhất của nó sẽ chuyển từ kinh nghiệm thủ đắc sang kinh nghiệm thiên phú, tức trời làm hoàn toàn. Tôi có ý nói đến huyền nghiệm (expérience mystique). Suốt cho đến khi chết năm 1973, Henri Le Saux O.S.B đã cố dung hòa hai huyền nghiệm của ông: huyền nghiệm Advaita (vô phân) của Upanisad và huyền nghiệm Dvaita (hữu phân) của Kitô giao. Thật ra thì Kitô giáo có cả kinh nghiệm Vô phân lẫn Hữu phân, như về Thiên Chúa của thánh Ignace de Loyola, khi thì ngài thấy Thiên Chúa thành ba, khi lại thành một (một Hiện hữu) với biểu tượng là hình cầu trắng hay hình tròn trắng. Còn giữa Chúa với hồn? Thì thánh Augustin đã chẳng gọi “Thiên Chúa sâu hơn chỗ sâu nhất của tôi”, tức “trong tôi” (antara-âtman) nhưng lại “siêu tôi” (parma-âtman), cũng là “cao hơn chỗ cao nhất của tôi” (hữu phân). Còn giữa Thiên Chúa với thụ tạo nói chung? Xin thưa, thử hỏi thánh nào đạt tới cảnh giới Hôn nhân thiêng liêng, mà lại không luôn thất tất cả trong Chúa và Chúa trong tất cả: “Nơi Ngài hết thảy chúng ta hiện hữu và sống động”?

Kitô giáo không chỉ là đạo của từng cá nhân, mà còn là đạo cộng đồng, bởi Giáo hội là huyền thân của Chúa Cứu thế. Và tuy là chi thể Chúa Giêsu, nhưng mỗi chúng ta vẫn là những bản vị bất khả thông, khiến chúng ta không thể sống đạo kiểu bầy đàn như hiện nay tín hữu lắm người đang sống. Chúng ta phải tập sống đạo tự mình và tạo lấy cho mình một chân dung riêng, trong khi vẫn nhớ rằng tất cả chúng ta đều liên đới siêu nhiên với nhau trong Huyền thân của Chúa.

Điều cần thiết nữa là chúng ta hãy dung hòa cầu tiến với bảo cổ. Để hội nhập văn hóa giữa hướng đi toàn cầu hóa nó cũng gần với toàn cầu Âu Mỹ hóa hôm nay, chúng ta cần phải trở về truyền thống văn hóa của mình khi mà truyền thống ấy từ lâu bị bóp nghẹt không thể tiến cho kịp thời đại; do đó một đằng chúng ta phải học lại những hình thức và nền nếp cũ, mặt khác phải đi vào cốt lõi của chúng để có thể đơn giản hóa đi cho hợp với cách sống hôm nay. Thí dụ trong việc bày tỏ niềm cung kính, Công giáo ta từ mấy trăm năm đã theo Công giáo Tây mà quỳ gối thẳng người. Thế mà cúi đầu và cúi mình mới nói lên được tâm tình ấy của chúng ta, như Hàn Quốc và dân Nhật ngày nay vẫn còn làm như vậy. Có điều chúng ta có thể bỏ đi những gì quá cầu kỳ trong vái lạy, như cửu bái và tam quy cửu khẩu.20

Đứng về mặt tư tưởng, dung hòa là cách tốt nhất để làm giàu cho mình. Cũng như một người dù xấu cũng có vài ba điểm tốt, thì một học thuyết dù sai cũng có một số cái đúng, đúng mà có khi lại mới, khiến có thể lấy mang dung hòa với những ý tưởng tuy chắc mà cũ rồi, khiến hai đằng bổ sung cho nhau vì bước tiến của Hội thánh chúng ta. Giống như K.Rahner, vào thời mà Công giáo đang kỵ duy tâm và hiện sinh chủ nghĩa, đã dám lợi dụng học thuyết của Kant và Heidegger để xây cho mình một trường phái hoàn toàn mới: Thần học siêu nghiệm. Hay như Teilhard de Chardin, trong lúc Kitô giáo còn nhiều nghi ngại đối với học thuyết tiến hóa, đã nhờ thuyết tiến hóa mà, qua vật chất và sinh cầu (biosphère), nhìn ra được (tinh) thần cầu (nooshpère), với điểm Omega là Đức Kitô. Đứng về mặt thực hành thì các cần dung hòa nhất là giữa nhu và cương, thường với nhu chiếm ưu thế, đúng với khuynh hướng chung của Á châu vốn hướng về Vô và Vô vi, vốn quen với nguyên tắc “Nhu thắng cương”, như tôi từng đã trình bày trong “Con đường nước” ở Thần học thiêng liêng chương 5. Và đây là việc nương theo xung động (plusion) để sống đạo hơn là đối đầu với nó, y như thuyền buồm nương vào sức gió để đi con đường của mình. Đây cũng là dung hòa giữa các đức cương nhu trong luyện đức tu thân, là sự đối xử và ứng xử bên ngoài khi cương khi nhu chúng phụ trợ cho nhau, như thánh Phan Sinh Salê nói: “Nắm tay sắt trong găng tay nhung”. Xưa nay trong cai trị cũng như trong giáo dục, chúng ta đã quen với phương pháp khoa học từ Tây mang tới nó coi giáo dục giống như sản xuất, nghĩa là bắt tất cả những người thụ giáo vào chung một khuôn cho tiện và để ra lò cho nhiều, cho nhanh. Cách làm ấy không giống với cách làm của Chúa cũng như của Khổng tử xưa, coi con người căn bản khác nhau, nên phải tuỳ người mà áp dụng phương thức cũng khác nhau, nhất là đối với những tâm trí và tâm hồn đặc biệt. Tốt hơn hết, chúng ta nên vừa có khuôn chung cho tập thể, vừa bổ túc nó bằng phương thức tuỳ cho mỗi cá nhân nữa.

Trong cách sống, cách tu luyện và phê phán của mỗi người, thì khuôn là nguyên tắc. Không thể không nguyên tắc, và áp dụng nguyên tắc thì phải chặt. Nhưng “nguyên tắc quá” thì dễ cứng nhắc không thể xoay sở và ứng phó kịp với các hoàn cảnh muôn mặt và đổi thay luôn luôn của cuộc sống. Nên vừa phải có nguyên tắc, vừa phải thoát nguyên tắc khi cần, nhất là trong những trường hợp đặc biệt. Vâng, dù đây là nguyên tắc đạo đức nó hướng dẫn cuộc sống cá nhân, dù đây là nguyên tắc luân lý xoay quanh các vấn đề của xã hội. Vâng, phải chặt trong nguyên tắc (cương), nhưng áp dụng thì đôi lúc phải uyển chuyển.

Mềm dẻo và Tuỳ, đó là cách làm rất Á đông. Một trong những lãnh vực quan trọng phải ứng dụng Tuỳ là thời đại và vùng trời, như Việt Nam chúng ta quen nói: “Đào giang tuỳ khúc, nhập gia tuỳ tục”, “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”. Giáo hội xưa vì đã không đuổi kịp thời đại, nên với đà tiến khoa học, Giáo hội ngày càng tách khỏi thế giới, với vụ án Galillê vào thế kỷ XVII và sự ra đời của thuyết tiến hóa vào thế kỷ XIX. Sự thờ ơ hôm nay đối với khoa học mới, như khoa vật lý lượng tử và khoa sinh học phân tử chúng tìm về nguồn gốc và nền tảng của vật chất và sự sống, sự thờ ơ ấy khiến vì vô tri mà ta cứ bám mãi vào những quan niệm lỗi thời của chúng ta, cả về vật chất, bản thể sự vật, lẫn về không gian, thời gian và bản chất thân xác con người”. Thêm vào đấy, hướng đi bảo thủ, nhất là duy bản chủ nghĩa (fondamentalism) của một số người sẽ càng làm cho thế giới quay lưng lại với chúng ta như trước công đồng Vatican II. May mà những hướng đi này nay chỉ mạnh ở một hai tôn giáo khác thôi. Cách tốt nhất với chúng ta, đó là hãy táo bạo Đón thời chứ không chỉ lúi cúi chạy sau thời. Tôi có ý nói, đi trước thời bằng một tầm nhìn luôn có tính tiên tri, ngôn sứ. Cũng tiên tri, ngôn sứ như Thầy và Chúa của chúng ta, Ngài đã mạnh bạo đưa ra một giáo lý mà người đồng thời nghe Ngài đã không thể hiểu, coi là chói tai!

NHỮNG GÌ TRƯỚC MẮT CẦN HỘI NHẬP

Như tôi đã trình bày trong phần khai lộ, về Văn hóa Việt Nam có quá nhiều cái để nói, và về Hội nhập văn hóa cũng vậy luôn. Nên tôi đã xin phép rút lại, chỉ trình bày một trong những nét tôi cho là tối cơ bản, và đây là cái nhìn biện chứng âm dương trong hiểu và sống đạo. Có điều sang đến phần Hội nhập cụ thể, không thể tôi không nới rộng đôi chút, về những gì, theo tôi nghĩ, trước mắt phải làm ngay, dù có cái không hẳn trong tầm ngắm của nguyên lý âm dương. Bù lại, tôi sẽ cố đưa nguyên lý ấy vô như phương cách thực hiện.

Trước hết về phụng vụ, cần đổi ngay cách tỏ lòng cung kính cho phù hợp với truyền thống Á Đông, đồng thời điều chỉnh phần nào cơ cấu thánh lễ cho hòa nhập nghi thức tế của người Việt, nhất là tế Nam giao.

Để tỏ lòng cung kính, người Á Đông không thể không uốn lưng, khấu đầu, ngược lại với cách bái quỳ ngay lưng và nhìn thẳng vào mắt của người Âu Mỹ. Hằng ngàn năm nay chúng ta quen làm như vậy rồi, nên chỉ làm như vậy, chúng ta mới cảm nhận niềm kính cẩn. Vâng, dù hôm nay tại những nước đã Âu hóa nhiều như Hàn Quốc, Thái Lan, Nhật Bản v.v, người ta vẫn cúi mình sâu như vậy trước người trên, nhất là trước tổ tiên và thần thánh. Tại Việt Nam, các nữ tu cũng dạy các em Mẫu giáo làm thế, nhưng các dì lại không được làm thế khi vô nhà nguyện, nhà thờ.

Những cử điệu khác, cả cách nói nữa, thì chưa ăn sâu đến vậy đâu. Có điều những gì đã lâu đời lặp đi lặp lại cũng dễ kết nối với những tâm tình tương ứng, trừ phi người ta cố ý chỉ dừng lại ở hình thức, như một cử chỉ xã giao thôi. Cho nên đừng theo Tây mà rời bỏ truyền thống, nhưng theo thời mà bớt rườm rà đi. Như thay vì để tang mà mặc áo xô, thì chít khăn xô cũng đủ trong ngày tang, ngày giỗ, còn ngày thường thì cài một miếng băng trắng (thô) là đủ.21

Riêng về thánh lễ, nên soạn lại kinh Tiền tụng theo kiểu Văn chúc, và chỉnh lại đôi chút kinh nguyện Thánh thể, sao cho có hương vị Văn tế ít nhiều. Theo cách làm của nhiều cộng đồng Công giáo bên Ấn, những đoạn kinh thư Ấn đó phù hợp cũng được lấy làm bài đọc; nếu trong thánh lễ thì đây là bài đọc nó dẫn vào Cựu ước, Thánh thư và Phúc âm nhờ đó có một sự liên tục giữa Á Cựu ước và truyền thống thiêng liêng phương Đông với Thánh kinh của Kitô giáo. Thánh lễ nhập thể của chúng tôi cũng làm như thế, và kinh thư được sử dụng là Tứ thư của Khổng giáo, Upanisad của Ấn giáo v.v. Chúng tôi cũng dịch nhiều bài thơ tôn giáo của Tagore và Tukâram để làm Đối xướng sau bài đọc kinh thư phương Đông, và Đối xướng ấy do hai bè nam nữ đối đáp theo cách làm âm dương hòa hợp của lối hát trống quân và quan họ bên Việt Nam, một số lối hát khác của Vân Nam và Lào.22

Về thời gian ngày lễ, Kitô giáo thế giới đã quen sử dụng dương lịch rồi, nên cũng đành theo thôi23. Dương lịch cũng chia 12 tháng, như thể theo mặt trăng, mà chúng ta gọi theo chữ Hán là “nguyệt”, nhưng chẳng còn gì là “nguyệt” cả. thế mà mặt trời thì rõ quá, “sáng sủa và rõ ràng” như những ý tưởng của Descartes vậy, nên chẳng còn gì huyền linh. Cố nhiên tối tăm cũng chẳng có gì tốt, bởi tối tăm gợi cho chúng ta về sự ác và tà quái, về quỷ và ma, khiến màu đen được gọi là hắc, đáng sợ. Chỉ có trăng mới đủ sáng để xua đi bóng tối, nhưng lại chưa đủ sáng để đánh tan huyền ảo và mộng mơ, khiến hợp với tâm trạng của nhà thơ và huyền nghiệm sỹ24. Chính vì thế, thơ và nghệ thuật thích tả trăng, nhiều cuộc cúng tế được tổ chức vào các tuần trăng, và các lễ hội lớn, nhất là bên phương Đông, luôn diễn ra theo âm lịch. Vậy chúng ta nên trở về với âm lịch trong những ngày lễ của riêng Công giáo Việt Nam, nhất là trong cưới hỏi và tang giỗ. Về tang giỗ, Công giáo Việt Nam đã tự động có những hội nhập rất đáng khen. Có điều vì tự động, không nghiên cứu kỹ, nên chúng ta làm và hiểu sai be bét. Chỉ có tang cha mẹ mới ba năm, nhưng ba tính theo người Việt, nghĩa là sang đầu năm thứ ba, thường 27 tháng.25

Nói về tôn giáo, thì có lẽ phương Đông sùng đạo nhất, bởi lẽ người phương Đông nói chung hướng nội. Quả thế, phương Đông chủ trương cân bằng âm dương, nhưng lại nghiêng về âm nhu, do đó sống tình cảm và thấy bằng trực giác, và cũng do đó dễ chủ quan và hướng nội, hướng tĩnh. Trong khi ấy thì người phương Tây hướng động và thấy bằng lý trí nên khách quan hơn, khiến cho về khoa học và khám phá các đỉnh cao, các đại dương thì họ luôn dẫn đầu. Để khai thác điểm mạnh của mình, về mặt tôn giáo ta hãy phát triển cầu nguyện, chiêm niệm, nhất là vào thiền để tâm hồn siêu thoát và định an, nhưng về mặt tông đồ lại phải học hỏi nhiều ở sự hăng say của các nhà truyền giáo Âu Mỹ.

Vì sống tình cảm, người Á Đông rất coi trọng gia đình, thậm chí coi quan hệ gia đình như kiểu mẫu lý tưởng để kiến thiết mọi quan hệ khác ngoài xã hội. Chính vì thế mà khi xưng hô ngoài xã hội, người Việt chúng ta gọi nhau bằng ông, bà, chú bác, cô thím v.v. Thậm chí tại một số giáo phận miền Bắc xưa, người ta tổ chức cuộc sống nhà tu thành những Linh tông và Nhà Đức Chúa Trời, với các cha, các thầy, các cậu và bõ ngãi; trong khi mà ở bên Tây, chỉ có một mình cha sở cô quạnh trong nhà xứ, chứ cha phó cũng thuê nhà bên ngoài, không ở chung. Cuộc sống chung khiến giảm đi nhiều thoải mái đấy, nhưng bù lại có bầu khí gia đình, có mọi người chăm lo lẫn cho nhau, có tiếng cười con nít làm cho lòng già ấm lại, có môi trường đạo đức để ươm trồng ơn gọi và gìn giữ cá nhân trong những phút yếu lòng dễ sa ngã.

Ngày nay, cũng để phát triển ơn gọi và tránh cô đơn, chúng ta nên phần nào trở lại với cách sống đó, miễn là khuôn khổ phải thanh thoáng hơn, và các thiếu niên không tách hẳn như xưa khỏi gia đình, bởi lẽ một giáo dục toàn vẹn đòi hỏi như thế.

Những đoàn thể Công giáo đặc biệt, ngoài chia sẻ trong cầu nguyện, cũng nên có gì chia sẽ trong cuộc sống nữa. Giống như một số cộng đồng cơ sở hiện giờ bên châu Mỹ, châu Âu. Còn gia đình Công giáo thì hãy cố bảo vệ hai nét chính yếu của gia đình Việt Nam là tính truyền thống và tính mở rộng, những cái mà nhà dân tộc học lừng danh, linh mục L.Cadière, đã ca ngợi không tiếc lời. Quả thật, gia đình chính cống Việt Nam không gói gọn ở cha mẹ và một hai đứa con, bởi lẽ còn có ông bà và một hai cô dì góa hoặc độc thân ở chung với, khiến vợ chồng hễ cãi nhau là có người can ngay, không dễ gì ly dị được. Tình gia đình càng sâu và thiêng liêng hơn khi hết thảy tập hợp quanh bàn thờ tổ tiên, khiến ai nấy cảm thấy sự gần gũi và che chở của người thân đã ra đi, và thấy mình có bổn phận giữ gìn gia phong, nền nếp. Vâng, chỉ cần dung hòa tính bền chặt trong quan hệ ấy với sự tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau giữa các thế hệ. Đồng thời dung hoa giữa sống chung và những gì riêng tư của mỗi cá nhân.

 

Chú thích

(1) Tuy Jung không gọi đó là Văn hóa

(2) L’action, P.U.F, Paris 1950 tr.130

(3) Xx. Thực hiện toàn mãn (Sâdhana), An Tiêm tr127.

(4) Xx. Trương Lập Văn, Triết học phương Đông: Khí, NXB Khoa học xã hội (bản dịch Việt ngữ) 2000 tr.104-105; 107-109.

(5) Theo tôi, vì Ái và Nhân có khí vị mềm nên coi là âm mới phải, còn Nghiêm và Nghĩa lại thuộc cương nên không thể không là dương.

(6) Lưu Bái Lâm, Phong Thuỷ, do Đinh Công Kỳ dịch, NXB Đà Nẵng, 2001 tr12-14.

(7) Xx. Trương Lập Văn, Triết học phương Đông: Tâm, NXB Khoa học xã hội 1999 tr.160.

(8) Xx. Trương Lập Văn, Triết học phương Đông: Lý, NXB Khoa học xã hội 1998 tr.135.

(9) Xx. Khí tr.133-149

(10) Idbid tr.197

(11) Thật ra giải thích Trung dung là Justum medium có lẽ hợp hơn với Trình tử và phần đông, nhưng nếu phân tích kỹ câu: “Hỉ nộ ai lạc chi vị phát, vị chi Trung, nghĩa là khi chưa xảy ra biến cố, chưa có phản ứng gì, do đó cũng chưa có thái quá hay bất cập, thì đấy gọi là Trung. Vậy Trung không thể chỉ là tránh thái quá hay bất cập. Điều ấy càng rõ với câu sau đó: Phát nhi giai trúng tiết, vị chi Hòa: biến cố xảy ra rồi mà mừng giận đúng mức cần (đối với biến cố ấy), chẳng cứ mừng giận tới đây, thì đó gọi là Hòa, nghĩa là Đạt đạo (đúng với lẽ tự nhiên). Vậy Trung có gì giống như chữ Indifferentia, Bất thiên, không thiên lệch do tự ái, thành kiến, khuynh hướng bản năng tức khách quan vậy.

(12) Thậm chí Eveline Porée Maspero, trong bài phê bình một cuốn sách của G.Coedès, còn nghĩ rằng ngay chính văn minh Trung Quốc cũng bắt nguồn từ phía Nam (Xx Tạp chí Anthropos số 59 1964).

(13) Quốc triều hình luật, khoản 314, 375, 376, 388. Hồng Đức thiện chính thư, 84.

(14) Quốc triều hình luật, 391 Hồng Đức thiện chính thư, 1, 2, 6, 127, 320.

(15) Science et Vie, Juin 2003: Le vide est plein d’énergies tr.44-63.

(16)  Science et Vie, Janv 2003, tr.34-50.

(17) Chẳng những cây cỏ và một số động vật đơn giản có thể tự nhân bản, mà một số động vật cao hơn, như vài ba loài giáp xác cũng có thể làm như thế.

(18) Nghĩa là nó thành một bất khả phân ly với cá thể, đến nỗi một người nam yêu một người nữ với nữ tính ở con người này, chứ không phải ở bất cứ người đàn bà nào khác.

(19) Xx. Kiến thức ngày nay số 434, tr.96-98.

(20) Con người hôm nay ngại quỳ hai gối và phủ phục, bởi lo dơ và nhăn áo quần. Nên chỉ các đan viện, do khuynh hướng tĩnh lặng, chiêm niệm cao và thời gian không quan trọng mấy, mới có thể đi vào những nghi thức cầu kỳ, giàu tính truyền thống hơn.

(21) Từ lâu nay, các giáo sĩ và tu sĩ Việt Nam, thay vì chít khăn tang, thì lại quàng khăn tang quanh cổ, một cách tân quá vô lý và lạ lùng.

(22) Giáo phụ nhìn nhận rằng, cũng như Cựu ước xưa đối với Do Thái giáo, Thiên Chúa chuẩn bị cho ngoại dân bằng chính triết học của “người Hy Lạp và man di” (Strômatês). Nay thì dù Đức Giáo hoàng cũng chủ trương Thánh Linh có thể hoạt động trong các tôn giáo lớn. Thế thì sao lại không thể coi Thánh kinh của họ như một Á Cựu ước, nó chuẩn bị cho Tân ước? Có điều chỉ có thể chọn đọc (trước kinh thánh của ta) những đoạn nào phù hợp thôi. Và đây là điều mà Công giáo Ấn Độ đã làm từ xa xưa rồi.

(23) Thật ra, thì một số lễ lớn có tên Paskha và Pentêcostê cũng diễn ra theo âm lịch, bởi hướng về hai biến cố Phục sinh và Quang lâm vốn đã xảy ra vào hai ngày lễ Do Thái là Paskha và Penêcostê, cũng ấn định theo âm lịch luôn.

(24) Khiến đen mà vẫn còn sáng thì gọi là Huyền. Mà Huyền cũng là u linh nữa.

(25) Tang cha mẹ gồm giỗ đầu hay Tiểu tường trọn một năm, rồi Đại tường trọn hai năm, nhưng bó tang phục thì hai, ba tháng sau trong nghi lễ gọi là Trừ phục

TƯ TUỞNG XÃ HỘI CỦA ĐỨC BÊNÊĐICTÔ TRONG THÔNG ĐIỆP CARITAS IN VERITATE

TƯ TUỞNG XÃ HỘI CỦA ĐỨC BÊNÊĐICTÔ TRONG THÔNG ĐIỆP CARITAS IN VERITATE

Posted on 08/09/2010 by Xuân Bích Việt Nam
TƯ TUỞNG XÃ HỘI CỦA ĐỨC BÊNÊĐICTÔ
TRONG THÔNG ĐIỆP CARITAS IN VERITATE
 

 Đức Cha Michel Schooyans 

Giáo sư Université Catholique de Louvain
Thành viên sáng lập Hàn Lâm  Viện Giáo Hoàng các khoa học xã hội
Cố vấn Hội Đồng Giáo Hoàng về các gia đình
 

 Thông điệp Caritas in veritate là một trong bộ ba thông điệp mà Đức Bênêđictô XVI đã liên tục hiến tặng cho chúng ta: Deus caritas est năm 2005, Spe salvi năm 2007. Trong ba đại văn bản này, Đức Bênêđictô đã lấy lại mà không bao giờ lập lại một chủ đề chính có nơi các văn kiện trước đó. Ta có thể đúc kết ngắn gọn điều trọng tâm này như sau: Con người chỉ có thể thực hiện trọn vẹn chính mình khi mở lòng ra với Thiên Chúa. Điều này đúng đối với hoạt động cá nhân cũng như các hình thức hoạt động xã hội. Không có Thiên Chúa, con người rơi vào chủ nghĩa tương đối (relativisme) và mất đi cọc tiêu hướng dẫn cần thiết cho hoạt động của mình. Tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa là nguyên tắc cho những mối tiểu tương giao cũng như những quan hệ rộng lớn hơn. Tình yêu phải bén rễ sâu trong chân lý để rực sáng lên: chân lý mà ngọn lửa nhỏ của nó luôn cháy sáng trong lòng mỗi người, chân lý mà Thiên Chúa tặng ban cho con người khi mạc khải chính mình cho họ, khi nói với họ, khi đến để sẻ chia hiện hữu với họ. Trong một nền văn hoá không có chân lý, tình yêu chạm mặt với nguy hiểm chết người: nó có nguy cơ biến thành một vỏ ốc trống rỗng sẵn sàng bị lấp đầy bởi bất cứ thứ gì cũng được. Tình yêu không chân lý dẫn đưa đến khuynh hướng duy cảm (sentimentalisme); chân lý không tình yêu đưa dẫn đến một nền kỹ thuật không có tâm hồn. Đó là điều chính yếu! 

Thông điệp là gì? 

Thông điệp là một thư luân lưu mà Đức Giáo Hoàng gởi cho toàn thể tín hữu và những người thiện chí. Trong thư của mình, các vị giáo hoàng đương đại đã đề cập đến những vấn đề thời sự, chẳng hạn như giáo dục, hôn nhân, phụng vụ, những ý thức hệ hiện đại, etc. Từ thời Đức Lêô XIII (1810-1903), có khoảng hai mươi thông điệp đã đề cập đến những vấn đề xã hội. Cũng  nên đặc biệt lưu ý đến Hiến chế Mục vụ Gaudium et spes, với đề tựa Giáo hội trong thế giới hôm nay, được Công Đồng Vatican II ban hành năm 1965. 

Khi chuẩn bị viết một thông điệp, các giáo hoàng luôn mời các nhà cố vấn theo sự lựa chọn của mình. Có hai cơ quan đặc biệt được mời làm cố vấn cho Đức Giáo Hoàng khi ngài soạn thảo các thông điệp xã hội (tương ứng với các uỷ ban thường trực). Trước hết phải kể đến Hội Đồng Giáo Hoàng Công Lý và Hoà Bình mà cơ cấu đã được chỉnh đốn vào năm 1988, sau đó là Hàn Lâm Viện Giáo Hoàng về các khoa học xã hội, được thành lập vào năm 1994, đứng đầu là bà Mary Ann Glendon, giáo sư Phân khoa Luật của Đại Học Havard. Ngài cũng thường mời các nhà chuyên môn và việc soạn thảo thường kéo dài trong nhiều năm. 

 Tính liên tục 

Như tất cả các thông điệp về xã hội, Caritas in veritate là một tài liệu nằm trong bối cảnh lịch sử của thời đại mình. Đức Bênêđictô XVI muốn nói lên những gì mà Giáo Hội chưa thực hiện được, còn mắc nợ bức thông điệp thời danh Populorum progressio của Đức Phaolô VI viết vào năm 1967. Qua đó, Đức Bênêđictô nói lên tính liên tục của giáo huấn xã hội của Giáo Hội. Phải thường xuyên nhắc lại giáo huấn này bởi vì trong vài năm qua, xã hội loài người đã tiến hoá, toàn cảnh quốc tế đã thay đổi, các phương tiện phân tích trở nên hiệu năng hơn và suy tư thần học cũng tiến triển. 

Cách nào đi nữa, tính liên tục này không phải là sự lập lại. Đức Bênêđictô đã tái kích hoạt ý hướng sâu xa của các vị tiền nhiệm. Chẳng hạn, ngài không lập lại những gì mà các vị tiền nhiệm có thể đã viết về lương bổng lao động, nhưng tra vấn về cách mà vấn đề này đặt ra cho ngày hôm nay. 

Nhận định mới 

Những vấn đề mà các vị giáo hoàng trước kia đề cập đến, ngày nay đòi hỏi một cách nhận định mới. Vài ví dụ đủ để cho thấy những tiếp cận mà Caritas in veritate đã triển khai chung quanh những vấn đề trong các thông điệp trước kia. 

  1. Từ năm 1968, ý thức con người cũng tạm tiến triển để tạo thành một đại cộng đoàn. Sự tuỳ thuộc giữa con người với nhau và giữa các xã hội trở nên chặt chẽ, hiểu biết nhau hơn; nhất là sát cánh bên nhau hơn bao giờ hết. Những cuộc chiến tranh, thảm hoạ thiên nhiên, khủng hoảng tài chính mới đây – chỉ đan cử ra vài ví dụ – cũng đã đưa đến việc phân tích nói lên sự toàn cầu hoá.
  2. Kế đó, Đức Giáo Hoàng giải thích rằng tương quan giữa các Nhà Nước đang biến đổi. Vai trò của các quốc gia đang biến chuyển hướng ngoại (ad extra), nghĩa là trên sân khấu quốc tế, và hướng nội (ad intra) trong mối liên hệ giữa Nhà Nước và xã hội dân sự.
  3. Thông điệp cũng nhận thấy sự tiến hoá của các trung tâm quyết định kinh tế trong đời sống quốc tế và trong đời sống các quốc gia. Vai trò mới này không phải là không ảnh hưởng trên đời sống chính trị.
  4. Từ thời bức thông điệp lừng danh của Đức Phaolô VI, tự do tôn giáo thường bị đàn áp, đôi khi bị nhạo báng. Đức Bênêđictô XVI tái khẳng định rằng con người tự triển nở qua hành vi đức tin, vì rằng mối tương quan liên nhân vị sâu thẳm nhất mà chúng ta có thể tự do kết nối đó là mối tương quan kết nối chúng ta với Chúa. Nơi nào mà sự tự do này bị chèn ép, nơi đó nhân tính có nguy cơ bị suy giảm.
  5. Đức Giáo Hoàng còn đưa ra một cách tiếp cận mới cho quyền được sống (droit de vie), chủ đề thường được Đức Gioan Phaolô II bàn luận. Với những vấn đề được gộp chung lại dưới nhãn hiệu đạo đức sinh học (bioéthique), quyền được sống được bàn thảo như một vấn đề thuộc luân lý xã hội. Nơi nào quyền được sống có vấn đề thì nơi đó cơ cấu gia đình bị lung lay. Và khi gia đình có vấn đề thì xã hội mất đi nền tảng tự nhiên của nó. Do đó, cần phải suy nghĩ sâu hơn về những giới hạn của quyền can thiệp của Nhà Nước, của những tổ chức quốc tế, của các tổ chức phi chính phủ (ONG) trong những vấn đề này. Cần phải hành động khác đi để sự sống được bảo vệ tốt hơn, để bảo vệ quan niệm chết tự nhiên.

Những vấn đề trước kia chưa có 

Thông điệp Caritas in veritate cũng đưa ra những vấn đề mới và dành cho chúng một sự quan tâm đặc biệt. 

  1. Đức Bênêđictô nhận ra sự suy thoái của những ý thức hệ đã từng thống trị suốt thế kỷ XX. Tuy nhiên sự suy thoái này lại nhường chỗ cho một hình thức ý thức hệ mới cất cánh lên mà nguồn gốc của nó bắt nguồn từ chủ nghĩa khoa học thực chứng (scientisme positiviste). Theo chủ nghĩa này, khoa học sẽ trả lời tất cả những vấn đề liên quan đến con người và vận mệnh của mình, cũng vậy, nhiều người ngày nay cho rằng những tiến bộ kỹ thuật nói chung và những kỹ thuật đặc thù cho phép con người giải quyết những vấn đề đặt ra cho mình. Trước hết họ nghĩ đến việc làm chủ sự sống, thuyết ưu sinh, quản lý cái chết, etc.
  2. Ta cũng nghĩ đến những tương quan mới giữa con người với thiên nhiên, nghĩa là môi trường sống. Ta biết rằng trong những cuộc biểu tình đầu tiên, phong trào sinh thái kêu gọi trách nhiệm của mọi người tránh việc phung phí nguyên liệu, thải khí độc hại, diệt chủng các loài vật, etc. Hiện nay, phong trào sinh thái biến chuyển thành hai khuynh hướng. Một đàng, ta thấy có khuynh hướng thừa nhận các nhà nguyên cứu sinh y học (biomédecine) được quyền can thiệp trên con người mà không quan tâm đến các hệ quả ngắn hạn hay dài hạn của những can thiệp này. Đàng khác, khuynh hướng xem con người phải quy phục Mẹ Trái Đất (Terre-Mère), Gaïa[1], xem con người chỉ như một sản phẩm giữa những sản phẩm khác của tiến hoá tự nhiên.
  3. Trong những vấn đề mới mẻ cũng có vấn đề tôn trọng bản sắc văn hoá (identité culturelle) của xã hội loài người. Nơi nhiều quốc gia, bản sắc này thường xuyên bị đe doạ bởi những hậu quả suy đồi nào đó của việc toàn cầu hoá, trong chiều kích chính trị và kinh tế của việc toàn cầu hoá. Sự san bằng văn hoá còn bị thúc đẩy qua việc lạm dụng các kỹ thuật truyền thông. 
  4. Thông điệp còn đề cập đến một vấn đề mà ít có nhà luân lý hay đạo đức sinh học nào chú trọng cho đến hiện nay: vấn đề già nua dân số. Một vấn đề ảnh hưởng đến tất cả các quốc gia Châu Âu, nhưng cũng bắt đầu ảnh hưởng đến các quốc gia khác trên thế giới. Một phần ba các quốc gia, sự sinh sản đã xuống thấp đến mức dân số không đổi mới được nữa.
  5. Trong các doanh nghiệp, thông điệp nhấn mạnh đến việc tìm kiếm ích lợi xã hội phải đi kèm với việc tìm kiếm lợi nhuận. Trao đổi và lợi nhuận, cho dù hợp pháp, cũng không đủ để đáp ứng những đòi hỏi chính đáng của luân lý xã hội. Do đó Đức Giáo Hoàng dài dòng nhấn mạnh đến logique quà tặng (logique du don) trong tương quan xã hội.
  6. Đức Giáo Hoàng cũng lưu tâm đến các xí nghiệp nhỏ hưởng lợi nhờ các khoản tiểu tín dụng. Qua đó ngài khuyến khích nhiều dự án được thực hiện tại các quốc gia đang phát triển, được nhiều nhà kinh tế học có tiếng tăm khuyến khích.
  7. Ngoài những vấn đề trên đây, nhiều vấn đề khác cũng được đề cập đến trong thông điệp. Sự nghèo khổ, thiếu hiểu biết, tham nhũng, bất công, sự xem thường hay lỏng lẻo của luật lệ: không phải tất cả đều không tránh thoát được nếu con người nghiêm túc nhìn nhận trách nhiệm luân lý của mình.

Chọn lựa ngôi sao 

Để con người có thể đối diện với nhiều vấn đề xã hội của ngày hôm nay, Đức Bênêđictô đưa ra một sứ điệp đầy hy vọng. Sứ điệp này có thể được trình bày chi tiết ở một vài điểm cơ bản, những điều khác đã được đề cập đến trong các văn bản khác của ngài. Điều mới mẻ đó là trong Caritas in veritate Đức Bênêđictô XVI quy về những điểm này để phát động giáo huấn xã hội của Giáo Hội. Đức Giáo Hoàng kích động tính giao du xã hội tự nhiên (sociabilité naturelle) của con người. Con người tự nhiên có khuynh hướng nhân ái đối với đồng loại. Xã hội loài người không có tương lai nếu nguyên tắc huynh đệ bị lờ đi hoặc hiểu sai. 

Đức Bênêđictô đã gán cho giáo huấn xã hội của Giáo Hội một quy chế và một chiều kích mà cho đến hiện nay chưa được vén mở. Trước khi kết thúc, tôi muốn giải thích vắn gọn điểm chính yếu này mà thông điệp đã không ít lần nhắc đến. 

Ta hãy lấy lại suy tư ở đầu bài. Nói theo Đức Bênêđictô, con người thực hiện trọn vẹn chính mình khi mở lòng ra với Thiên Chúa. Nhưng phải sống sự cởi mở này như thế nào? 

Như Avital Wohlman[2], giáo sư Đại Học Do Thái Jérusalem, đã nói rằng đối với người Do Thái, con người được cứu thoát nhờ cố gắng tuân giữ Lề Luật. Đối với Đức Giêsu, cũng như lời dạy của Thánh Phaolô trong thư Rôma và Galát, chính Thiên Chúa làm cho chúng ta trở nên người công chính, nghĩa là thánh nhân. Thiên Chúa công chính hoá chúng ta, thánh hoá chúng ta khi tiếp cận chúng ta bằng ân sủng, và Thiên Chúa chờ đợi chúng ta tự do đáp ứng với sự viếng thăm của ngài trong lịch sử chúng ta. Đó cũng chính là những gì mà Thánh Gioan đã viết trong Lời Tựa Tin Mừng của ngài. 

Dầu là ai, Do Thái hay dân ngoại, con người chỉ được công chính hoá do Thiên Chúa. Ngay cả người Do Thái cũng cần Thiên Chúa để thực sự trở nên công chính, để mở ra với sự công chính hoàn toàn, mở ra với sự thánh thiện. Về phần dân ngoại – và tất cả chúng ta đều là dân ngoại một cách nào đó – tình trạng của họ chỉ khác với người Do Thái về một điểm cơ bản: Thiên Chúa mạc khải cho họ sau khi tỏ lộ cho người Do Thái. Tuy nhiên, ngài hiện diện trong lương tâm họ và một vài người đã nhận ra dấu vết của ngài trong thiên nhiên và nơi tha nhân. Thế nhưng, dầu cho đáng khen ngợi, sự kiếm tìm của con người được phó mặc cho sức lực của riêng mình, vì thế nhiều người thất bại. Trong khi Lề Luật được Thiên Chúa ban cho người Do Thái, vậy mà khi đến với họ thì lề luật này chứa đựng lòng sùng kính ngẫu tượng và tính bất luân[3], thì đối với dân ngoại mà Lề Luật và Lời Chúa chỉ mới được trao ban sau này, họ bị phó mặc cho việc tôn sùng các yếu tố thiên nhiên và lòng đam mê xác thịt mà lý trí của họ không thể cản ngăn được. Dân ngoại đã có thể biết điều gì đó về Thiên Chúa nhưng điều này không đủ để ngăn cản họ phạm tội. 

Khi con người từ chối ánh sáng soi chiếu trong tâm hồn họ, có thể nói được rằng ánh sáng này tạo dịp cho Thiên Chúa có thể mạc khải chính mình, thì khi đó họ đã quyết định xa cách Thiên Chúa, họ bị phó mặc cho mọi lỗi lầm đối với chính mình, với tha nhân, với xã hội và với thiên nhiên như Thánh Phaolô đã giải thích (Rm 1). 

Trong những thông điệp trước, các vị Giáo Hoàng đã đề cập đến giáo lý này khi đưa ra những tác hại của việc không nhận biết Chúa, đây là giáo lý rất cơ bản nơi Thánh Phaolô. Caritas in veritate còn đi xa hơn khi cho thấy những tác hại của việc không nhận biết Chúa trong đời sống các xã hội. Thời nào cũng vậy, cũng luôn có những người không cần đến Thiên Chúa. Ngày nay cũng có những xã hội không cần đến Thiên Chúa và khi đó nó phó mình cho đủ mọi thứ cư xử đáng hổ thẹn nhân danh sự phủ nhận Thiên Chúa có phương pháp của nó. Những dân ngoại hôm qua và ngày nay bị phơi bày cho cơn giận của Thiên Chúa[4] vì sự vô đạo và trơ trẽn của họ, như Thánh Phaolô đã nói, Chân lý bị bắt giữ làm tù nhân cho sự bất công và khả năng yêu thương bị chế ngự. 

Trong Caritas in veritate, cũng như trong Hội Nghị Ratisbonne[5] và các tài liệu khác, Đức Bênêđictô muốn cứu thoát lý trí con người và hoà giải lý trí với Lời Mặc Khải. Với Công Đồng Vatican I (1869-1870), Đức Giáo Hoàng nhìn nhận rằng Thiên Chúa có thể được nhận biết qua lý trí con người và phát hiện được qua công trình sáng tạo. Ngài mời gọi con người ngày nay – Do Thái, dân ngoại, Kitô hữu – đừng lún sâu vào những việc tôn thờ ngẫu tượng phi lý thời hiện đại: ví dụ như môi trường thế giới không được nhìn nhận như là quà tặng của Thiên Chúa để con người hiểu biết và hành động có trách nhiệm; hoặc ngẫu tượng mà trong đó con người bị sát hại bởi vì không còn được nhìn nhận như là anh em hay hình ảnh của Thiên Chúa. Đối với Đức Bênêđictô, một xã hội phá bỏ con cái mình (phá thai) là một xã hội phá bỏ tương lai. 

Đức Bênêđictô XVI mời gọi những người Do Thái nhớ lại rằng Lề Luật được trao ban cho Môisen chỉ để cho họ hoán cải, và trong tâm hồn được tinh luyện, họ đón nhận Ngôi Lời hoá thành xác thịt đã được các Ngôn Sứ loan báo và Thánh Gioan Tẩy Giả chỉ cho thấy. Đức Giáo Hoàng mời gọi dân ngoại nhìn nhận rằng một khi ganh ghét Thiên Chúa, hoặc phớt lờ Ngài đi trong lý thuyết hay thực hành, họ bị các ngẫu thần của tính hiện đại và thú vui xác thịt vồ lấy. Trong thế giới đầy biến động, Đức Giáo Hoàng mời gọi Giáo Hội công bố rằng con người đã nhận được trí năng có thể hiểu biết dấu ấn của Thiên Chúa và yêu thương trong chân lý. 

Như vậy thông điệp của Đức Bênêđictô XVI mang đến cho mọi người – Do Thái, dân ngoại, Kitô hữu – là một sứ điệp mang niềm hy vọng lớn lao. Mọi vấn đề xã hội mà chúng ta gặp phải đều giải quyết được nếu con người ngừng hủy hoại lý trí của mình. Đối với nhiều người, sự cứu rỗi cho lý trí này bắt đầu bằng việc đánh thức ngọn lửa lập loè nơi sâu thẳm hồn mình. Với tất cả mọi người, vào một lúc nào đó, sự cứu rỗi tuỳ thuộc vào một quyết định dứt khoát: sự chọn lựa của Hêrôđê hay chọn lựa của các Đạo Sĩ Phương Đông. Các bạn thân mến, như các hiền sĩ thời xưa, chúng ta có thể lựa chọn đúng và đi theo ánh sao dẫn đến Bêlem! 

chuyển ngữ
Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính 

(trích “Bản Thông Tin” Giáo phận Qui Nhơn, số tháng 8/2010) 


[1] “Giả thuyết Gaïa” do nhà sinh thái học người Anh James Lovelock đề xướng trong tác phẩm «Gaia: A New Look at Life on Earth», cho rằng Trái đất phải được xem như là một đại cơ thể (macro-organisme individuel). Trái đất là « một hệ thống sinh lý năng động (physiologique dynamique) bao gồm sinh quyển và nó duy trì cho hành tinh chúng ta được hài hoà với sự sống từ hơn ba tỷ năm nay”. Như vậy, toàn thể sinh vật sống trên Trái đất như một cơ thể vĩ đại (được gọi là Gaïa, theo tên một vị nữ thần trong thần thoại Hy Lạp tượng trưng cho Trái đất), và chúng đã cùng nhau phát triển khả năng điều chỉnh môi trường toàn cầu để duy trì sự sống. (người dịch

[2] Avital Wohlman, Thomas d’Aquin et Maimonide. Un dialogue exemplaire, Paris, Cerf, 1988 

[3] Xem Mc 10, 2-12 

[4] Rm 1,17 tt; cũng xem chương 3 và chương 8, 1 tt 

[5] Có thể xem bản văn của Hội Nghị Ratisbonne (gặp gỡ với các đại diện giới khoa học tại Đại Học Ratisbonne) ngày 12 tháng 9 năm 2006 trong Documentation catholique, số 2366, ngày 15 tháng 10 năm 2006, tr. 924-929. 

Đối Thoại và rao truyền

 

Hội Đồng Giáo Hoàng về Đối Thoại Liên Tôn

Thánh Bộ Truyền Bá  Phúc âm  Cho Các Dân tộc

Đối Thoại

rao truyền

 

Bulletin Nr. 77 (1991) du C.P.D.Ị

Cité du Vatican 

 

Bản dịch:Nguyễn Đăng Trúc

Đọc lại: Linh mục Đamianô Trần Minh Công  O.Cist

Linh mục Vincentê Lê Phú Hải  O.M.Ị

                Đổ Văn Bùi

Kỹ thuật trình bày:Phan Đức Thông Lê Văn Yên

Định Hướng xuất bản với sự tài trợ của

Fondation “Nostra Aetate”

Hội Đồng Giáo Hoàng Đặc Trách Đối Thoại Liên Tôn

In lần thứ nhất năm 1998

Copyright @ 1998 by Định hướng tùng thư

ISBN – 2 – 912 554 – 04 – 7

  

 

Đối thoại và Rao truyền

Hai khía cạnh của sứ mệnh

truyền bá Phúc âm của Giáo hội

Hồng y Arinze

Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng

về Đối thoại Liên tôn

            1- Cùng với Đức Hồng y Tomko, hôm nay tôi hân hnh trình bày tài liệu: Đối thoại và Rao truyền. Sự kiện cả hai chúng tôi đã có mặt trong dịp nầy nhằm nhấn mạnh rằng tài liệu nầy là kết quả của một việc làm do Hội đồng Giáo hoàng về Đối thoại Liên tôn và Thánh bộ Truyền bá Phúc âm cho các dân tộc cùng nhau thực hiện.

            2- Tài liệu nầy được chuẩn bị từ năm 1986. Trong tiến trình thực hiện, nó đã được trình lên cho hai Đại hội của Hội đồng chúng tôi nghiên cứu (1987, 1990). Vào thời gian giữa hai phiên họp ấy, tài liệu đã được gửi đến các Hội đồng Giám mục trên khắp thế giới. Như thế, nó đã ghi nhận được những nhận xét của các Hội đồng liên lệ.

            3- Vào đầu năm nay (1991), khi Đức Thánh Cha đã ban hành Thông điệp của Ngài “Redemptoris Missio” cho Giáo hội, trong đó vấn đề đối thoại liên tôn đã được đề cập, người ta tự hỏi rằng một là tài liệu khác nữa thật sự còn cần thiết hay không. Đức Hồng y Tomko sẽ nói nhiều hơn về những mối liên hệ với bức Thông điệp. Phần tôi, tôi chỉ muốn nêu lên rằng chúng tôi đã tin tài liệu nầy còn hữu ích vì nó bàn rộng hơn về một vấn đề quan trọng: Làm thế nào có thể phối trí đối thoại liên tôn với công cuộc rao truyền Phúc âm nhằm mời gọi người ta đón nhận và trở nên phần tử của Giáo hội qua bí tích rửa tội?

            4- Năm 1984, Hội đồng chúng tôi đã từng công bố một tài liệu có tựa là Thái độ của Giáo hội đối với các tín đồ các tôn giáo khác; tài liệu ấy đã nói rất rõ rằng đối thoại là một phần trong sứ mệnh truyền bá Phúc âm của Giáo hội. Nhưng thắc mắc vẫn còn: nếu Giáo hội dấn thân vào việc đối thoại, phải chăng điều đó có nghĩa là Giáo hội từ chối việc tuyên dương ơn cứu độ nơi Đức Giêsu Kitô. Hoặc nói ngược lại, nếu Giáo hội dấn thân rao giảng Đức Giêsu Kitô và kêu gọi người ta tin vào Ngài và gia nhập vào Giáo hội  bằng bí tích rửa tội, phải chăng sự kiện đó có nghĩa rằng đối thoại không còn giá trị gì nữa? Hai công việc có đối kháng nhau không? Có tiêu trừ nhau không? Có mối tương quan nào giữa hai sự việc? Đó là vấn đề nền tảng mà tài liệu nầy muốn khai triển.

            5- Sau phần dẫn nhập (1-13), trong đó các từ ngữ được minh định, thì phần thứ nhất sẽ khai triển về đối thoại liên tôn. Phần nầy phác họa thái độ của Giáo hội đối với các tôn giáo khác, và cho thấy rằng Công đồng Vaticanô II đã nhìn nhận sự hiện diện của các giá trị tích cực, không những trong đời sống tôn giáo có tính cách cá nhân của các tín đồ, mà ngay trong các truyền thống của họ (14-32). Đây là dữ kiện xây dựng nên nền tảng  chắc chắn cho việc đối thoại. Tiếp đó, phần nầy của tài liệu giải thích tiến trình của Giáo hội, luôn đang trên đường lữ hành và hướng về sự toàn mãn của chân lý từ Thiên Chúa, cần đi vào cuộc đối thoại về sự cứu độ với các tín đồ các tôn giáo khác (31-41). Cuối cùng là việc trình bày các hình thức đối thoại, những chiều hướng thuận lợi và những trở ngi gặp phải (42-54). Phần nầy chấm dứt với một xác quyết mạnh mẽ: “Mặc dù có những khó khăn, sự dấn thân của Giáo hội vào việc đối thoại vẫn kiên quyết và không lùi bước” (54).

            6- Phần hai nhắc lại ý thức của Giáo hội về sự cần thiết phải rao truyền Đức Giêsu Kitô cho thế giới. Giáo hội đã nhận sứ mệnh nầy từ chính Chúa Giêsu Kitô, và chu toàn với sức mạnh của Chúa Thánh Thần (55-67). Một vài chỉ dẫn được nêu lên về phương cách thực hiện sứ mệnh nầy và những trở ngi gặp phải (68-77). Phần nầy chấm dứt với lời tuyên bố: “Cao rao danh Đức Kitô và mời gọi con người trở thành môn đệ của Ngài trong Giáo hội là một bổn phận quan trọng và thiêng liêng nữa, mà Giáo hội không thể nào trễ nải” (76). Như Đức Giáo hoàng Phaolô II đã nói trong Evangelii Nuntiandi, rao truyền là đỉnh cao của sức mạnh truyền bá Phúc âm của Giáo hội (xem số 27). Và Đức Thánh Cha, trong thông điệp Redemptoris Missio, quả quyết rằng: “Rao truyền mãi mãi là ưu tiên trong sứ mệnh (của Giáo hội)” (44).

            7- Phần ba suy tư về tương quan giữa rao truyền và đối thoại. Ta thấy chúng liên hệ với nhau, nhưng không thay thế cho nhau được. Chúng cấu to nên một sự dấn thân song đôi của Giáo hội. Tuy vậy, vào những thời điểm khác nhau hoặc những hoàn cảnh khác nhau, người ta có thể nhấn mạnh nhiều hơn về một trong hai yếu tố so với yếu tố kia. Do đó, với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, luôn cần phải cân nhắc thấu đáo.

            8- Kết luận (87-89) lưu ý về những giới hn của tài liệu nầy. Khó tránh khỏi lối trình bày có tính cách tổng quát. Nhưng có những sự khác biệt quan trọng giữa các tôn giáo, giữa những truyền thống tôn giáo dị biệt. Nên cần phải cứu xét thật kỹ những phương thức có thể áp dụng các nguyên tắc tổng quát nêu lên trong tài liệu nầy cho các mối liên lạc với các tín đồ Phật giáo chẳng hn, hoặc với các người Hồi giáo. Một việc làm như thế hẳn nhiên ở ngoài tầm của tài liệu hiện nay, tuy vậy hy vọng rằng các việc nghiên cứu như thế sẽ được thực hiện.

            9- Trong thế giới hôm nay, với nét đặc trưng của tình trạng đa nguyên. Kitô hữu bất kỳ ở đâu cũng tiếp xúc ngày càng nhiều hơn với các tín đồ các truyền thống tôn giáo khác. Đối thoại tôn giáo không giới hn ở một vài vùng trên thế giới, Phi châu, Á châu. Ngoài ra việc rao giảng cũng phải hiểu như thế. Cả hai sinh hoạt nầy đều thuộc vào sứ mng truyền bá Phúc âm của Giáo hội nói với toàn thế giới. Một quan niệm rõ rệt và một xác tín vững chắc về bản tính sứ mệnh phổ quát mà Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta đã trao cho Giáo hội Ngài, cũng như về tác động của Chúa Thánh Thần trong tâm hồn mọi người và trong các truyền thống tôn giáo họ, quan niệm và xác tín đó cần thiết để Kitô hữu có được một thái độ chính đáng đối với những tín đồ các tôn giáo khác.

(Cuộc họp báo ngày 20 tháng 6 năm 1991)


 

Đối thoại và rao truyền:

Mối liên hệ với Thông điệp “Redemptoris Missio”

 

Hồng y Tomko

Tổng trưởng Thánh bộ Truyền bá Phúc âm

cho các Dân tộc

 

            Tài liệu Đối thoại và Rao truyền được hai cơ quan của Giáo triều Rôma, Hội đồng Giáo hoàng về Đối thoại liên tôn và Thánh bộ Truyền bá Phúc âm cho các Dân tộc, công bố. Việc cùng chung thực hiện đó có ý nghĩa: nó diễn tả một cách nổi bật sự hợp tác của đôi bên vì tài liệu nầy  được gửi đến một quần chúng mà cả hai cơ quan đều đặc trách, quần chúng đó là Giáo hội, đặc biệt trong các xứ mà đa số không phải là Kitô giáo.

Những lý do của một tài liệu nói về hai đề tài:

Đối thoại và Rao truyền

            Nó được công bố năm tháng sau ngày Đức Gioan Phaolô II ban hành Thông điệp Redemptoris Missio, ngày 22.1.1991. Tài liệu chỉ nêu lên Thông điệp Redemptoris Missio một lần để qui chiếu (ở số 4C), trong lúc ấy nó trích dẫn rất nhiều các tài liệu của Công đồng Vaticanô II và Tông huấn Evangelii Nuntiandi của Đức Phaolô IỊ Đây không phải là có những khác biệt về nội dung. Nhưng chỉ vì bản văn của chúng tôi thực sự đã sẵn sàng đúng vào lúc Thông điệp được ban hành.

            Từ nhiều năm trước đây, Văn phòng đặc trách những người không phải là Kitô giáo (nay là Hội đồng về đối thoại liên tôn) đã nhận thấy rằng cần phải đào sâu hai khía cạnh nầy, vì chính các nhà truyền giáo đã thắc mắc, và một số đã chọn đường hướng một chiều, như tài liệu từng nói đến (xem số 4). Thông điệp Redemptoris Missio đã nêu lên các đề tài nầy một cách cô động ở đầu chương I: “Tuy thế, vì có những đổi thay của Thời tân kỳ hiện nay và vì có việc phổ biến các quan điểm thần học mới, một số người tự hỏi: Việc truyền bá Tin-mừng cho người không phải là Kitô giáo có còn hiện hành không? Không phải là nó được thay bởi công cuộc đối thoại liên tôn hay sao? Nỗ lực thăng tiến con người không phải là một mục tiêu đầy đủ rồi hay sao? Sự tôn trọng lương tâm và tự do không phải đẩy lui những hình thức đề nghị cho người ta trở lại hay sao? Người ta không thực hiện được sự cứu độ trong bất cứ tôn giáo nào hay sao? Vậy tại sao phải truyền bá Tin-mừng?”. Tài liệu của chúng tôi một mặt có nói đến thái độ ngi ngùng liên quan đến đối thoại, và mặt khác cũng nói đến một số tâm trạng hoài nghi về sự cần thiết phải rao truyền.

            Cả hai tài liệu, theo cách của mình, đều trả lời những câu chất vấn nầy: Thông điệp thì khai triển chính các nền tảng của sứ mệnh truyền bá Phúc âm trong ba chương đầu, còn tài liệu Đối thoại và Rao truyền thì dừng lại ở việc trình bày giá trị tích cực của các tôn giáo, tương quan giữa các tôn giáo với Giáo hội và vai trò Giáo hội đối với các tôn giáo (xem 14-41).

 

 

Hai tài liệu khác nhau và bổ túc cho nhau

 

            Đây là hai tài liệu khác nhau do từ thẩm quyền tác giả các bản văn, cũng như do lối trình bày, tầm rộng lớn của nội dung, nhưng chúng giống nhau ở nguồn cảm hứng và phương cách đặc loại trong việc đề cập vấn đề song đôi đối thoại và rao truyền.

            Thông điệp là lối diễn tả do quyền giáo huấn của Giáo hoàng, nên có được sự tự do sáng tác dành cho vị Chủ chăn tối thượng. Nó bao hàm tất cả các đề tài về sứ mệnh truyền bá Tin-mừng, với một lối viết độc đáo, một cách nào đó có thể nói là thoải mái, sinh động. Nó được công bố do quyền hành bởi chức năng của Phêrô cho toàn Giáo hội.

            Tài liệu Đối thoại và Rao truyền là một tài liệu do các cơ quan của Giáo triều Rôma son sau khi dò hỏi ý kiến một cách rộng rãi. Nó có mục đích giải thích và hướng dẫn mục vụ, và “đặc biệt gửi đến những ai có một vai trò hướng dẫn trong cộng đồng hoặc dấn thân vào việc đào to” (số 7). Lối trình bày có tính cách trường ốc và sử dụng nhiều các bản văn của Công đồng  và của các giáo hoàng. Nó nhấn mạnh và chỉ khai triển hai khía cạnh của sứ mệnh truyền bá Phúc âm thôi, đó là Đối thoại và Rao truyền. Tài liệu nầy, trong phần giải thích dường như đề cập nhiều và có hệ thống về giá trị tích cực của các tôn giáo (xem 14-41). Thông điệp Redemptoris Missio cũng đề cập đến đề tài nầy, nhưng trong một bối cảnh bao quát hơn (xem RM 5-11, 28-29, 45-46, 55…).

            Tuy nhiên, Đối thoại và Rao truyền có nhiều phần hữu ích mà Thông điệp không đề cập đến: về vai trò các tôn giáo không phải là Kitô giáo (14-41), về giá trị thần học của Rao truyền (55-71); (hơn nữa) việc phân tích một cách thực tế về các thuận lợi và trở ngi cho việc đối thoại và rao truyền đáng được lưu ý (47-54; 72-74, .v.v…).

Đối thoại và Rao truyền, hai hình thức chân thực

và cần thiết cho sứ mệnh của Giáo hội

 

            Rao truyền Phúc âm là một thực tại đơn nhất nhưng phức hợp. Nó gồm việc chứng tá cá nhân, đối thoại, nỗ lực thăng tiến con người, hội nhập văn hoá, nhưng nhất là rao truyền; tiếp theo là việc xây dựng các cộng đồng Giáo hội.

            Tài liệu nầy tập chú vào hai hình thức sinh hoạt của sứ mệnh truyền giáo, trong khi đó Thông điệp, trong chương V nói về các con đường truyền giáo đã đề cập đến chín hình thức, không khử trừ nhau, nhưng “có một tầm quan trọng đặc biệt trong hoàn cảnh hiện nay của Giáo hội và của thế giới” (RM 41); trong số các con đường đó, đáng lưu ý là việc rao truyền và đối thoại, hai hình thức làm đối tượng đặc biệt cho tài liệu nầy.. Nhưng nội dung của chúng thật sự là gì? Tài liệu Đối thoại và Rao truyền minh định kỹ lưỡng các từ ngữ nầy (xem 8-12). Đối thoại có thể được hiểu bằng nhiều cách: như là truyền thông giữa đôi bên, như là một thái độ kính trọng thân thiện, như là toàn bộ các mối tương quan liên tôn (xem 9). Thông điệp thì ngầm hiểu các định nghĩa nầy (xem RM 55) và từ đó nêu lên nhiều hình thức và cách diễn tả (xem RM 57), mà bản văn của chúng tôi trình bày kỹ lưỡng hơn (xem 42).

            Công việc nầy cũng được thực hiện cho nội dung chữ Rao truyền, tức là chuyển đạt sứ điệp Phúc âm, nhưng được mô tả kỹ lưỡng trong tài liệu (xem 10, 60-76), trong khi đó Thông điệp chỉ nhắc lại một cách ngắn gọn sự ưu tiên trường kỳ của việc rao truyền, nội dung và các mục đích của nó (xem RM 44-48).

            Hai sinh hoạt nầy được nhìn nhận như là những cách biểu lộ chân thật của một sứ mệnh truyền giáo duy nhất nơi Giáo hội đối với các dân tộc và mọi người. Đối thoại và Rao truyền quả quyết rằng: “rao truyền và đối thoại, mỗi sinh hoạt theo cương vị của mình, được xem là những thành tố cấu to và những hình thức chân thật của một sứ mệnh duy nhất về truyền bá Phúc âm nơi Giáo hội. Cả hai hướng về việc truyền đạt chân lý cứu độ” (2).

            Redemptoris Missio nhấn mạnh đến ý niệm nầy với lối nói riêng của nó: “Dưới ánh sáng chương trình cứu độ, Giáo hội thấy không có sự mâu thuẫn giữa loan truyền Đức Kitô và đối thoại liên tôn, nhưng cần thiết phải phối kết chúng trong khuôn khổ sứ mệnh truyền giáo cho các dân tộc. Thật vậy, hai yếu tố nầy phải luôn liên kết với nhau một cách mật thiết và đồng thời lại khác nhau, nên đừng lẫn lộn, khai thác và xem chúng như những sinh hoạt tương đương làm như có thể thay thế nhau được” (RM 55).

            Hai sinh hoạt đều cần thiết và khẩn trương bởi vì thế giới cần. Nên lưu ý rằng hai phần ba (2/3) dân số thế giới chưa biết đến Đức Giêsu Kitô và đa số thuộc về các tôn giáo không phải là Kitô giáo.

Rao truyền là ưu tiên

            Thông điệp cũng như tài liệu Đối thoại và Rao truyền nhắc lại sự dị biệt của sinh hoạt song đôi nầy. Rao truyền ưu tiên trên tất cả mọi hình thức sinh hoạt khác của Giáo hội, trong lúc đó đối thoại là một trong những yếu tố làm nên toàn bộ (9). Rao truyền ưu tiên vì đây là “nền tảng, trung tâm và chóp đỉnh” sứ mệnh truyền bá Phúc âm, như Tông huấn Evangelii Nuntiandi nhấn mạnh (EN 27; xem RM 44, Đối thoại và Rao truyền DA 75). Thông điệp đặt nổi việc ưu tiên thường trực của việc rao truyền trong công cuộc truyền giáo: “Mọi hình thức của sinh hoạt truyền giáo hướng đến việc tuyên xưng vừa nói lên, vừa đưa vào mầu nhiệm ẩn dấu từ bao thế kỷ đã được khai mở trong Đức Kitô, mầu nhiệm đó là phần cốt lõi của sứ mệnh của cuộc sống Giáo hội, và là trụ cột cho tất cả công việc truyền bá Phúc âm… Chương trình cứu độ qui về Đức Kitô thế nào, thì sinh hoạt truyền giáo hướng về việc tuyên xưng mầu nhiệm của Ngài như thế” (RM 44; xem 20, 34, 40, 55, 58, 59. v.v…).

            Sự ưu tiên của việc rao truyền phát xuất từ lời dạy của Đức Kitô về sứ mệnh truyền giáo, từ bản chất của sứ mệnh nầy của Giáo hội và từ quyền của tất cả mọi người đòi hỏi được biết đến những gì mà tình yêu Thiên Chúa dành cho họ (xem RM 8, 11, 39, 40, 46…).

            Điều ấy hàm ngụ và đòi hỏi rằng Giáo hội có quyền và có tự do đề nghị sứ điệp nầy. Và (cũng hàm ngụ) sự tự do chọn lựa của các cá nhân và của các dân tộc – sự tự do như thế được nhấn mạnh trong cả hai tài liệu (xem RM 7, 8, 11, 35, 39, 46, 47; DA 9, 69, 70), cũng như việc thẩm định và cổ suý các giá trị (xem RM 10, 20, 28, 39, 45, 46, 53, 56; DA 68-71).

            “Giáo hội nói với con người trong sự tôn trọng hoàn toàn tự do của họ: việc truyền giáo không hn chế tự do, nhưng đề cao tự do. Giáo hội đề nghị, chứ không áp đặt gì cả: Giáo hội tôn trọng con người và các nền văn hoá, và dừng lại trước bàn thờ của lương tâm” (RM 29).

 

 

Đối thoại, một yếu tố trong toàn bộ sứ mệnh của Giáo hội

            Với những yêu sách và dưới nhiều hình thức, đối thoại phát sinh từ sự tôn trọng con người, và từ xác tín rằng Đức Kitô yêu thương con người đến độ ban mng sống mình cho họ, cũng như từ xác tín rằng Thánh Thần tác động trong họ. Thông điệp RM nói rõ về điểm nầy: “Đối thoại không phải là một hậu quả của một chiến lược hoặc của một lợi ích nào, nhưng đó là một sinh hoạt có những lý do thúc đẩy, những yêu sách và phẩm cách riêng của nó: nó được hướng dẫn bởi sự tôn trọng sâu xa cần phải có đối với tất cả những gì Thánh Thần, “Đấng thổi ở đâu tuỳ ý Ngài”, đã tác động trong con người. Nhờ đối thoại, Giáo hội nhằm khám phá “những hạt giống của Ngôi Lời”, “những tia chân lý soi dọi mọi người”, những hạt giống và những tia chân lý ấy được tìm thấy trong những con người và trong các truyền thống tôn giáo nhân loại. Đối thoại xây dựng trên hy vọng và bác ái, và sẽ mang lại những hoa trái trong Thánh Thần. Các tôn giáo khác to nên một thách đố tích cực cho Giáo hội hôm nay; thật thế, các tôn giáo thúc đẩy Giáo hội khám khá và nhìn nhận những dấu chỉ về sự hiện diện của Đức Kitô và về tác động của Thánh Thần, đồng thời (thúc đẩy Giáo hội) hiểu một cách sâu xa hơn thân thế của mình và làm chứng về sự nguyên vẹn của Mạc khải được ủy thác cho mình vì lợi ích của mọi người”

            Đối thoại là một yếu tố trong toàn bộ sứ mệnh của Giáo hội, theo nghĩa là mọi sinh hoạt truyền giáo đều được thực hiện trong sự tôn trọng những con người, và các nền văn hoá, và đối thoại có thể to thành một sinh hoạt đặc loại, cả trong trường hợp rao truyền có thể thực hiện và bó buộc phải làm, cũng như trong trường hợp và vào lúc rao truyền không thể thực hiện được. Đức Giáo hoàng nêu lên trường hợp cuối cùng nầy như sau:

            “Tôi biết nhiều vị truyền giáo và cộng đoàn Kitô hữu, gặp nhiều khó khăn và thường không được thông cảm khi làm chứng một cách chân thành cho Đức Kitô và phục vụ con người một cách đi độ qua con đường đối thoại; tôi mong ước khích lệ họ kiên trì với lòng tin và tình yêu thương, ngay cả lúc nỗ lực của họ không được lưu ý hay đáp trả. Đối thoại là một con đường dẫn đến Nước Chúa và chắc chắn sẽ gặt hái những hoa trái của nó, mặc dù thời nào, lúc nào thì đó là do Chúa Cha định liệu” (RM 57; xem DA 69).

Các mối tương quan giữa rao truyền và đối thoại

            Tài liệu Đối thoại và Rao truyền, trong phần ba (các số 77-86) muốn nêu rõ những tương quan đối thoại và rao truyền, “hai yếu tố chân thực của sứ mệnh truyền giáo… liên hệ mật thiết với nhau” (xem 77). Trong thực tế, việc thi hành các sinh hoạt nầy tuỳ thuộc vào những hoàn cảnh (xem 78, 81, 82) và đòi hỏi phải có một cái nhìn đúng về các mối tương quan của chúng; hơn thế nữa nó còn đòi hỏi những cách cư xử và một cuộc sống siêu nhiên biết lưu ý và vâng theo tác động của Thánh Thần (xem 78, 80, 81, 84) theo gương Đức Giêsu (xem 85-86). Cả hai sinh hoạt đều dẫn về chân lý (xem 2), và về việc làm chứng tá (xem 82; RM 42-43); cả hai là thành phần của cuộc đối thoại đem lại ơn cứu độ mà Thiên Chúa đã bắt đầu (xem 80).

            Thách đố lớn cho Kitô hữu là sống đức tin của mình và làm chứng về đức tin đó một cách chân thực, một cách can cường và với tâm tình tôn trọng, trong một thế giới đa nguyên (xem 4), một thế giới mà đa số không biết đến Đức Kitô, Sứ điệp vui mừng của Ngài và nếp sống mới mà Ngài đã mang lại.

            Ngày cầu nguyện ở Assisi, 27.10.1986, cống hiến một tấm gương tiêu biểu cho những xác tín và thái độ nầy (xem 5; RM 29)

(Cuộc họp báo ngày 20 tháng 6 năm 1991)

  

 

Đối thoại và Rao truyền

Những suy tư và những chỉ dẫn liên quan

đến Đối thoại Liên tôn và Rao truyền Phúc âm

 

 

Dẫn nhập

 

25 năm sau tuyên ngôn “Nostra Aetate”

            1- Cách đây 25 năm, tuyên ngôn của Công đồng Vaticanô II về các mối liên lạc của Giáo hội với các tôn giáo khác, Nostra Aetate, được tuyên bố. Tài liệu đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của đối thoại liên tôn. Đồng thời, nó nhắc lại bổn phận của Giáo hội không ngừng rao truyền Đức Kitô, là Đường, Chân lý và Sự sống, trong Ngài con người gặp được sự toàn mãn của mình (xem NA 2).

Một tài liệu Đối thoại và Sứ mệnh truyền bá Phúc âm

            2- Để cổ võ cho công việc đối thoại, Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã thành lập Văn phòng đặc trách những người không phải là Kitô giáo, nay được gọi là Hội đồng Giáo hoàng đặc trách Đối thoại Liên tôn. Sau đại hội năm 1984, Văn phòng đã công bố một tài liệu có tựa đề: Thái độ của Giáo hội đối với những tín đồ các tôn giáo khác: những suy tư và những chỉ dẫn liên quan đến đối thoại và sứ mệnh truyền bá Phúc âm. Tài liệu nầy tuyên bố rằng sứ mệnh truyền bá Phúc âm của Giáo hội là “một thực tại duy nhất nhưng phức hợp và nối kết”. Nó nêu lên những yếu tố chính của sứ mệnh nầy: hiện diện và làm chứng; dấn thân thăng tiến xã hội và giải phóng con người; đời sống phụng vụ, cầu nguyện và chiêm ngắm; đối thoại liên tôn; và cuối cùng là rao truyền và dạy giáo lý. Rao truyền và Đối thoại, mỗi sinh hoạt theo vị trí của mình, đều được xem là những thành tố cấu to và là những hình thức chân thực nơi sứ mệnh duy nhất về truyền bá Phúc âm của Giáo hội. Cả hai sinh hoạt đều hướng về việc thông đạt chân lý cứu độ.

được tiếp nối bằng một tài liệu khác

về đối thoại và rao truyền.

            3- Tài liệu nầy nhằm tiếp tục suy tư về hai yếu tố đó. Trước hết nó nhấn mạnh đến nét đặc trưng của từng yếu tố, sau đó nghiên cứu mối tương quan giữa đôi bên. Nếu ta đề cập đến đối thoại trước, không phải vì lý do có thể được xem là ưu tiên hơn việc rao truyền. Lý do đơn giản là đối thoại là mối ưu tư hàng đầu của Hội đồng Giáo hoàng về Đối thoại Liên tôn, tức là cơ quan đã son ra bản văn. Thực thế, tài liệu trước hết đã được đem ra thảo luận trong suốt kỳ Đại hội của Văn phòng vào năm 1987. Những nhận định được nêu lên trong dịp nầy cũng như xuyên qua các cuộc tham vấn sau nầy, đã đưa đến bản văn hiện nay, hoàn tất trong đại hội của Hội đồng Giáo hoàng về Đối thoại Liên tôn, họp vào tháng 4.1990 và đã được Đại hội biểu quyết chấp thuận. Trong suốt tiến trình ấy, Hội đồng Giáo hoàng về Đối thoại Liên tôn và Thánh bộ đặc trách truyền bá Phúc âm cho các Dân tộc  đã cộng tác chặt chẽ. Hai cơ quan đề nghị các suy tư nầy cho toàn Giáo hội.

Đề tài nầy có tính cách thời sự

            4- Trong những lý do làm cho việc nghiên cứu các mối liên hệ giữa đối thoại và rao truyền có tính cách thời sự, ta có thể nêu lên những lý do sau đây:

            trong một thế giới đa nguyên

            a- Ngày nay, trong thế giới của chúng ta với những nét đặc trưng về các phương tiện truyền thông nhanh chóng, các khối dân cư lưu động, và sự tương thuộc lẫn nhau, nảy sinh một lối nhận thức về bối cảnh đa nguyên tôn giáo. Các tôn giáo không chỉ bằng lòng với tình trạng hiện hữu hoặc ngay cả sống còn. Trong một vài trường hợp, chúng cho thấy có một nỗ lực canh tân thực sự. Chúng tiếp tục thúc đẩy và ảnh hưởng đến đời sống của từng triệu tín đồ của mình. Trong bối cảnh hiện nay của tình trạng đa nguyên về tôn giáo, người ta không thể quên vai trò quan trọng của các truyền thống tôn giáo.

            ở đấy đối thoại dấy lên một số ngần ngi

            b- Chỉ từ từ người ta mới bắt đầu hiểu về điều gọi là đối thoại liên tôn giữa Kitô hữu và các tín đồ của các truyền thống tôn giáo khác, như cái nhìn của Công đồng Vaticanô II . ở nhiều nơi, người ta còn ngần ngi trong việc thực hiện công việc đối thoại nầy. Ngoài ra tình hình mỗi xứ mỗi khác. Sự kiện đó thường lệ thuộc vào tầm quan trọng của cộng đồng người Kitô hữu, vào vị thế đặc biệt của các truyền thống tôn giáo khác hiện có, và còn lệ thuộc nhiều yếu tố khác về mặt văn hoá, xã hội và chính trị. Một nỗ lực nghiên cứu sâu xa hơn về vấn đề mới có thể hỗ trợ cho việc thúc đẩy công cuộc đối thoại.

 

            và nêu lên nhiều vấn đề.

            c- Việc thực thi đối thoại dấy lên một số vấn đề trong tâm trí của nhiều người. Có những người dường như có thể nghĩ một cách sai lầm rằng, trong sứ mệnh hiện nay của Giáo hội, đối thoại hẳn thay thế cho việc rao truyền. Ngược lại, thì có những kẻ khác không hiểu được giá trị của đối thoại liên tôn. Một số khác nữa lại hoang mang và tự hỏi: Nếu đối thoại liên tôn đã trở thành quan trọng như thế, thì liệu rao truyền sứ điệp Phúc âm phải chăng không còn khẩn thiết nữa? Nỗ lực đưa người ta vào trong cộng đồng Giáo hội phải chăng trở thành thứ yếu hay còn được xem là vô ích nữa?

            Do đó có nhu cầu đưa ra một số chỉ dẫn về tín lý và mục vụ, mà tài liệu nầy thực sự muốn cống hiến, mặc dù không có tham vọng đáp ứng được đầy đủ tất cả các vấn đề phức tạp mà đề tài nêu lên.

            Vào lúc chúng tôi chấm dứt việc chuẩn bị cho phổ biến tài liệu nầy, thì Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II ban hành Thông điệp Redemptoris Missio cho Giáo hội; trong Thông điệp đó Ngài đã trình bày các vấn đề nầy và nhiều nội dung khác.

            Tài liệu Đối thoại và Rao truyền giải thích chi tiết giáo huấn của Thông điệp về đối thoại và mối liên hệ của nó với rao truyền (RM 55-57). Như thế, nó cần được đọc dưới ánh sáng của Thông điệp đã nêu.

Ngày cầu nguyện cho Hoà bình ở Assisi

5- Ngày thế giới Cầu nguyện cho Hoà bình ở Assisi, 27.10.1986, theo sáng kiến của Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II, cũng giúp chúng ta suy tư.

Ngay ngày đó và sau nầy, đặc biệt trong diễn văn đọc trong buổi tiếp kiến các vị Hồng y và Giáo triều Rôma vào tháng 12.1986, Đức Thánh Cha đã giải thích ý nghĩa việc cử hành ti Assisi. Ngài đã nhấn mạnh đến sự hiệp nhất nền tảng của nhân loại, nơi nguồn gốc và vận mệnh của nó, và vai trò của Giáo hội như là dấu chỉ hữu hiệu của sự hiệp nhất nầy.

            Ngài đã nêu lên thật rõ tầm mức chính xác của đối thoại liên tôn, đồng thời xác quyết lại bổn phận của Giáo hội trong việc rao truyền Đức Giêsu Kitô cho thế giới .

 

và sự cổ suý của Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II

            6-  Năm sau đó, khi ngỏ lời với các thành viên của Đại hội Hội đồng Giáo hoàng về Đối thoại Liên tôn, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã tuyên bố: “Đối thoại liên tôn là một yếu tố và sứ mệnh của Giáo hội,và việc rao truyền công cuộc cứu độ của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Chúa chúng ta cũng là một yếu tố khác…Không có vấn đề chọn cái nầy và không biết đến cái kia hoặc vất bỏ nó đi”. Lời chỉ dẫn của Đức Giáo hoàng cổ suý chúng ta tiếp tục suy tư về đề tài nầy.

cũng khích lệ nỗ lực suy tư về đề tài nầy.

            7- Tài liệu nầy gửi đến tất cả những người công giáo, và đặc biệt là những người có một vai trò hướng dẫn trong cộng đồng hoặc dấn thân vào việc đào to. Nó cũng kêu gọi đến sự lưu ý của những Kitô hữu thuộc các Giáo hội hoặc cộng đồng Giáo hội khác, chính họ cũng đã suy nghĩ về những vấn đề mà đề tài nầy nêu lên. Hy vọng rằng các tín đồ của các truyền thống các tôn giáo khác cũng sẽ để tâm đến nó.

Minh định về ý nghĩa các từ ngữ mấu chốt được dùng:

            Nhưng trước khi đi sâu vào vấn đề, trước hết hẳn cần phải xác định lại ý nghĩa những chữ mấu chốt được sử dụng trong tài liệu nầy.

truyền bá Phúc âm,

            8- Từ ngữ sứ mệnh truyền bá Phúc âm, hoặc đơn giản hơn đó là truyền bá Phúc âm, qui chiếu về sứ mệnh của Giáo hội trong toàn bộ của nó. Trong Tông huấn Evangelii Nuntiandi, từ ngữ truyền bá Phúc âm được dùng bằng nhiều cách khác nhau. Nó có nghĩa là “mang Tin mừng (Phúc âm) cho toàn thể nhân loại và, từ trong mục tiêu của nó, là biến đổi bên trong, làm cho chính nhân loại trở nên mới mẻ” (EN 18). Như thế, bằng công cuộc truyền bá Phúc âm, Giáo hội “tìm cách hoán cải tâm hồn con người và tập thể, các sinh hoạt mà con người dấn thân vào, những phương cách sống, và môi trường cụ thể họ đang sinh hoạt trong đó, nhờ vào năng lực duy nhất của Thiên Chúa nơi sứ điệp mà Giáo hội rao truyền (Tlđd). Giáo hội hoàn thành sứ mệnh truyền bá Phúc âm trong nhiều sinh hoạt đa dạng. Vậy, ta có một ý nghĩa rộng về ý niệm truyền bá Phúc âm. Tuy thế, trong chính tài liệu ấy, truyền bá Phúc âm cũng được sử dụng theo một nghĩa chuyên biệt hơn, đó là “rao truyền rõ ràng và không lấp lửng về Chúa Giêsu (EN 22). Tông huấn nói rằng “Việc rao truyền ấy kerygma, giảng và dạy giáo lý – chiếm một vị thế quan trọng trong cuộc truyền bá Phúc âm đến độ thường được dùng như đồng nghĩa; tuy nhiên đây chỉ là một khía cạnh của công cuộc truyền bá Phúc âm (Tlđd). Trong tài liệu của chúng ta, từ ngữ sứ mệnh truyền bá Tin mừng được dùng với chữ truyền bá Tin mừng theo nghĩa rộng, còn nghĩa đặc biệt hơn thì chúng tôi dùng từ ngữ rao truyền.

đối thoại,

            9- Từ ngữ đối thoại có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau. Trước hết, ở cấp độ thuần tuý con người, nó có nghĩa là truyền thông cho nhau nhằm đưa đến một mục đích chung hoặc, ở một cấp độ sâu xa hơn, nó nhằm nói đến một sự hiệp thông liên nhân vị (giữa con người với nhau). Thứ đến, từ ngữ đối thoại có thể sử dụng theo nghĩa một thái độ cung kính và thân thiện, thấm nhập hoặc cần thấm nhập tất cả các sinh hoạt cấu to nên sứ mệnh truyền bá Phúc âm của Giáo hội. Đúng hơn có thể gọi là “tinh thần đối thoại” . Nghĩa thứ ba nằm trong một bối cảnh của thực trạng đa nguyên tôn giáo, từ ngữ đối thoại có nghĩa là “toàn bộ những tương quan liên tôn, tích cực và xây dựng, với những người và những cộng đồng của các tín ngưỡng dị biệt, nhằm tìm cách quen biết nhau và làm phong phú cho nhau” (DM 3), trong sự tuân phục chân lý và tôn trọng tự do của mỗi người. Nó vừa hàm ngụ việc làm chứng vừa là nỗ lực đào sâu những xác tín tôn giáo liên hệ. Tài liệu nầy sử dụng từ ngữ đối thoại theo nghĩa thứ ba nầy, như là một trong những yếu tố cấu thành toàn bộ sứ mệnh truyền bá Phúc âm của Giáo hội.

rao truyền,

            10- Từ ngữ rao truyền có nghĩa là thông đạt sứ điệp Phúc âm, mầu nhiệm cứu độ mà Thiên Chúa thực hiện cho mọi người trong Đức Giêsu Kitô với quyền năng của Chúa Thánh Thần. Nó là một lời mời gọi tiếp nhận đức tin vào Chúa Giêsu Kitô, một lời mời gọi gia nhập vào cộng đồng của những người tin, đó là Giáo hội, qua phép rửa tội. Việc rao truyền nầy có thể thực hiện một cách long trọng và công khai, như trường hợp đã xảy ra trong ngày Hiện xuống (xem Công vụ 2, 5-41), hoặc dưới hình thức của một sự trở lại đo có tính cách cá nhân (xem Công vụ 8, 30-38). Nó tự nhiên dẫn đến việc (dạy) học giáo lý nhằm đào sâu đức tin nầy. Rao truyền là nền tảng, trung tâm và đỉnh cao của việc truyền bá Phúc âm (xem EN 27).

 

 

 

trở lại,

            11- Ý niệm trở lại luôn hàm ngụ mọi tác động của con người quay trở về với Thiên Chúa “sự trở về lại với Thiên Chúa, với tâm tình khiêm tốn và thống hối, ước muốn qui phục cuộc sống mình một cách rốt ráo hơn nữa vào Thiên Chúa” (DM 37). Mặt khác, từ ngữ trở lại cũng có thể được hiểu một cách cá biệt hơn, như là một sự thay đổi trong việc gia nhập vào một tôn giáo, và đặc biệt hơn nữa nó được sử dụng để nói đến việc đi vào đức tin Kitô giáo. Ý nghĩa mà tài liệu nầy sử dụng nơi từ ngữ trở lại (hay quay về) sẽ tuỳ thuộc vào bối cảnh có liên quan đến từng nội dung.

các tôn giáo và các truyền thống tôn giáo.

            12- Những thành ngữ tôn giáo và các truyền thống tôn giáo được sử dụng ở đây theo một nghĩa có tính cách xếp loại và dựa vào các nét tương tự. Cùng với Kitô giáo, chúng gồm những tôn giáo, qui chiếu vào đức tin của Abraham, cũng như những truyền thống tôn giáo lớn của Á châu, Phi châu, và phần còn lại của thế giới.

            13- Đối thoại liên tôn cần trải rộng đến tất cả các tôn giáo và các tín đồ của họ. Nhưng tài liệu nầy sẽ không đề cập đến việc đối thoại tôn giáo với những tín đồ của “Các phong trào tôn giáo mới”, vì tình trạng đa tạp nơi các sinh hoạt của họ và vì nhu cầu cần phải cân nhắc những giá trị nhân loại và tôn giáo chứa đựng trong chúng.

 

 

I

 

Đối thoại Liên tôn

 

A- Một nỗ lực của Kitô giáo tiếp cận  các truyền thống tôn giáo

 

Một sự tiếp cận tích cực các truyền thống tôn giáo

            14- Một nhận định đứng đắn về các truyền thống tôn giáo khác thường giả thiết có một sự tiếp xúc chặt chẽ với truyền thống ấy. Bên cạnh các nỗ lực hiểu biết có tính cách lý thuyết, công việc đó hàm ngụ một kinh nghiệm thực tế của đối thoại liên tôn với các tín đồ của chính các truyền thống nầy. Tuy thế, một sự thẩm định đứng đắn về mặt thần học các truyền thống đó, ít nhất bằng những đường nét tổng quát, cũng phải được xem như một tiền đề cần thiết cho công cuộc đối thoại liên tôn. Các truyền thống tôn giáo phải được tìm hiểu với lòng kính trọng sâu xa, vì những giá trị siêu nhiên và tự nhiên chứa đựng trong đó. Chúng đòi hỏi chúng ta phải mến trọng vì, qua các thế kỷ, các truyền thống nầy đã ghi nhận những nỗ lực nhằm tìm ra những giải đáp “cho những thắc mắc bí ẩn của thân phận con người” (NA 1), và là lối biểu lộ của kinh nghiệm tôn giáo cũng như của những khát vọng sâu xa nhất của từng triệu tín đồ của họ. Chúng tiếp tục thực hiện công việc đó và ngày nay vẫn mãi tiếp tục như thế.

đã được Công đồng Vaticanô II thực hiện

            15- Công đồng Vaticanô II đã chỉ dẫn con đường đi đến một sự thẩm định tích cực như vậy. Cần phải nắm vững một cách kỹ lưỡng, rõ rệt về ý nghĩa chính xác những lời khẳng định của Công đồng. Công đồng khẳng định lại giáo thuyết truyền thống, theo đó ơn cứu độ nơi Đức Giêsu Kitô, bằng những con đường bí nhiệm, là một thực tại ban cho tất cả những người thiện chí . Khẳng định rõ rệt về xác tín nền tảng nầy của Công đồng được viết ra trong Hiến chế  Vui mừng và Hy vọng (Gaudium et Spes). Nơi bản văn nầy, Công đồng dạy rằng Đức Kitô, Adam mới, bằng mầu nhiệm của công cuộc nhập thể, chết và sống lại của Ngài, hành động nơi mỗi con người để dẫn đưa họ đến một sự canh tân tận bên trong tâm hồn họ:

            “Điều nói trên không phải chỉ có giá trị cho những ai tin vào Đức Kitô, mà còn cho hết mọi người thiện chí được ơn sủng tác động một cách vô hình trong tâm hồn. Thật vậy, vì Đức Kitô đã chết cho mọi người và vì ơn gọi cuối cùng của con người thực sự là duy nhất, nghĩa là do Thiên Chúa, nên chúng ta phải tin chắc rằng Thánh thần ban cho mọi người khả năng tham dự vào Mầu nhiệm Phục sinh, cách nào đó chỉ có Thiên Chúa biết” (GS. 22).

khám phá được những hiệu quả của ơn Thiên Chúa

trong các truyền thống ấy

            16- Công đồng còn đi xa hơn nữa. Lấy lại quan điểm – và lối nói của một số giáo phụ của Giáo hội thời kỳ đầu, Tuyên ngôn Nostra Aetate nói đến sự hiện diện của một “tia sáng của chân lý ấy soi dọi mọi người” (NA 2) nơi các truyền thống tôn giáo. Hiến chế Ad gentes nhìn nhận sự hiện hữu của các “hạt giống Ngôi Lời” và gợi lên “những kho tàng phong phú mà Thiên Chúa ban cho các dân tộc do lòng độ lượng của Ngài” (AG 11). Hiến chế Lumen gentium nhắc đến ơn ích “đã được gieo” không phải chỉ “trong tâm trí con người” mà cả “nơi các lễ chế và tập tục của các dân tộc” (LG 17).

            và tác động của Thánh Thần,

            17- Một số những dẫn chứng đó đủ cho thấy rằng Công đồng đã rõ rệt nhìn nhận sự hiện diện của các giá trị tích cực, không những trong đời sống tôn giáo có tính cách cá nhân của các tín đồ các truyền thống tôn giáo khác, mà cả trong chính các truyền thống tôn giáo mà họ gia nhập. Công đồng cho rằng các giá trị ấy là sự hiện diện tích cực của chính Thiên Chúa qua Ngôi Lời của Ngài và cũng là hành động phổ quát của Thánh Thần: Hiến chế Ad gentes quả quyết rằng: “Chắc chắn Thánh Thần đã tác động trong thế giới trước khi Đức Kitô được tôn vinh (AG 4). Như thế, dựa vào nội dung đó, người ta có thể thấy được rằng các yếu tố ấy đã và luôn mãi đóng một vai trò do quan phòng để thể hiện chương trình cứu độ của Thiên Chúa, với tư cách là công cuộc chuẩn bị cho Phúc âm. Khi nhận ra tất cả sự kiện nầy, Giáo hội cảm thấy mình được thúc đẩy để đi vào “việc đối thoại và hợp tác” (NA 2; xem GS 92-93): “Kitô hữu cần làm chứng đức tin và đời sống Kitô giáo, đồng thời phải nhìn nhận, bảo tồn và phát huy các giá trị siêu nhiên, đo đức và xã hội – văn hoá nơi những người (theo các tôn giáo khác)” (NA 2).

nhưng nhấn mạnh vai trò hoạt động của Giáo hội.

            18- Công đồng không phải không biết rằng hoạt động truyền giáo của Giáo hội là cần thiết, nhằm kiện toàn trong Đức Kitô những yếu tố tích cực tìm thấy nơi các tôn giáo khác. Công đồng xác quyết điều đó một cách rất rõ rệt:

            “Tất cả những gì là chân lý và ân sủng đã tìm thấy nơi các dân tộc như một sự hiện diện thầm kín của Thiên Chúa, sẽ được hoạt động truyền giáo tháo gỡ khỏi những vết xấu và đưa về Đức Kitô là Đấng tác thành chúng, (và là Đấng) hủy diệt quyền lực của ma quỷ và chận đứng sự dữ muôn hình của tội lỗi. Bởi vậy, những gì tốt lành người ta nhận biết là đã gieo vãi trong tâm hồn của con người hoặc trong các lễ chế và văn minh riêng của các dân tộc, không những không bị hủy diệt đi, mà phải được thanh tẩy, thăng tiến và hoàn tất để Thiên Chúa được tôn vinh, ma quỷ sẽ xấu hổ và con người được hnh phúc” (AG 9).

Lịch sử công cuộc cứu độ của Thiên Chúa

            19- Cựu ước làm chứng rằng, từ buổi đầu to dựng, Thiên Chúa đã kết ước với tất cả các dân tộc (St. 1-11). Điều đó cho thấy có một lịch sử cứu độ duy nhất cho toàn nhân loại. Giao ước với Noe, con người đã “bước đi với Thiên Chúa (St. 6,9) là tượng trưng của việc Chúa can thiệp trong lịch sử các dân tộc. Những nhân vật không phải là người Israel trong Cựu ước được Tân ước nhìn như thuộc vào lịch sử cứu độ duy nhất ấy. Abel, Hénok, Noe, được nêu lên như là những mẫu mực của đức tin (xem He 11, 4-7). Họ đã biết, tôn thờ Thiên Chúa chân thật duy nhất và đã tin vào Ngài, là chính Thiên Chúa đã tự mạc khải cho Abraham và Maisen sau nầy. Melchisedek, thầy cả thượng phẩm của các dân tộc, chúc lành cho Abraham, là tổ phụ của tất cả những người tin (xem He 7, 1-7). Chính lịch sử cứu độ ấy chứng kiến sự hoàn tất chung mãn nơi Đức Giêsu Kitô, trong Ngài giao ước mới và vĩnh viễn được thiết lập cho mọi dân tộc.

mở rộng đến tất cả các dân tộc, vượt qua dân được chọn.

            20- Nhưng ý thức tôn giáo của Israel nổi bật nơi xác tín sâu xa về qui chế đặc biệt của dân được Thiên Chúa chọn nơi mình. Việc chọn lựa ấy đi kèm với một tiến trình đào to và khuyến dụ liên tục nhằm bảo toàn sự tinh tuý của việc tôn thờ Một Thiên Chúa duy nhất, cấu to nên một sứ mệnh. Các tiên tri liên lỉ nhấn mạnh đến lòng trung nghĩa và chung thủy đối với Thiên Chúa chân thật duy nhất và loan báo Đấng Thiên sai sẽ đến. Tuy nhiên cũng chính những vị tiên tri nầy, nhất là vào thời lưu đày, khai mở ra một viễn tượng phổ quát, nghĩa là cho thấy hành động cứu chuộc của Thiên Chúa được thực hiện xuyên qua Israel nhưng vượt qua dân nầy và đến cho mọi dân tộc. Isaia đã từng tiên tri rằng vào những ngày cuối cùng, các dân tộc sẽ tuôn về nhà Chúa và sẽ nói “Hãy đến, chúng ta hãy lên núi Chúa, đi về thánh điện Thiên Chúa của Giacóp, để Ngài dạy chúng ta những con đường của Ngài và để chúng ta bước đi theo những nẻo đường của Ngài” (Is 2,3). Tiên tri cũng được dạy để nói rằng: “Tất cả các mút của địa cầu đã thấy được sự cứu độ Thiên Chúa chúng ta” (Is 52, 10). Các sách Khôn ngoan, từng ghi dấu những trao đổi văn hoá giữa Israel và các dân tộc chung quanh, cũng xác quyết rõ ràng Thiên Chúa hành động trên toàn thể vũ trụ. Hành động đó vượt qua các biên giới các dân tộc được chọn để đến với lịch sử dân tộc và đời sống cá nhân mỗi người.

Sứ mệnh phổ quát của Đức Giêsu

            21- Nếu ta đi vào Tân ước, thì thấy rằng chính Đức Giêsu đã tuyên bố Ngài đến để tập họp những con chiên lạc của Israel (xem Mt 15, 24) và trong một thời gian đầu Ngài đã cấm các môn đệ Ngài đừng đến các xứ người ngoại giáo (xem Mt 10, 5). Nhưng Ngài đã tỏ cử chỉ đón mời những người nam cũng như nữ không thuộc vào dân Israel. Ngài đối thoại với họ, và nhìn nhận sự tốt lành nơi họ. Ngài từng ngc nhiên về sự nhy bén lòng tin nơi người đội trưởng, và nói rằng Ngài đã chưa từng gặp một lòng tin như vậy nơi Israel (xem Mt 8, 5-13). Ngài đã thực hiện những phép l chữa lành bệnh cho những “người ngoại quốc” (xem Mt 7, 24-30) và các phép l ấy là những dấu chỉ Nước Trời đến. Ngài đã chuyện trò với người phụ nữ người Samaria và nói đến thời buổi mà sự thờ kính sẽ không giới hn vào chỗ nầy hoặc chỗ kia, nhưng những kẻ thực sự thờ kính “sẽ tôn thờ Chúa Cha trong thần trí và trong chân lý” (Gioan 4, 23). Như thế Đức Kitô mở ra một chân trời mới, chân trời phổ quát  vừa có tính cách Kitô học và Thánh Thần học vượt qua các vấn đề nơi chốn. Vì đền thánh mới bây giờ chính ta thân thể Đức Giêsu  (Gioan 2, 21) mà Chúa Cha đã phục sinh bằng quyền năng Thánh Thần.

loan báo Nước Thiên Chúa

            22- Sứ điệp Đức Giêsu được chứng thực do cuộc đời Ngài, chính là sự kiện Nước Thiên Chúa ụp đến trong thế gian, trong chính người Ngài. Ngay từ bước khởi đầu sứ mệnh công khai của Ngài ở Galilêa gồm các dân tộc, Ngài có thể nói rằng: “Các thời đi đã mãn và Nước Thiên Chúa cận kề”. Ngài cũng chỉ cho thấy những điều kiện nào để đi vào Nước Thiên Chúa: “Các người hãy thống hối và tin vào Tin mừng” (Mc 1, 15). Sứ điệp đó không phải chỉ nói cho những ai thuộc dân đặc biệt được chọn. Thật vậy, Đức Giêsu đã loan báo một cách minh nhiên về việc các dân tộc đi vào Nước Thiên Chúa (xem Mt 8, 10-11); 11, 20, 24; 25, 31-32), một nước cần được hiểu như vừa có tính cách lịch sử vừa có tính cách chung mãn luận. Nó vừa là Nước của Chúa Cha, cần phải khẩn xin cho mau đến bằng lời cầu nguyện (Mt 6,10) và đồng thời là Nước Đức Giêsu, vì Đức Giêsu tuyên bố công khai Ngài là vua (Gioan 18, 33-37). Đúng vậy, trong Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm người, chúng ta có được mạc khải và ơn cứu độ hoàn toàn đầy đủ, cũng như sự hoàn thành những ước vọng của các dân tộc.

mở ra cho mọi dân tộc.

            23- Trong Tân ước những lần nói đến cuộc sống tôn giáo nơi các dân tộc cũng như các truyền thống tôn giáo của họ có thể cho ta có cảm tưởng là mâu thuẫn, nhưng kỳ thực chúng bổ túc cho nhau. Một mặt, có lời phê phán tiêu cực nơi thư gửi người Rôma về những kẻ không nhận biết Thiên Chúa nơi công trình to dựng của Ngài và rơi vào việc thờ ly thần tượng và tình trạng đồi bi (Rm 1, 18-32). Mặt khác, sách Công vụ lại chứng thực thái độ cởi mở và tích cực của Phaolô đối với các dân ngoại trong bài giảng của Ngài cho người Lycaonia (Cv 14, 8-18) cũng như trong bài giảng thuyết trên đồi Arê ở Nhã điễn; ti đây Ngài ca ngợi tinh thần tôn giáo của họ và báo cho họ hay về Đấng họ tôn thờ, mà họ không hay biết như là “Thần vô danh” (Cv 17, 22-24). Cũng nên hiểu rằng trong Tân ước truyền thống khôn ngoan được áp dụng để chỉ về Đức Giêsu Kitô, là khôn ngoan của Thiên Chúa, Lời của Thiên Chúa soi dọi mọi người (Gioan 1, 9), và qua công cuộc nhập thể; Ngài đóng lều của Ngài giữa chúng ta (Gioan 1, 13).

Các giáo phụ vào những thế kỷ đầu

            24- Truyền thống hậu Thánh kinh cũng ghi nhận những tương phản như thế. Người ta có thể dễ dàng tìm ra những phê phán tiêu cực về các sinh hoạt tôn giáo  thời các giáo phụ, trong các bản văn của các vị nầy. Tuy nhiên truyền thống cổ xưa cho thấy một sự cởi mở đáng lưu ý. Nhiều vị giáo phụ lấy lại truyền thống khôn ngoan được phản ảnh trong ánh sáng Tân ước. Đặc biệt một vài tác giả vào thế kỷ thứ II và đầu thế kỷ thứ III, như Giustinô, Irénée và Clêmentê thành Alexandria, hoặc minh nhiên hoặc qua lối tỷ dụ, đã nói đến  “các hạt giống” của Lời Chúa ở giữa các dân tộc . Vì vậy ta có thể nói rằng theo các tác giả nầy, trước và bên ngoài tiến trình cứu độ Kitô giáo, Thiên Chúa đã tự mạc khải Ngài, mặc dù chưa đầy đủ. Lối biểu lộ nầy của Lời Thiên Chúa là sự báo trước về mạc khải toàn mãn nơi Đức Giêsu.

 

cống hiến một nền thần học về lịch sử

            25- Đúng vậy, các giáo phụ vào các thế kỷ đầu trình bày điều mà ta có thể gọi là một nền thần học về lịch sử. Lịch sử trở thành một lịch sử ơn cứu độ, khi ta hiểu rằng qua lịch sử Thiên Chúa tự mạc khải dần hồi và nối kết với nhân loại. Tiến trình mạc khải và nối kết đó của Thiên Chúa đạt đến tuyệt đỉnh trong công cuộc nhập thể của Lời Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô. Đó là ý nghĩa của lối phân biệt mà Irénée đã nêu lên về bốn mối giao ước mà Thiên Chúa đã thực hiện với nhân loại. Nơi Adam, nơi Noe, nơi  Maisen và nơi Đức Giêsu Kitô. Quan điểm nầy của các giáo phụ có tầm quan trọng không thể xem thường, và có thể nói rằng nó đã đạt đến đỉnh cao của nó nơi Augustinô. Trong các tác phẩm cuối cùng của Ngài, Augustinô đã nhấn mạnh sự hiện diện của ảnh hưởng phổ quát của Đức Kitô, ngay cả trước ngày nhập thể của Chúa. Khi thực hiện chương trình cứu độ của Ngài, Thiên Chúa đã đến với toàn nhân loại, nơi Con Ngài. Nên, theo một nghĩa nào đó, Kitô giáo đã từng hiện hữu “từ khởi thủy của nhân loại” .

mà giáo huấn Giáo hội lấy lại.

            26- Vaticanô II đã muốn nối lại với quan điểm cổ xưa nầy của Kitô giáo về lịch sử. Sau Công đồng, giáo huấn Giáo hội, đặc biệt là giáo huấn của Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đi xa hơn nữa trong chính đường hướng nầy.

            Trước hết, Đức Giáo hoàng minh nhiên nhìn nhận sự hiện diện năng động  của Thánh Thần trong đời sống của các tín đồ các truyền thống tôn giáo khác.Trong Thông điệp Redemptor hominis, Ngài nói rằng “niềm tin vững mạnh của họ” là “một kết quả của Thánh Thần chân lý tác động bên ngoài những giới hn hữu hình của thân thể mầu nhiệm” (RM 6).

            Trong Thông điệp Dominum et vivificantem, Ngài còn đi xa hơn nữa và quả quyết về tác động phổ quát của Thánh Thần trong thế giới đi trước chương trình cứu độ nơi Kitô giáo; tác động ấy đã được xếp đặt để hướng về chương trình nầy; Ngài cũng nói đến chính tác động phổ quát của Thánh Thần đang linh hoạt hôm nay, kể cả bên ngoài Thân thể hữu hình của Giáo hội (DV 53).

Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II

            27- Trong diễn văn đọc trước Giáo triều Rôma, vào buổi tiếp kiến của Ngài sau ngày cầu nguyện ở Assisi, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II một lần nữa lại nhấn mạnh đến sự hiện diện phổ quát của Thánh Thần qua lời xác quyết rằng: “Mỗi lời cầu nguyện thành khẩn đều được Thánh Thần thúc đẩy, Thánh Thần hiện diện một cách bí nhiệm trong tâm hồn của mỗi con người”, Kitô hữu hay không phải Kitô hữu. Nhưng cũng trong bài diễn văn ấy, Đức Giáo hoàng nhắc lại cái nhìn còn vượt qua khuôn khổ cá nhân, khi nêu lên rõ rệt những yếu tố chính cấu to nên toàn bộ nền tảng thần học về nỗ lực tiếp cận một cách tích cực các truyền thống tôn giáo khác và về việc thực hành đối thoại liên tôn.

chỉ dạy về mầu nhiệm hiệp nhất

của toàn thể nhân loại

            28- Trước hết có sự kiện là toàn nhân loại làm nên một gia đình duy nhất, dựa trên một nguồn gốc chung, vì tất cả mọi người nam, nữ đều được Thiên Chúa to dựng theo hình ảnh của Ngài. Song song, mọi người có một vận mệnh chung, vì mọi người đều được gọi để hoàn thành cuộc đời mình nơi Thiên Chúa mà trung tâm là Đức Giêsu Kitô, Đấng “đã tự kết hiệp với mỗi người một cách nào đó” (xem RH 13; GS 22,2) trong công cuộc nhập thể của Ngài.

            Và cuối cùng có sự hiện diện linh động của Thánh Thần trong cuộc sống tôn giáo của các tín đồ các truyền thống tôn giáo khác. Do đó, Đức Giáo hoàng đi đến kết luận về “một mầu nhiệm hiệp nhất”, rõ ràng đã được thể hiện tại Assisi, “mặc dù có những khác biệt giữa các tôn giáo.

và về sự cứu độ duy nhất.

            29- Hệ quả rút ra từ mầu nhiệm về sự hiệp nhất nầy là mọi người nam – nữ được cứu độ, đều tham dự vào cùng một mầu nhiệm cứu độ nơi Đức Giêsu Kitô do Thánh Thần của Ngài, dù bằng những cách thế khác nhau. Kitô hữu, nhờ đức tin, ý thức được ơn cứu độ đó, còn những người khác không ý thức về việc Đức Kitô là nguồn căn của sự cứu độ dành cho họ. Tuy vậy, mầu nhiệm cứu độ đến với họ bằng những con đường mà chỉ có Thiên Chúa biết, nhờ bởi tác động vô hình do Thánh Thần của Đức Kitô. Một cách cụ thể, các tín đồ các tôn giáo khác, khi chân thành thực hiện những điều tốt trong truyền thống tôn giáo của họ và noi theo những hướng dẫn của lương tâm, thì đáp trả một cách tích cực lời mời gọi của Thiên Chúa và nhận được ơn cứu độ nơi Đức Giêsu Kitô, dù họ không nhận biết Ngài và không tuyên xưng Ngài như Đấng cứu độ của họ (xem AG 3, 9, 11).

Cần phải suy xét

            30- Những hoa trái của Thánh Thần Thiên Chúa trong cuộc sống cá nhân, Kitô hữu hay không phải Kitô hữu, có thể nhận ra dễ dàng (Ga 5, 22-23). Nhưng thiết định xem trong các truyền thống tôn giáo khác, những yếu tố nào trong những yếu tố nầy, thực sự là do ân sủng, có khả năng giúp các tín đồ liên hệ đáp trả một cách tích cực lời mời gọi của Thiên Chúa, thì đó lại là một công việc khó khăn hơn. ở đây đòi hỏi có một sự suy xét, dựa trên những tiêu chuẩn cần phải được thiết lập. Nhiều người chân thành, được Thánh Thần Thiên Chúa thúc đẩy, chắc chắn đã để lại dấu tích của mình trong nỗ lực hình thành và phát triển các truyền thống tôn giáo liên hệ; nhưng sự kiện đó không muốn nói rằng đương nhiên tất cả mọi sự trong các truyền thống tôn giáo nầy nhất thiết phải là tốt lành.

            31- Quả quyết rằng các truyền thống tôn giáo khác chất chứa những “yếu tố của ân sủng” không có nghĩa là mọi sự trong chúng đều là hoa trái của ân sủng. Tội lỗi đã từng tác động trong thế gian và vì thế cũng tác động trong các truyền thống tôn giáo khác, dù chúng có những giá trị tích cực, cũng vẫn là phản ảnh của những giới hn của tâm trí con người, lắm lúc lại có chiều hướng chọn sự ác. Như thế, một nỗ lực tiếp cận cởi mở và tích cực đối với các truyền thống tôn giáo khác lại không cho phép ta nhắm mắt lại không nhìn thấy những mâu thuẫn có thể có giữa các truyền thống nầy và mạc khải Kitô giáo. Khi sự thể đòi buộc, ta phải nhìn nhận có sự bất tương hợp giữa một số yếu tố thiết yếu của Kitô giáo và một số khía cạnh của các truyền thống nầy.

 

Đối thoại là một thách đố đối với mọi người

            32- Sự việc đó còn có nghĩa rằng, khi đi vào công cuộc đối thoại với các tín đồ các truyền thống tôn giáo khác với một tâm tình cởi mở, Kitô hữu có thể ôn tồn khích lệ họ suy tư về nội dung niềm tin riêng của chính họ. Nhưng chính Kitô hữu đến phiên mình cũng phải chấp nhận ý thức lại đức tin mình. Thật thế, mặc dù có mạc khải toàn mãn của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô, phương thức hiểu tôn giáo của mình và lối sống đo của Kitô hữu đôi lúc có thể cần phải được tinh lọc.

B- Vị trí của đối thoại liên tôn trong sứ mệnh truyền bá Phúc âm của Giáo hội

 

Giáo hội là nhiệm tích phổ quát của ơn Cứu độ,

            33- Giáo hội đã hiện hữu do ý Chúa Cha và đã được thành lập bởi Chúa Kitô để, trong sự chung mãn các thời đi, trở thành dấu chỉ và dụng cụ của chương trình cứu độ của Thiên Chúa (xem LG 1); và mầu nhiệm của Đức Kitô ở vào trung tâm của chương trình cứu độ đó. Giáo hội là “nhiệm tích phổ quát của ơn cứu độ” (LG 48) và cần thiết cho sự cứu độ (LG 14). Chính Chúa Giêsu đã khởi đầu sứ mệnh của Ngài “bằng việc rao giảng Tin mừng, Nước của Thiên Chúa đến” (LG 5).

là hạt giống và bước bắt đầu của Nước Chúa

            34- Do đó, mối tương quan giữa Giáo hội và Nước Chúa rất bí nhiệm và phức hợp. Công đồng Vaticanô II từng dạy rằng: “Nước Chúa trước hết chính là Đức Kitô”.

            Nhưng Giáo hội lại đã nhận lãnh sứ mệnh rao truyền Nước Thiên Chúa từ Chúa Kitô, nên Giáo hội là “hạt giống và bước đầu của triều đi ấy nơi trần gian”. Đồng thời, Giáo hội “từ từ lớn lên để đi đến trưởng thành (và) hướng đến sự hoàn thành Nước Chúa” (LG 5). Vậy “Nước Chúa không thể tách rời khỏi Giáo hội, vì cả hai không thể phân ly với con người và việc làm của chính Đức Giêsu…Nên không thể phân cách Giáo hội và Nước Chúa làm như Giáo hội chỉ chuyên thuộc về lãnh vực bất toàn của lịch sử, còn Nước Chúa là sự hoàn tất chung cuộc toàn hảo trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa”.

và toàn thể nhân loại được xếp đặt hướng về Giáo hội.

            35- Các tín đồ các truyền thống tôn giáo được xếp đặt hoặc được qui hướng đến (hay về) Giáo hội, trong sự kiện Giáo hội là nhiệm tích trong đó Nước Chúa hiện diện một cách “bí nhiệm”; vì, khi họ đáp trả những lời mời gọi của Thiên Chúa, mà họ nhận ra được nơi lương tâm họ, thì họ được cứu độ trong Đức Giêsu Kitô, và như thế là họ đã tham dự một cách nào đó thực tại mang ấn dấu của nước Chúa. Sứ mệnh Giáo hội là mở mang “Nước Chúa chúng ta và là Nước Đức Kitô của Ngài” (Khải huyền 11, 15) và phục vụ cho Nước đó. Một phần vai trò nầy nằm trong việc nhìn nhận thực tại Nước Chúa có thể ở vào tình trạng chớm phát, kể cả bên ngoài biên giới Giáo hội, chẳng hn trong tâm hồn những tín đồ các truyền thống tôn giáo khác khi họ thực thi các giá trị Phúc âm và sẵn sàng đón nhận tác động Chúa Thánh Thần. Tuy nhiên phải nhắc lại rằng thực tại nầy thực sự đang ở vào tình trạng chớm phát; nó sẽ đạt đến sự hoàn tất khi qui hướng về Nước Đức Kitô; Nước ấy đã hiện diện trong Giáo hội nhưng chỉ được thực hiện toàn vẹn trong cõi đời sẽ đến.

Giáo hội trên đường lữ hành

            36- Giáo hội còn ở ti đây, nơi dương thế, trên đường lữ hành. Mặc dù Giáo hội là thánh do bởi việc Chúa thành lập để trở nên một cơ chế thần thánh, nhưng các thành phần của Giáo hội ấy không phải là toàn hảo, họ vẫn mang dấu tích bởi những hn chế của thân phận con người. Do đó, nó mất đi sự trong sáng của mình như một nhiệm tích cứu độ. Và đó là lý do mà ngay cả Giáo hội “như một thể chế có tính cách người và trần thế”, lại cần được cải cách và canh tân liên tục chứ không phải là vấn đề riêng của các phần tử Giáo hội mà thôi. (Sắc lệnh về Hiệp nhất UR 6).

tiến về sự toàn mãn của chân lý từ Thiên Chúa

            37- Trong vấn đề Mạc khải của Chúa, Giáo hội dạy rằng “Chân lý sâu xa mà Mạc khải nầy tỏ lộ về Thiên Chúa và về sự cứu độ con người, rực sáng ra cho chúng ta trong Đức Kitô, Ngài vừa là trung gian và sự toàn mãn của tất cả Mạc khải” (DV 2). Các tông đồ, trung thành với lời dạy mà họ đã tiếp nhận từ chính Đức Kitô, đến phiên họ đã truyền lại Mạc khải nầy.

            Vì vậy, “Thánh truyền do các Tông đồ truyền lại được tiến triển trong Giáo hội dưới sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Nhờ thế, các sự việc và lời nói truyền lại được hiểu biết thấu đáo hơn” (HC Tín lý về mạc khải của Thiên Chúa DV 8). Tất cả những điều nầy được thực hiện nhờ học hỏi và kinh nghiệm nơi cuộc sống siêu nhiên, và cũng được diễn tả nhờ lời giáo huấn của các giám mục, là những vị đã nhận được một ơn đoàn sủng bảo đảm cho chân lý. Con đường đó dẫn Giáo hội “mãi hướng về sự hoàn mãn của chân lý, cho đến khi các lời của Thiên Chúa được hoàn tất nơi Giáo hội” (Tlđd).

            Sự kiện đó không mâu thuẫn gì với cơ chế thần thánh của Giáo hội cả, cũng như không hề mâu thuẫn với sự toàn mãn nơi Mạc khải của Thiên Chúa trong Chúa Giêsu Kitô, là Đấng đã ủy thác cho Giáo hội Mạc khải nầy.

trong một cuộc đối thoại của ơn cứu độ

            38- Trong bối cảnh đó, ta sẽ dễ thấy hơn tại sao và trong ý nghĩa nào đối thoại liên tôn là một yếu tố trong toàn bộ sứ mệnh truyền bá Phúc âm của Giáo hội. Lý do nền tảng của nỗ lực dấn thân đối thoại của Giáo hội không phải chỉ có tính cách nhân học: nó cũng là thần học.

            Trong cuộc đối thoại kéo dài qua các thế hệ, Thiên Chúa đã ban và tiếp tục ban sự cứu độ cho nhân loại. Giáo hội trung thành với việc Chúa khởi xướng, cảm thấy có bổn phận đi vào cuộc đối thoại của ơn cứu độ nầy với mọi người.

 

với những tín đồ các tôn giáo khác,

            39- Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã dạy rõ ràng về công cuộc nầy trong Thông điệp đầu tiên của Ngài Ecclesiam suam. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng đã nhấn mạnh rằng Giáo hội được mời gọi thực hiện việc đối thoại liên tôn và đã nêu lên nền tảng tương tự cho công cuộc nầy. Ngài từng tuyên bố với các người tham dự Đại hội của Hội đồng Giáo hoàng về Đối thoại Liên tôn năm 1984 như sau:

            “Đối thoại (liên tôn) là (sinh hoạt) nền tảng của Giáo hội, được gọi để cộng tác với chương trình của Thiên Chúa, bằng các phương pháp riêng của nó trong sự hiện diện, kính trọng và yêu thương đối với mọi người”. Nhắc lại một đoạn trong sắc lệnh Ad gentes, Ngài dạy phải lưu ý: “Trong đời sống và hoạt động của mình, các môn đệ của Chúa Kitô, mật thiết kết hợp với mọi người, hy vọng cống hiến được một chứng tá chân thật về Đức Kitô, và hoạt động cho phần rỗi của nhân loại, dù ở nơi mà họ không thể rao truyền về Chúa Kitô một cách rõ ràng” (AG 12). Ngoài ra, trước đó Ngài đã từng nói: “đối thoại được lồng vào trong sứ mệnh cứu độ của Giáo hội, nên nó là một cuộc đối thoại của ơn cứu độ”.

sự kiện nầy dẫn đến một cuộc dấn thân sâu xa hơn

            40- Trong cuộc đối thoại của ơn cứu độ ấy, Kitô hữu và những người khác đều được gọi để hợp tác với Thánh Thần của Chúa phục sinh, Thánh Thần hiện diện và tác động một cách phổ quát. Đối thoại liên tôn không chỉ nhằm đưa đến một sự thông cảm với nhau và to ra những quan hệ thân thiện. Nó cần đi đến một mức độ sâu xa hơn nhiều, nghĩa là phải ở mức siêu nhiên, trong đó sự trao đổi và chia sẻ được thực hiện như là một việc làm chứng của đôi bên về những gì mỗi người tin và là một nỗ lực khám phá chung về các niềm tin tôn giáo liên hệ. Qua công việc đối thoại, Kitô hữu và những người khác được gọi để đào sâu những chiều kích tôn giáo mà mỗi người theo đuổi, cũng như để đáp trả một cách chân thành hơn nữa lời Thiên Chúa gọi trong mỗi người, và ơn ích dưng không chính Ngài ban cho, và được chuyển đến qua trung gian của Đức Giêsu Kitô nhờ tác động của Thánh Thần Ngài, như Đức tin chúng ta nói cho chúng ta biết.

và một sự quay trở lại với Thiên Chúa.

            41- Khi nhận biết mục tiêu là nổ lực của mọi người tìm về Thiên Chúa một cách sâu xa hơn, thì đối thoại liên tôn có được giá trị độc đáo của mình. Suốt tiến trình trở lại với Chúa, “có thể có quyết định từ bỏ một lập trường tinh thần hay tôn giáo có trước để nhận lấy một lập trường khác” (DM 37). Đối thoại chân thành một mặt hàm ngụ rằng người ta chấp nhận có những khác biệt và ngay cả mâu thuẫn, và mặt khác có sự  tôn trọng quyết định tự do mà con người có quyền chọn lựa theo những mệnh lệnh của lương tâm họ (Xem DH 2). Tuy nhiên cần phải nhớ lại lời giáo huấn của Công đồng: “Tất cả mọi người đều có trách nhiệm tìm kiếm chân lý, nhất là những chân lý liên quan đến Thiên Chúa và Giáo hội Ngài; và khi họ nhận biết rồi, thì họ cần tin và tuân giữ” (DH 1).

C- Những hình thức đối thoại

 

Những hình thức đối thoại

            42-  Có nhiều hình thức đối thoại liên tôn khác nhau. Nên nhắc lại ở đây các hình thức đã được nói đến trong tài liệu năm 1984 của Hội đồng Giáo hoàng về Đối thoại liên tôn (DM 28-35). Bốn hình thức được nêu lên trong bản văn ấy, không phải có ý sắp xếp theo thứ tự ưu tiên:

            a- Đối thoại trong đời sống: nỗ lực sống với tinh thần cởi mở và thân thiết, chia sẻ những nỗi vui buồn, những vấn nn và lo âu của cuộc sống con người.

            b- Đối thoại bằng hành động: hợp tác với nhau để đi đến công cuộc phát triển toàn diện và giải phóng hoàn toàn con người.

            c- Đối thoại trong những trao đổi có tính cách thần học: các nhà chuyên môn tìm cách đào sâu kiến thức về các gia sản tôn giáo của nhau và thẩm định các giá trị siêu nhiên nơi các tôn giáo bạn.

            d- Đối thoại bằng kinh nghiệm tôn giáo: đi sâu vào chính truyền thống tôn giáo của mình, chia sẻ những giá trị siêu nhiên phong phú của mình, chẳng hn những giá trị liên quan đến cầu nguyện và chiêm niệm, đến đức tin và những con đường tìm đến Thiên Chúa hoặc đấng Tuyệt đối.

liên kết với nhau,

            43- Đừng nên xem thường tính cách đa dạng nầy của các hình thức đối thoại. Nếu chỉ giản lược đối thoại vào việc trao đổi có tính cách thần học mà thôi, thì đối thoại có thể dễ được xem như một sản phẩm xa xỉ trong sứ mệnh của Giáo hội, và như thế sẽ trở thành lãnh vực dành riêng cho các nhà chuyên môn. Trái lại, dưới sự dẫn dắt của Giáo hoàng và các giám mục mình, tất cả các Giáo hội địa phương và tất cả các thành phần của các Giáo hội ấy đều được gọi để thực thi đối thoại, nhưng không phải tất cả đều có một phương cách như nhau. Ngoài ra các hình thức khác nhau nầy dĩ nhiên được liên kết với nhau.. Những cuộc tiếp xúc trong cuộc sống hằng ngày và nỗ lực hành động chung sẽ mở ra được con đường đưa đến việc cùng nhau thăng tiến các giá trị con người và siêu nhiên. Tiếp đó chúng cũng có thể đưa đến hình thức đối thoại về kinh nghiệm tôn giáo, đáp ứng những vấn đề quan hệ mà hoàn cảnh của đời sống thường dấy lên trong tâm trí con người (xem NA 2). Các cuộc trao đổi ở mức độ kinh nghiệm tôn giáo cũng có thể làm cho các cuộc thảo luận thần học có thể soi dọi các kinh nghiệm và khích lệ các tiếp xúc đi đến tình trạng gắn bó hơn.

liên quan đến nỗ lực thăng tiến con người

            44- Cũng cần nhấn mạnh đến tầm quan trọng của đối thoại trong mục đích phát triển toàn diện, cổ võ công bằng xã hội và giải phóng con người. Các Giáo hội địa phương, là chứng tá của Đức Giêsu Kitô, được gọi để dấn thân vào lãnh vực nầy một cách không vị lợi và không thiên kiến. Các Giáo hội ấy cần cổ động cho nhân quyền, nêu lên những yêu sách của công lý và tố giác những bất công, không phải chỉ khi các tín đồ của mình là nn nhân mà thôi, nhưng cho mọi người không kể đến lý lịch tôn giáo của kẻ đang chịu đựng những bất công ấy. Mọi người cũng cần phải liên kết với nhau để cố giải quyết những vấn đề trầm trọng mà xã hội và thế giới phải đương đầu, và để cổ suý việc giáo dục lương tâm hướng đến công lý và hoà bình.

và văn hoá.

            45- Ngày nay, đối thoại liên tôn cũng rất khẩn thiết trong bối cảnh của văn hoá. Ý niệm về văn hoá rộng hơn ý niệm về tôn giáo. Theo một quan niệm nào đó, tôn giáo tiêu biểu cho chiều kích siêu việt của văn hoá, do đó có thể nói nó là hồn của văn hoá. Các tôn giáo chắc chắn đã đóng góp vào sự tiến bộ của văn hoá và vào việc xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn. Tuy vậy, đôi khi những phương thức thực hành tôn giáo đã có một ảnh hưởng gò bó đối với các nền văn hoá, và ngày nay một nếp sinh hoạt văn hoá độc lập, tục hoá có thể đóng một vai trò kiểm thảo đối với một số yếu tố tiêu cực trong tôn giáo nào đó. Vấn đề bây giờ trở thành phức tạp, vì nhiều tôn giáo có thể cùng sinh hoạt trong cùng một khung cảnh văn hoá duy nhất, và đồng thời cũng một tôn giáo lại có thể được biểu lộ trong nhiều bối cảnh văn hoá khác nhau. Có lúc những dị biệt tôn giáo cũng có thể đưa đến những nền văn hoá khác nhau trong cùng một vùng địa lý.

            46- Sứ điệp Kitô giáo cổ võ nhiều giá trị được tìm thấy và được chứng nghiệm trong các nền minh triết và gia sản phong phú của các nền văn hoá, nhưng nó cũng có thể đặt lại vấn đề về các giá trị thường đã được chấp nhận trong một nền văn hoá nhất định. Phải cần có một nỗ lực đối thoại thấu đáo để có thể khám phá và tiếp nhận những giá trị văn hoá thích ứng với nhân phẩm và vận mệnh siêu việt của con người. Mặt khác, một số khía cạnh văn hoá Kitô giáo được xem là  truyền thống có thể bị các nền văn hoá địa phương với các truyền thống tôn giáo liên hệ xét lại và đặt thành vấn đề (xem EN 20). Trong các mối tương quan phức tạp giữa văn hoá và tôn giáo, đối thoại liên tôn ở mức độ văn hoá rất quan trọng. Mục tiêu của nó nhằm vuợt thắng những căng thẳng và tranh chấp, và đôi khi còn là những cuộc đụng độ, để tiến đến một sự thông cảm tốt đẹp hơn giữa các nền văn hoá tôn giáo khác nhau trong một vùng địa lý nhất định. Nó có thể đem lại việc tinh lọc các nền văn hoá khỏi tất cả những yếu tố phi nhân, và do đó có thể là một tác năng cải hoá. Nó cũng có thể cổ võ các giá trị truyền thống đang bị đe do bởi trào lưu tân kỳ và bởi việc san bằng các giá trị theo chiều hướng h cấp mà tất cả các vận hành thế giới hoá không biết cân nhắc có thể to ra.

D- Những tâm trạng và thành quả của đối thoại liên tôn

 

Đối thọai đòi hỏi thái độ quân bình,

            47- Đối thoại đòi hỏi nơi Kitô hữu cũng như nơi các tín đồ các truyền thống tôn giáo khác một thái độ quân bình. Họ không nên quá hời hợt dễ dãi hay phê bình gay gắt, nhưng cần có tinh thần cởi mở và tiếp nhận. Chúng ta đã nói đến tâm trạng thanh thản và vô tư, cũng như việc chấp nhận những khác biệt và ngay cả những mâu thuẫn có thể có, và cũng cần quyết tâm cùng nhau dấn thân phục vụ chân lý và sẵn sàng cải hoá nhờ cuộc gặp gỡ nầy.

xác tín tôn giáo

            48- Việc đó không có nghĩa rằng, đi vào công cuộc đối thoại, thì đôi bên phải dẹp bỏ những xác tín tôn giáo của mình. Ngược lại mới là đúng: sự thành thực trong đối thoại tôn giáo đòi hỏi người ta dấn thân vào với xác tín toàn vẹn về niềm tin riêng của mình. Kitô hữu vẫn luôn trung kiên với đức tin nơi mình, biết rằng mạc khải toàn mãn đã được thông ban cho họ trong Đức Giêsu Kitô, vị trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa với con người (xem Tm 2, 4-6), đồng thời cũng phải nhớ rằng Thiên Chúa một cách nào đó đã tự tỏ lộ cho các tín đồ các truyền thống tôn giáo khác. Do đó họ được gọi để tiếp cận với các niềm tin và giá trị của người khác trong một tinh thần thông cảm.

và mở ra tiếp nhận chân lý,

            49- Ngoài ra, sự toàn mãn của chân lý được tiếp nhận nơi Đức Giêsu Kitô không ban cho Kitô hữu sự bảo đảm là mình đã thấm nhập được hoàn toàn chân lý nầy. Phân tích đến mức thấu đáo, thì chân lý không phải là một cái gì chúng ta đã sở đắc; nhưng chân lý là một ngôi vị, nhờ vào Ngài chúng ta phải để cho chân lý (= ngôi vị) ấy chiếm hữu chính chúng ta. Và đó là một nỗ lực không ngừng. Vừa giữ lấy bản sắc của mình, Kitô hữu phải sẵn sàng học hỏi và tiếp nhận, nơi những kẻ khác và qua họ, những giá trị tích cực của các truyền thống tôn giáo của họ. Nhờ đối thoại Kitô hữu có thể đi đến việc vượt thắng những định kiến ăn sâu thành cố tật, xét lại những ý tưởng cố chấp, và đôi khi còn chấp nhận rằng cách hiểu về đức tin của mình cần phải được tinh lọc.

 

nhưng đầy hứa hẹn.

            50- Nếu Kitô hữu duy trì một tinh thần cởi mở như thế và chấp nhận tự xét mình lại, thì họ có thể gặt hái những thành quả của công cuộc đối thoại. Bấy giờ họ sẽ hân hoan khám phá được tất cả những gì mà Thiên Chúa, nhờ Đức Kitô và trong Thánh Thần của Ngài, đã thực hiện và tiếp tục thực hiện trong thế giới và nhân loại. Một cuộc đối thoại chân thật không hề làm suy giảm đức tin Kitô giáo, nhưng là đào sâu đức tin ấy. Kitô hữu sẽ mãi ý thức hơn nữa về bản sắc đức tin mình và thấy rõ hơn nữa nội dung thiết yếu của sứ điệp Kitô giáo. Đức tin họ sẽ vươn đến những chân trời mới, khi họ khám phá được rằng mầu nhiệm của Đức Giêsu Kitô hiện diện linh động, vượt qua những biên giới hữu hình của Giáo hội và cộng đồng những người Kitô hữu.

E- Những trở ngi cho đối thoại

trong công cuộc đối thoại, khó khăn có thể xảy ra,

            51- Ngay trên bình diện thuần túy con người, thực hiện việc đối thoại không phải là dễ. Đối thoại liên tôn lại còn khó hơn. Cần ý thức về những trở ngi có thể xảy đến. Một số trở ngi có thể phát sinh do nơi những tín đồ của nhiều truyền thống tôn giáo khác nhau, và làm cản trở sự thành công của đối thoại. Đặc biệt hơn nữa, có những trở ngi liên quan đến một vài truyền thống tôn giáo, và có thể làm cho mọi nỗ lực thực hiện một tiến trình đối thoại trở nên khó khăn.

do những nhân tố thuộc tâm tính con người,

            52- ở đây, chúng ta nêu lên một số những trở ngi được xem là quan trọng hơn cả:

            a- Không bám rễ sâu đủ trong chính đức tin của riêng mình.

            b- Không biết và hiểu đầy đủ tín ngưỡng và phương thức hành đo của các tôn giáo khác có thể đưa đến một lối thẩm định thiếu sót về ý nghĩa của chúng, và đôi lúc còn có những giải thích sai trật.

            c- Những dị biệt có tính cách văn hoá phát xuất từ trình độ kiến thức khác nhau hoặc từ lối vận dụng các cách diễn tả khác nhau.

            d- Những nhân tố xã hội – chính trị hoặc một số các hệ quả khác của quá khứ.

            e- Hiểu sai các từ ngữ như trở lại, phép rửa, đối thoại, v.v…

            f- Chưa hoặc thiếu cởi mở, đưa đến một thái độ tự vệ, hay còn đi đến tình trạng gây hấn.

            g- Thiếu xác tín đối với giá trị của công việc đối thoại liên tôn, mà một số người có thể xem như một phận vụ dành riêng cho những nhà chuyên môn và một số khác lại xem như một dấu chứng thua cuộc hoặc còn như là một sự phản bội lại đức tin.

            h- Nghi ngờ về các động cơ thúc đẩy người đối diện trong công cuộc đối thoại.

            i- Một tinh thần tranh biện, khi diễn tả các xác tín tôn giáo.

            j- Thái độ bất tương dung, thường còn bị đẩy đến tình trạng gia trọng khi gắn liền với những nhân tố chính trị, kinh tế, giòng giống và chủng tộc; và tình trạng thiếu hỗ tương trong đối thoại có thể đưa đến một tình cảm chán ngán.

            k- Một số hiện tượng của bầu khí tôn giáo hiện nay: chủ nghĩa duy vật gia tăng, thờ ơ tôn giáo và sự nhân tăng các giáo phái to ra tình trạng hồ đồ và dấy lên những vấn đề mới.

            53- Một số lớn những trở ngi nầy phát sinh do việc thiếu hiểu biết về bản chất thực sự và mục đích của đối thoại liên tôn. Do đó cần phải giải thích không ngừng về các nội dung nầy. Công việc đòi hỏi phải hết sức nhẫn ni. ở đây cũng cần nhắc lại rằng công việc dấn thân của Giáo hội trong đối thoại không lệ thuộc vào các kết quả đạt được trong việc cảm thông làm phong phú cho nhau. Sự dấn thân đó thật ra phát xuất từ tác động chủ động của Thiên Chúa đang đến đối thoại với nhân loại và do gương mẫu của Đức Giêsu Kitô, mà cuộc sống, cái chết và sự sống lại của Ngài đã mang lại cho đối thoại lối thể hiện tối hậu.

nhưng không bao giờ được xem là không vượt qua được.

            54- Ngoài ra, những trở ngi, dù có thật, cũng không thể đưa đến việc đánh giá thấp các khả năng của đối thoại hoặc xem nhẹ những thành quả đã đạt được. Đã có được những tiến bộ trong việc cảm thông và hợp tác tích cực. Đối thoại đã gây nên một tác động tích cực trên chính Giáo hội. Các tôn giáo khác cũng thế, nhờ đối thoại, đã đi đến một bước canh tân và cởi mở hơn nhiều. Đối thoại liên tôn giúp Giáo hội chia sẻ những giá trị Phúc âm với người khác. Vì thế, dù gặp những khó khăn, việc dấn thân của Giáo hội vào công cuộc đối thoại vẫn kiên quyết và mãi còn tiếp tục.

 

II  

 

Rao truyền Chúa Giêsu Kitô

 

A- Sứ mệnh do Chúa Phục sinh ban truyền

 

Chúa Giêsu đã sai các môn đệ Ngài rao truyền Phúc âm

            55- Chúa Giêsu đã ban truyền cho các môn đệ Ngài sứ mệnh rao truyền Phúc âm. Sự việc đó được bốn bản Phúc âm và sách Tông đồ Công vụ chép lại. Tuy thế có một vài nét riêng trong mỗi bản văn thể theo các truyền thống được ghi lại. Trong Phúc âm của Mathêu, Đức Giêsu nói với các môn đệ Ngài rằng: “Mọi quyền hành trên trời dưới đất đã trao cho Thầy. Vậy các con hãy thu np môn đồ khắp các dân tộc, rửa tội họ nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và dạy họ tuân giữ hết mọi điều Thầy đã truyền cho các con. Và Thầy, Thầy sẽ ở cùng các con mãi mãi, cho đến ngày tận thế” (Mt 28, 18-20).

Phúc âm của Marcô nêu lên lời răn dạy nầy một cách cô đọng hơn: “Các con hãy đi khắp thế giới, hãy công bố  Tin mừng cho tất cả mọi loài thụ to. Ai tin và chịu phép rửa tội, thì sẽ được cứu rỗi; ai không tin, thì sẽ bị luận tội” (Mc 16, 15-16).

Trong Phúc âm của Luca lối diễn tả ít trực tiếp hơn: “Đã viết như thế nầy: Đức Kitô đã phải chịu khổ nn và ngày thứ ba thì sống lại từ cõi chết; và nhân Danh Ngài, sự thống hối để được ơn tha thứ tội lỗi cần phải được công bố cho mọi dân tộc, bắt đầu từ Giêrusalem. Về các điều ấy, các con là những chứng nhân” (Lc 24, 46-48).

            Sách Công vụ nhấn mạnh đến khung cảnh rộng lớn hơn của việc làm chứng: “Các con sắp nhận được một sức mạnh, sức mạnh đó của Chúa Thánh Thần Đấng sẽ xuống trên các con. Bấy giờ các con sẽ làm chứng cho ta ở Giêrusalem, trong tất cả vùng Giuđêa và Samaria và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8).

            Và trong Phúc âm của Gioan, sứ mệnh đó còn được diễn tả một cách khác nữa: “Như Cha đã gửi con đến thế gian, con cũng vậy, con đã gửi họ đến thế gian” (Gioan 17, 18); “Cũng như Cha đã gửi Thầy đến, thì Thầy cũng gửi các con đi” (Gioan 20, 21).

            Rao truyền Tin mừng cho mọi người, làm chứng, thu np môn đệ, rửa tội, giảng dạy, tất cả những lãnh vực nầy to nên sứ mệnh truyền bá Phúc âm của Giáo hội, và phải được nhìn trong ánh sáng sứ mệnh của chính Chúa Giêsu, sứ mệnh mà Ngài đã nhận từ Chúa Cha.

mà chính Ngài đã rao truyền,

            56- Đức Giêsu đã công bố Tin mừng đến từ Thiên Chúa bằng những lời nầy: “Các thời đã hoàn tất và Nước của Thiên Chúa cận kề; các ngươi hãy thống hối và hãy tin vào Tin mừng” (Mc 1, 14-15). Đoạn nầy tóm lược toàn bộ công trình Đức Giêsu. Đức Giêsu tuyên bố Tin mừng về Nước Chúa không phải chỉ bằng lời nói, nhưng cũng bằng hành động, thái độ và sự chọn lựa của Ngài, nghĩa là bằng toàn bộ cuộc sống và cuối cùng bằng cái chết và sự sống lại của Ngài. Những dụ ngôn, các phép l, các việc trừ ma quỉ Ngài đã làm, tất cả đều được nối kết vào Nước Thiên Chúa mà Ngài rao truyền. Hơn nữa Nuớc Trời đó không phải chỉ là một nội dung để Ngài rao truyền. Nhưng Đức Giêsu cho thấy rõ ràng rằng chính bởi Ngài và trong Ngài mà Nước Thiên Chúa đang được thiết lập trong thế giới (Lc 17, 20-21) và trong Ngài nước Trời đã hiện diện giữa chúng ta, mặc dù nó còn phải lớn lên, hướng đến sự chung toàn .

và Ngài đã làm chứng bằng cuộc sống Ngài.

            57- Lời giảng dạy của Ngài được xác nhận bởi cuộc sống Ngài “Giả như các người không tin Ta, thì hãy tin vào việc làm nầy” (Gioan 10, 38). Cũng bằng cách đó, các việc Ngài làm được giải thích bởi những lời nói của Ngài, phát sinh từ ý thức kết hợp làm một với Chúa Cha. “Trong chân lý, trong chân lý ta nói điều nầy với các ngươi, Con không thể tự mình làm điều gì, mà không thấy nó được làm nơi Cha” (Gioan 5, 19). Trước Philatô, Đức Giêsu đã nói rằng Ngài đã đến trong thế gian “để làm chứng cho chân lý” (Gioan 18, 37). Chính Chúa Cha cũng làm chứng cho Đức Giêsu do những lời nói đến từ trời cũng như qua những việc làm đầy quyền năng và những dấu chứng mà Đức Giêsu có khả năng thực hiện. Chính Chúa Thánh Thần ban “ấn dấu” của Ngài để làm chứng về Đức Giêsu, chứng nhận rằng Đức Giêsu là chân thật (Gioan 3, 32-35).

B- Vai trò của Giáo hội

 

Việc rao truyền được trao phó cho Giáo hội

            58- Cần phải hiểu sứ mệnh Chúa sống lại đã trao phó cho Giáo hội của các tông đồ (tông truyền) trong bối cảnh nầy. Sứ mệnh Giáo hội là công bố Nước Thiên Chúa được thiết lập trên trần gian trong Đức Giêsu Kitô, bởi cuộc sống, sự chết và sự sống lại của Ngài; sự kiện đó nơi Đức Giêsu Kitô là ơn cứu độ có tính cách quyết định và phổ quát mà Thiên Chúa thực hiện cho thế giới. Vì vậy “không có việc loan báo Phúc âm chân thật nếu danh xưng, giáo huấn, đời sống, các lời hứa, Nước trời và mầu nhiệm của Đức Giêsu Nazareth, con Thiên Chúa, không được rao truyền” (EN 22). Bởi thế có một sự liên tục giữa Nước Trời mà Đức Giêsu rao giảng và mầu nhiệm Đức Kitô mà Giáo hội rao truyền.

tiếp tục sự rao giảng của Đức Giêsu.

            59- Giáo hội tiếp tục sứ mệnh Đức Giêsu, và Giáo hội đó là “hạt giống và sự bắt đầu” Nước Trời (HC Ánh sáng Muôn dân 5). Giáo hội phục vụ cho Nước Trời ấy và “làm chứng” về nó. Công việc đó hàm ngụ việc làm chứng đức tin vào Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu chuộc, bởi vì đấy chính là tâm điểm của Đức tin và sự sống của Giáo hội. Trong lịch sử Giáo hội, tất cả các tông đồ đã là những “chứng nhân” về sự sống, sự chết, và sự sống lại của Chúa Kitô . Việc làm chứng được thực hiện bằng lời nói và bằng hành động, mà ta không thể xem là đối kháng nhau. Hành động xác minh lời nói, nhưng không có lời nói thì hành động có thể bị giải thích sai trật. Việc làm chứng của các tông đồ, bằng lời nói và bằng dấu chứng, lệ thuộc vào Thánh Thần do Chúa Cha gửi đến, để hoàn thành phận vụ làm chứng ấy .

C- Nội dung của rao truyền

 

Phêrô đã rao giảng Đức Kitô Phục sinh,

            60- Trong ngày Hiện xuống, Thánh Thần xuống trên các tông đồ, hoàn thành lời hứa của Đức Kitô. Vào lúc ấy “Có những người đo hnh cư ngụ ở Giêrusalem, đến từ tất cả các nước dưới vòm trời” (Cv 2, 5). Danh sách liệt kê các dân tộc hiện diện được nêu lên trong sách Công vụ nhằm nhấn mạnh đến tầm phổ quát của biến cố Giáo hội đầu tiên nầy. Nhân danh 11 vị tông đồ, Phêrô lên tiếng nói với đám đông tụ họp, rao truyền Đức Giêsu Đấng được Thiên Chúa ủy nhiệm bằng các phép l và những việc kỳ diệu, chịu đóng đinh do con người, nhưng được Thiên Chúa cho sống lại. Ngài kết luận và nói: “Vậy toàn nhà Israel hãy biết điều nầy một cách chắc chắn: Thiên Chúa đã tôn vinh Đức Giêsu làm Chúa và là Đấng Kitô, Đức Giêsu ấy chính các ngươi đã đóng đinh” (Cv 2,36). Vị tông đồ tiếp tục nói, mời gọi những người nghe ngài thống hối, trở thành môn đệ Đức Giêsu, bằng phép rửa nhân danh Đấng ấy để được xoá hết các tội lỗi, và nhận ơn Chúa Thánh Thần. Không lâu sau dịp nầy, trước Hội đồng Công tọa của người Do Thái, Phêrô làm chứng về đức tin mình vào Chúa Kitô phục sinh, bằng lời xác quyết rõ ràng: “Dưới bầu trời không có danh xưng nào khác ban cho con người nhờ đó chúng ta cần được cứu độ” (Cv 4, 11-12). Tính phổ quát về sứ điệp cứu độ của Kitô giáo lại xuất hiện trong bản tường thuật về sự trở lại của Cornêliô. Khi Phêrô làm chứng về cuộc sống và công việc làm của Đức Giêsu, từ lúc khởi đầu sứ vụ của Ngài ti Galilêa đến khi Ngài sống lại thì “Thánh Thần hiện xuống trên tất cả những người nghe lời giảng”, làm cho những kẻ đi theo Phêrô phải ngc nhiên vì thấy “rằng ơn Thánh Thần cũng đã tràn đổ xuống trên những người ngoại giáo” (Cv 10, 44-45).

Phaolô đã rao truyền mầu nhiệm

được giữ kín từ bao thế kỷ,

            61- Như thế, sau biến cố Hiện xuống, các tông đồ xuất hiện như những chứng nhân về sự sống lại của Đức Kitô (xem Cv 1, 22; 4, 33; 5, 32-33), hoặc nói gọn hơn là những chứng nhân về Đức Kitô (xem Cv 3, 15; 13, 31). Điều đó được thấy rõ ràng hơn cả trong trường hợp của Phaolô. Ngài được kêu gọi làm Tông đồ, được tách riêng “để rao truyền Phúc âm” (Rm 1, 1-2). Ngài đã nhận nơi Đức Giêsu Kitô “ân sủng và sứ vụ tông đồ để vì Danh Chúa  giảng về sự tuân phục đức tin giữa tất cả các người ngoại giáo” (Rm 1, 5). Phaolô giảng “Phúc âm của Thiên Chúa, mà trước đây Ngài đã hứa qua các tiên tri của Ngài trong Sách Thánh” (Rm 1, 2), “Phúc âm của Con Ngài” (Rm 1, 9). Vị tông đồ rao giảng một Đức Kitô chịu đóng đinh, “cớ vấp phạm cho người Do Thái và điên rồ đối với người ngọai giáo” (1 Co1, 23; xem 2, 2): “Thực vậy về nền móng, thì không ai có thể đặt một nền nào khác ngoài cái nền đã đặt đó rồi” (1 Co 3, 11). Có thể nói, toàn bộ sứ điệp của Phaolô tóm kết trong lời tuyên bố long trọng với người Êphêsô:

            “Tôi là người nhỏ hèn nhất giữa các thánh hết thảy, đã được ơn nầy ban xuống cho tôi là rao truyền cho người ngoại giáo sự phong phú khôn lường của Đức Kitô và nêu rõ sự an bài của Mầu nhiệm; (Mầu nhiệm ấy) đã được cất dấu từ muôn đời trong Thiên Chúa, Đấng To dựng nên muôn vật, (đó là) sự khôn ngoan vô tận về các nguồn phong phú, (nay) được Thiên Chúa thông ban và được biết đến qua các con đường của Giáo hội nơi ý định vĩnh cửu mà Thiên Chúa đã dự kiến trong Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta” (Ep 3, 8-11).

            Đoạn văn như thế còn thấy trong các Thư mục vụ. Thiên Chúa “muốn rằng mọi người được cứu độ và đạt đến sự hiểu biết chân lý. Vì Thiên Chúa là duy nhất, nên Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và con người cũng duy nhất (đó là) Đức Giêsu Kitô, Ngài cũng là con người, đã tự nộp mình làm của chuộc cho tất cả” (1 Tm 2, 4-6). Mầu nhiệm đó của tôn giáo chúng ta “rất thâm sâu” được diễn tả trong một đoạn văn phụng vụ:

            “Ngài đã biểu hiện trong xác thịt, chứng thực nhờ Thánh Thần, bày tỏ cho Thiên thần, loan báo giữa dân ngoại, tin kính trong hoàn vũ, được đưa vào chốn vinh quang” (1 Tm 3, 16)

Gioan làm chứng về Lời ban sự sống.

            62- Nếu chúng ta đọc Phúc âm của Tông đồ Gioan, chúng ta thấy rằng Ngài tự giới thiệu mình trước hết là một chứng nhân, một kẻ đã thấy Đức Giêsu và đã khám phá  mầu nhiệm của Chúa (xem Gioan 13, 23-25; 21, 24) “Điều mà chúng tôi đã thấy và đã nghe chúng tôi rao truyền lại cho các người, để các người hiệp thông với chúng tôi” (Gioan 1, 3). “Phần chúng tôi, chúng tôi đã chiêm ngắm và chứng thực rằng Chúa Cha đã sai Chúa con đến, Đấng cứu chuộc thế gian” (1 Gioan 1, 14). Mầu nhiệm Nhập thể là trung tâm sứ điệp của Gioan “Ngôi Lời đã trở thành thân xác, Ngài đã ở giữa chúng ta, và chúng ta đã thấy vinh quang của Ngài, vinh quang mà Ngài có được từ Cha Ngài, như người con duy nhất, đầy ân sủng và chân lý” (Gioan 1, 14). Nên trong Đức Giêsu, người ta có thể thấy Chúa Cha (xem Gioan 14, 9); Ngài là đường dẫn đến Chúa Cha (Gioan 14, 6). Khi bị treo lên trên Thánh giá, Ngài lôi kéo tất cả mọi người về Cha (xem Gioan 12, 32). Ngài đúng thật “là Đấng cứu chuộc thế gian” (Gioan 4, 42).

Lời mà Giáo hội loan truyền, thì đầy quyền năng.

            63- Phaolô đã viết cho Timôtê “Con hãy rao truyền Lời [Chúa]” (2 Tm 4,2). Nội dung lời nầy được diễn tả bằng nhiều cách; đó là Nuớc Trời (xem Công vụ 20, 25), Tin mừng về Nước Trời (xem Mt 24, 14), Tin mừng đến từ Thiên Chúa (xem Mc 1, 14; 1 Th 2, 9). Nhưng những cách hành văn khác nhau nầy đều có chung một nghĩa: Rao giảng Đức Giêsu (xem Công vụ 9, 20; 19, 13), rao giảng Đức Kitô (xem Công vụ 8, 5). Đức Giêsu đã nói lên lời Thiên Chúa thế nào (xem Gioan 3, 34) , thì các tông đồ rao giảng về Lời Thiên Chúa như thế, vì Đức Giêsu mà họ rao giảng là Lời (của Thiên Chúa).

            Do đó, sứ điệp Kitô giáo là một sứ điệp quyền năng, cần tiếp nhận sứ điệp ấy vì nó thật sự “không phải một lời nói của con người, nhưng là Lời của Thiên Chúa” (1 Th 2, 13). Lời được tiếp nhận trong đức tin sẽ là Lời “đem lại sự sống và hữu hiệu”, “còn sắc bén hơn bất cứ  gươm đao hai lưỡi nào” (Hc 4, 12). Đó sẽ là Lời thanh tẩy (xem Gioan 15, 3); nó sẽ là nguồn suối của chân lý mang lại tự do (xem Gioan 8, 31-32). Lời trở thành một sự hiện diện nơi thâm sâu “Nếu ai yêu ta, người ấy sẽ giữ lời Ta, và Cha Ta sẽ yêu người đó và chúng ta sẽ đến với nó và sẽ chọn lòng nó làm nơi cư ngụ của chúng ta” (Gioan 14, 23). Đấy là Lời Thiên Chúa mà Kitô hữu cần phải rao truyền.

 

D- Sự hiện diện và sức mạnh của Thánh thần

 

Giáo hội dựa vào sự hiện diện

            64- Khi rao truyền Lời nầy, Giáo hội biết rằng mình có thể dựa vào Thánh Thần, Đấng vừa thúc đẩy việc rao truyền và đồng thời đưa những ai nghe được Lời ấy biết tuân phục đức tin.

            “Chính Chúa Thánh Thần, hôm nay cũng như vào những buổi đầu của Giáo hội, hành động trong mỗi một người rao truyền Phúc âm; người ấy để Thánh Thần thấm nhập nơi mình và hướng dẫn mình; và Thánh Thần cho họ nói những lời mà tự sức họ không thể tìm ra, đồng thời Ngài cũng chuẩn bị tâm hồn người nghe để người nầy có thể mở lòng tiếp nhận Tin mừng và Nước Chúa đã được rao truyền” (EN 75).

và quyền năng của Thánh Thần,

            65- Sức mạnh của Thánh Thần được chứng thực bởi sự kiện là việc làm chứng mạnh mẽ nhất thường được thực hiện vào đúng lúc mà người môn đệ thấy mình lúng túng hơn cả, không biết phải nói gì, làm gì, thế nhưng vẫn trung kiên. Như Thánh Phaolô nói rằng: “Tôi vênh vang đặc biệt về những yếu đuối của tôi hầu quyền năng của Đức Kitô hiện diện nơi tôi. Vậy, tôi vui mừng trong sự yếu hèn của tôi, trong lăng nhục, trong quẫn bách, trong bắt bớ, trong khắc khoải phải chịu vì Đức Kitô; vì khi tôi yếu hèn, thì lúc ấy tôi lại mạnh mẽ” (2 Co 12, 9-10).

Việc làm chứng tá đó Thánh Thần đưa những người nam, nữ biết được Đức Giêsu là Chúa, không phải là một công lao của con người nhưng là việc làm của Thiên Chúa.

E- Khẩn thiết phải rao truyền

 

để hoàn thành phần vụ của mình

            66- Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã nói về phần vụ rao truyền trong Tông huấn Evangelii Nuntiandi như sau:

            “Việc rao truyền sứ điệp Phúc âm đối với Giáo hội không phải là một đóng góp tùy nghi; đó là một bổn phận do Chúa Giêsu trao phó để mọi người có thể tin và được cứu độ. Vâng, sứ điệp đó cần thiết. Sứ điệp duy nhất không thể thay thế. Không thể dửng dưng, trộn lẫn hay vá víu. Nó quan hệ với sự cứu độ con người” (EN 5). Thánh Phaolô đã nhấn mạnh đến sự khẩn thiết phải rao truyền: “Nhưng làm sao nêu lên Ngài mà trước đó đã không tin vào Ngài? Và làm sao nghe được Ngài khi không có ai từng rao giảng?…Nên đức tin có được nhờ rao giảng, và rao giảng được thực hiện bằng Lời của Đức Kitô” (Rm 10, 14 tiếp theo).

            “Luật nầy đã được đặt ra trước đây do Tông đồ Phaolô thì nay vẫn luôn có tác động mạnh mẽ…Chính Lời được lắng nghe dẫn đưa con người đến đức tin” (EN 42). Cũng cần nhớ lại một lời nói khác nữa của Phaolô: “Thật vậy, đối với tôi rao giảng Phúc âm không phải là một tước hiệu vinh vang; đó là một sự cần thiết bó buộc tôi. Vâng, khốn cho tôi nếu không rao giảng Phúc âm ” (1 Co 9, 16).

là rao truyền ơn cứu độ nơi Chúa Giêsu Kitô.

            67- Rao truyền là một sự đáp ứng các khát vọng của nhân loại hướng đến ơn cứu độ.

“ở bất cứ nơi đâu Thiên Chúa mở ra một cơ hội thuận lợi cho việc rao giảng để công bố mầu nhiệm của Đức Kitô, thì người ta phải rao truyền Thiên Chúa hằng sống cho mọi người một cách mạnh dạn và kiên quyết, và phải rao truyền Đấng mà Thiên Chúa gửi đến để cứu rỗi tất cả mọi người, Đấng ấy là Đức Giêsu Kitô, để người không phải là Kitô hữu, nhờ Thánh Thần mở rộng lòng họ, tin và tự do quay lại với Chúa và thành tâm gắn bó với Ngài; Đấng là “Đường, Sự thật và là Sự sống” (Gioan 14, 6) sẽ đáp ứng mọi sự trông chờ của họ về mặt siêu nhiên, và còn hơn thế nữa sẽ ban cho họ dư đầy vượt xa những điều họ mong ước” (AG 13).

F- Những phương cách rao truyền

 

Giáo hội bước theo sự hướng dẫn

của Chúa Thánh Thần

            68- Khi tuyên xưng sứ điệp của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô, Giáo hội truyền giáo phải luôn nhớ lại rằng việc rao truyền đó không phải được thực hiện trong không không hư vô. Vì Thánh Thần, là Thần trí của Đức Kitô hiện diện và linh hoạt giữa những người được nghe Tin mừng, ngay cả trước khi Giáo hội dấn thân thực hiện công tác truyền giáo (RH 12; DV 53). Trong nhiều trường hợp, họ có thể đã từng mặc nhiên đáp trả ơn cứu độ đã cống hiến cho họ nơi Chúa Giêsu Kitô: một trong những dấu chứng có thể thấy đó là việc họ sống thành khẩn các truyền thống tôn giáo riêng của họ, một khi các truyền thống nầy có những giá trị tôn giáo thật sự. Họ có thể đã được Chúa Thánh Thần tác động, và một cách nào đó được kết hợp với mầu nhiệm phục sinh của Chúa Giêsu Kitô, mà họ không biết (xem GS 22).

đồng thời biết cách thực hiện việc rao truyền

            69- Giáo hội lưu tâm đến những điều Thiên Chúa đã thực hiện nơi những người mà Giáo hội tiếp cận, nên cố gắng khám phá ra phương cách thích ứng để rao truyền Tin mừng. Giáo hội noi theo lối giáo dục của Chúa. Nghĩa là Giáo hội noi theo gương Chúa Giêsu và quan sát thời buổi đúng theo tác động hướng dẫn của Thánh Thần. Chính Chúa Giêsu đã tuần tự từng bước mạc khải cho những người nghe Ngài về ý nghĩa của Nước Trời, chương trình cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện trong chính mầu nhiệm nơi Ngài. Dần hồi, và hết sức chu đáo, Ngài đã khai mở cho họ biết được nội dung sứ điệp của Ngài, địa vị làm con Thiên Chúa của Ngài và khổ nhục của Thánh giá. Ngay cả các môn đệ thân tín nhất cũng chỉ đạt đến đức tin trọn vẹn vào Thầy mình khi đã sống qua kinh nghiệm Thánh giá và Phục sinh và khi đã tiếp nhận ơn Thánh Thần, như các bản Phúc âm từng ghi lại. Nên những ai muốn làm môn đệ Đức Giêsu, hôm nay cũng sẽ đi qua con đường nầy, con đường của khám phá và dấn thân. Và việc rao truyền mà Giáo hội thực hiện cũng sẽ tuần tự và kiên nhẫn, đồng hành với bước đi của những kẻ nghe sứ điệp, tôn trọng tự do của họ và còn cả “sự chậm tin nơi họ” (xem EN 79).

với chính những đức tính của Phúc âm,

   70- Công việc rao truyền của Giáo hội đòi hỏi những đức tính khác nữa. Nó phải:

a- Dựa vào quyền năng của Chúa Thánh Thần và tuân theo lời dạy của Chúa .

b- Trung thành với giáo huấn do Chúa Kitô truyền (xem EN 15). Sự trung thành với sứ điệp, mà chúng ta là những kẻ phục vụ, là trục chính của việc truyền bá Phúc âm (EN 4) “Rao truyền Phúc âm không phải là một hành vi cá nhân và riêng rẽ của bất kỳ ai, nhưng là một hành vi tự căn có tính cách Giáo hội” (EN 60).

c- Khiêm tốn, vì ý thức rằng sự toàn hảo của mạc khải nơi Đức Giêsu Kitô đã được tiếp nhận như một ơn dưng không, và cũng vì ý thức rằng cuộc sống của những người loan báo sứ điệp Phúc âm không phải lúc nào cũng hoàn toàn tương hợp với những yêu sách  của Phúc âm đó.

d- Tôn kính sự hiện diện và tác động của Thánh Thần Thiên Chúa trong tâm hồn của những người lắng nghe sứ điệp, nhìn nhận Thánh Thần là “người chủ động trong việc rao truyền Phúc âm” (EN 75).

e- Có tinh thần đối thoại, vì trong việc rao truyền, người nghe Lời Chúa không được xem là một kẻ thụ động. Có một tiến trình, đi từ “những hạt mầm Lời Chúa” đã hiện diện trong người nghe, dẫn đưa người ấy đến mầu nhiệm trọn đầy của ơn cứu độ nơi Chúa Giêsu Kitô. Giáo hội phải nhận ra rằng có một tiến trình thanh lọc và soi sáng, trong đó Thánh Thần Chúa mở trí lòng người nghe đón nhận đức tin.

f- Hội nhập vào khung cảnh văn hoá và truyền thống đo đức siêu nhiên của những kẻ mình tiếp cận, để không những, sứ điệp được người nghe hiểu, nhưng còn được cảm nhận như đáp ứng được chính khát vọng sâu xa của chính lòng họ, đúng là Tin mừng mà họ chờ đợi (xem EN 20, 62).

kết hiệp mật thiết với Chúa Kitô.

            71- Để có được những đức tính nầy, Giáo hội không những lưu ý đến hoàn cảnh cuộc sống và kinh nghiệm tôn giáo của những kẻ mình rao truyền sứ điệp, mà còn phải sống trong cuộc đối thoại liên tục với Chúa và Thầy mình bằng sự cầu nguyện, thống hối, suy niệm và đời sống phụng vụ, đặc biệt là phép Thánh thể. Bấy giờ việc rao truyền và tôn dương sứ điệp Phúc âm mới trở thành sống động thực sự.

 

G- Những trở ngi trong việc rao truyền

 

Công cuộc rao truyền gặp những khó khăn

            72- Rao truyền Tin mừng của Giáo hội có những yêu sách quan trọng đặt ra cho Giáo hội truyền bá Tin mừng, cho những phần tử dấn thân vào công việc truyền bá Tin mừng, cũng như cho những người được Thiên Chúa gọi để tiếp nhận đức tin Kitô giáo. Đây không phải là một phận vụ dễ dàng. Ta nêu lên đây một số những trở ngi chính yếu có thể gặp phải:

từ phía Kitô hữu

            73- Trở ngi bên trong:

            a- Có thể cuộc sống Kitô hữu biểu lộ một chứng tá không tương hợp với đức tin của mình; vì thế có khoảng cách giữa những lời nói và các việc làm, giữa sứ điệp Kitô giáo và cách sống của người ấy.

            b- Kitô hữu có thể thiếu sót trong việc loan truyền Phúc âm “do trễ nải, ngi ngùng, xấu hổ – điều mà thánh Phaolô từng gọi là “hổ ngươi về Phúc âm” – hoặc do những ý nghĩ sai lạc” (EN 80) về vấn đề chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

            c- Kitô hữu không quí, không trọng các tín đồ cũng như các truyền thống tôn giáo khác thì khó có thể loan truyền Tin mừng cho họ được.

            d- Nơi một số Kitô hữu, có một thái độ tự tôn về mặt văn hoá. Điều đó có thể đưa đến việc cho rằng sứ điệp Kitô giáo lại gắn liền với một nền văn hoá đặc loại cần phải áp đặt cho những kẻ trở lại.

và từ bên ngoài cộng đồng Kitô giáo.

            74- Trở ngi bên ngoài:

a- Gánh nặng lịch sử làm cho việc rao truyền khó khăn hơn, vì lắm khi một vài phương pháp truyền giáo được áp dụng thủa trước đã dấy lên nhiều nghi ngờ và lo sợ nơi những tín đồ các tôn giáo khác.

b- Các tín đồ các tôn giáo khác có thể sợ rằng công cuộc truyền bá Phúc âm của Giáo hội có thể làm tiêu tan tôn giáo và văn hoá mình.

c- Một quan điểm khác về nhân quyền hoặc việc không thực thi nhân quyền có thể làm tổn thương sự tự do tôn giáo.

d- Việc bắt bớ có thể làm cho việc rao truyền đặc biệt khó khăn, kể cả có lúc không thực hiện được. Tuy nhiên, cần nhớ rằng Thánh giá là nguồn suối sự sống: “Máu các vị tử đo là hạt giống Kitô hữu”.

e- Việc đồng hoá một tôn giáo cá biệt với nền văn hoá quốc gia, hoặc với một hệ thống chính trị, to ra một bầu khí bất tương dung.

f- Trong một vài nơi, luật cấm trở lại đo, hoặc những người đã trở lại theo Kitô giáo gặp phải những vấn đề xã hội nghiêm trọng như bị tẩy chay ra khổi cộng đồng tôn giáo gốc, khỏi môi trường xã hội hoặc khung cảnh văn hoá của họ.

g- Trong một bối cảnh đa nguyên tôn giáo, nguy cơ của thái độ thờ ơ, tương đối, chắp vá bừa bãi về mặt tôn giáo, to nên những trở ngi cho việc rao truyền Phúc âm.

 

H- Rao truyền trong sứ mệnh truyền bá Phúc âm của Giáo hội

 

Trong sứ mệnh truyền bá phúc âm của Giáo hội

            74- Trước đây sứ mệnh truyền bá phúc âm của Giáo hội đôi lúc chỉ hiểu như là việc kêu mời mọi người trở thành môn đệ Chúa Giêsu trong Giáo hội. Dần hồi một lối hiểu rộng hơn về việc truyền bá Phúc âm phổ biến, nhưng dù thế nào thì việc loan truyền mầu nhiệm Đức Kitô vẫn là trọng tâm. Sắc lệnh của Công đồng Vaticanô II về sinh hoạt truyền giáo của Giáo hội nêu lên tình liên đới với nhân loại, đối thoại và hợp tác, trước khi nói đến việc làm chứng và loan truyền Phúc âm (xem AG 11-13). Thượng Hội đồng Giám mục năm 1974, và Tông huấn Evangelii Nuntiandi tiếp sau đều dùng chữ Phúc âm hoá (= truyền bá Phúc âm) theo một nghĩa rộng. Trong việc truyền bá Phúc âm, cả toàn thể con người của kẻ rao truyền chiếu rọi ra trong lời nói, hành động và chứng tá trong cuộc sống của mình (xem EN 21-22). Và công việc rao truyền cũng vậy, nó tràn lan đến những gì liên quan đến con người, vì nó tìm cách thăng tiến văn hoá và các nền văn hoá bằng sức mạnh của Phúc âm (xem EN 18-20). Nhưng Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã xác định rõ rằng: “Truyền bá Phúc âm cũng luôn phải thiết định – nền tảng, trung tâm điểm và đỉnh cao sinh lực của mình – trong việc tuyên dương một cách rõ rệt  rằng trong Chúa Giêsu Kitô, con Thiên Chúa làm người, chết và sống lại, sự cứu độ được ban cho mọi người như là ơn của ân sủng và lòng nhân hậu của Thiên Chúa” (EN 27). Chính từ trong ý nghĩa nầy mà tài liệu năm 1984 của Hội đồng Giáo hoàng về Đối thoại Liên tôn đặt việc rao truyền vào số những yếu tố khác nhau cấu to nên sứ mệnh truyền bá Phúc âm của Giáo hội (xem DM 13).

rao truyền là môt bổn phận linh thiêng

            76- Tuy vậy, cần nhấn mạnh thêm một lần nữa việc tuyên dương Danh Chúa Giêsu và mời gọi con người trở thành môn đệ Chúa trong Giáo hội là một bổn phận quan trọng và linh thiêng nữa, bổn phận mà Giáo hội không thể nào xao lảng. Không có nó thì việc truyền bá Phúc âm sẽ bất toàn: Không có yếu tố then chốt nầy, thì các việc khác, dù là những hình thức chân thật của sứ mệnh nơi Giáo hội, sẽ mất đi sự nhất thống và sinh lực của chúng. Nên trong những hoàn cảnh vì lý do chính trị hoặc vì những lý do khác mà rao truyền không thể thực hiện được, thì Giáo hội vẫn hoàn thành sứ mệnh truyền bá Phúc âm của mình, không những bằng sự hiện diện và làm chứng, mà còn bằng những sinh hoạt như dấn thân vào công việc phát triển con người toàn diện và bằng bằng chính việc đối thoại. Mặt khác, trong những hoàn cảnh mà người ta sẵn sàng lắng nghe sứ điệp của Phúc âm và có thể đáp trả lại, thì Giáo hội có bổn phận thực thi những điều họ trông đợi.

III

Đối thoại Liên tôn và Rao truyền

 

A- Liên hệ với nhau nhưng không thay thế cho nhau

 

Sứ mệnh của Giáo hội

            77- Đối thoại liên tôn và rao truyền đều là những yếu tố thật sự của sứ mệnh truyền bá Phúc âm nơi Giáo hội, nhưng không ở trên cùng một bình diện. Cả hai đều chính đáng và cần thiết. Chúng liên hệ chặt chẽ với nhau  nhưng không thay thế cho nhau: đối thoại liên tôn chân thật của người Kitô hữu phát xuất từ ước muốn làm cho kẻ khác biết và yêu mến Chúa Giêsu Kitô mỗi ngày mỗi nhiều hơn, và rao truyền Chúa Giêsu Kitô phải được thực hiện trong tinh thần đối thoại của Phúc âm. Hẳn nhiên, hai lãnh vực nầy đứng riêng, nhưng, như kinh nghiệm cho thấy, cũng một Giáo hội địa phương duy nhất ấy, cũng một con người duy nhất ấy lại có thể dấn thân một cách khác nhau vào lãnh vực nầy và cả lãnh vực kia.

phải bén nhy trước những hoàn cảnh khác nhau

            78- Trong thực tế, phương cách thi hành sứ mệnh của Giáo hội tùy thuộc những hoàn cảnh cá biệt của mỗi Giáo hội địa phương, của mỗi Kitô hữu. Nó luôn hàm ngụ một sự bén nhậy nào đó liên quan đến chiều kích xã hội, văn hoá, tôn giáo và chính trị của hoàn cảnh, và một mối lưu tâm đến “những dấu chỉ thời đi”, xuyên qua Thánh Thần của Thiên Chúa nói, dạy và dẫn dắt. Một sự nha bén và lưu tâm như thế được triển nở trong bầu khí siêu nhiên về đối thoại. Sự linh hoạt siêu nhiên đó đòi hỏi một nỗ lực cân nhắc dựa vào việc cầu nguyện, suy tư thần học về ý nghĩa của các truyền thống tôn giáo khác nhau trong chương trình của Thiên Chúa, cũng như về ý nghĩa của kinh nghiệm nơi những kẻ tìm được lương thực siêu nhiên trong các truyền thống tôn giáo nầy.

 

 

B- Giáo hội và các tôn giáo

 

Sứ mệnh của Giáo hội đi đến với mọi người

            79- Khi thực thi sứ mệnh của mình, Giáo hội tiếp cận với những con người thuộc các truyền thống tôn giáo rất dị biệt. Một số người trở thành môn đệ của Chúa Giêsu Kitô, trong Giáo hội Ngài, sau khi đã thực tâm trở lại theo quyết định hoàn toàn tự do của mình. Một số khác quí mến con người của Đức Giêsu và sứ điệp của Ngài, nhưng vì những lý do khác nhau không đi vào đàn chiên của Ngài. Một số khác nữa đường như ít quan tâm hoặc không quan tâm về Đức Giêsu. Nhưng dù thế nào, thì sứ mệnh của Giáo hội nhằm đến mọi người. Người ta có thể thấy được rằng, qua đối thoại, Giáo hội có một vai trò tiên tri liên quan đến các tôn giáo mà con người gia nhập.

            Khi làm chứng về các giá trị của Phúc âm, Giáo hội nêu lên câu hỏi cho các tôn giáo nầy. Đồng thời, vì mang dấu tích bởi những giới hn của thân phận con người, Giáo hội có thể tự vấn lại mình như thế. Trong nỗ lực cổ suý giá trị nầy, với tinh thần hăng say và tôn kính đối với mầu nhiệm của Thiên Chúa, các phần tử của Giáo hội và các tín đồ các tôn giáo khác gặp gỡ nhau và nhận ra nhau như những bạn đồng hành trên con đường chung mà nhân loại được gọi để bước đi. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II, trong buổi kết thúc ngày cầu nguyện, ăn chay và hành hương cho hoà bình ti Assisi đã từng nói: “Chúng ta hãy xem đây là một tiền cảnh của điều mà Thiên Chúa muốn thấy được thực hiện trong lịch sử của nhân loại: một bước đi trong tình huynh đệ, trong đó chúng ta cùng dẫn dắt nhau tiến về một mục tiêu siêu việt mà Ngài chuẩn bị cho chúng ta” .

bằng đối thoại

            80- Giáo hội khích lệ và cổ suý đối thoại liên tôn, không phải chỉ giữa Giáo hội và các truyền thống tôn giáo khác, mà còn giữa các truyền thống tôn giáo ấy với nhau.

            Đối với Giáo hội, đây là một phương cách để chu toàn vai trò “nhiệm tích” của mình, nghĩa là dấu chỉ, là dụng cụ của sự nối kết thân mật với Thiên Chúa và sự hiệp nhất của tất cả nhân loại” (LG 1). Chúa Thánh Thần mời gọi Giáo hội khích lệ tất cả các định chế và tất cả các phong trào có tính cách tôn giáo gặp gỡ nhau, hợp tác và cải hoá cho nhau để cổ động chân lý và sự sống, sự thánh thiện và công lý, tình yêu và hoà bình; đó là những chiều kích của Nước Trời mà vào buổi thế mạt Đức Kitô sẽ trả lại cho Cha Ngài (xem 1 Co 15, 14). Từ đó, đối thoại liên tôn thật sự đi vào cuộc đối thoại cứu độ mà Thiên Chúa đã khởi xướng .

 

 

C- Rao truyền Chúa Giêsu Kitô

 

và bằng rao truyền

            81- Về phần mình, rao truyền nhằm đưa con người biết một cách tỏ tường những gì Thiên Chúa đã thực hiện cho chúng ta, những người nam-nữ, trong Chúa Giêsu Kitô, và mời gọi họ trở thành môn đệ của Chúa Giêsu, đồng thời cũng trở thành phần tử của Giáo hội. Khi Giáo hội tuân phục Lời Chúa Phục sinh răn dạy và những việc làm của Thánh Thần để chu toàn phần vụ rao truyền của mình, thường thì Giáo hội cần thực thi điều đó một cách tuần tự. Phải suy xét thấu đáo về phương cách Thiên Chúa hiện diện trong lịch sử riêng tư của mỗi một người. Những tín đồ các tôn giáo khác có thể khám phá ra rằng họ đã chia sẻ nhiều giá trị với những Kitô hữu, cũng như Kitô hữu đã từng khám phá ra sự kiện đó. Tiến trình nầy có thể đưa đến sự việc đặt lại vấn đề, nhờ sự chứng tá của cộng đồng Kitô giáo hoặc qua một sự tuyên xưng đức tin của cá nhân; trong việc đặt thành vấn đề đó, thân thế thực sự của Đức Kitô được chân nhận với lòng khiêm tốn. Và, khi thời buổi đã đến, câu hỏi quyết liệt của Chúa Kitô có thể được lắng nghe: “Các ngươi nói Ta là ai?”. Câu trả lời chân thật cho câu hỏi ấy chỉ có thể đến từ đức tin do tác động của ân sủng. Tuyên dương chân nhận rằng Đức Giêsu Nazareth là con Chúa Cha, là Chúa Phục sinh và là Đấng cứu độ, cấu to nên giai đoạn cuối của rao truyền. Người nào tuyên xưng đức tin đó một cách tự do, thì được mời gọi để trở thành môn đệ Chúa Giêsu, trong Giáo hội Ngài, và góp phần trách nhiệm vào sứ mệnh của Giáo hội ấy.

 

 

D- Dấn thân vào một sứ mệnh duy nhất

 

như hai phương cách thực thi cùng một sứ mệnh.

            82- Tất cả mọi Kitô hữu đều được mời gọi để dấn thân vào hai phương cách thực thi sứ mệnh duy nhất của Giáo hội, đó là rao truyền và đối thoại. Hình thức mà họ chọn để truyền bá Phúc âm tuỳ thuộc vào những hoàn cảnh cũng như mức độ chuẩn bị của họ. Ngoài ra họ phải nhớ rằng đối thoại, như đã từng nói ở trên, không phải là tất cả sứ mệnh của Giáo hội, nó không thể thay thế được việc rao truyền, nhưng lại hướng về việc rao truyền; thật thế chính ở nơi việc rao truyền, tiến trình năng động của sứ mệnh truyền bá Phúc âm của Giáo hội mới đạt đến đỉnh cao và mức toàn mãn. Khi dấn thân vào đối thoại liên tôn Kitô hữu khám phá ra những “hạt mầm của Ngôi lời” trong tâm hồn con người và trong những truyền thống tôn giáo dị biệt của họ. Khi tìm hiểu sâu xa về mầu nhiệm Chúa Kitô, họ nhận ra được những giá trị tích cực trong nỗ lực của con người tìm kiếm Thiên Chúa Đấng mà con người không biết hoặc chỉ biết một phần. Xuyên qua những giai đoạn của đối thoại, đôi bên cảm thấy cần thông tri cũng như cần được thông tri, cho cũng như nhận những lối giải thích, và đặt ra cho nhau những câu hỏi. Bấy giờ Kitô hữu dấn thân vào đối thoại có bổn phận trả lời cho những thắc mắc chờ đợi của các người cùng đối thoại với mình, liên quan đến nội dung đức tin Kitô giáo, và làm chứng về đức tin nầy khi mình được gọi, xác  quyết về niềm hy vọng mà mình ôm ấp (xem 1 P 3, 13). Để thực hiện được điều đó, Kitô hữu cần đào sâu đức tin, sửa đổi cách sống, giữ gìn lời nói cho trong sáng và sùng đo một cách luôn chân thành hơn.

Tình yêu muốn được chia sẻ

            83- Trong lối tiếp của công cuộc đối thoại như thế, làm sao Kitô hữu không cảm được niềm hy vọng và mong ước được chia sẻ với người khác nguồn vui được biết và theo Đức Giêsu Kitô, Chúa và Đấng cứu độ mình? Chúng ta nay đang ở vào tâm điểm của mầu nhiệm tình yêu. Một khi Giáo hội và Kitô hữu yêu Chúa Kitô thật sâu đậm, thì mong ước chia sẻ với kẻ khác, không phải chỉ bị thúc đẩy bởi việc tuân phục lời Chúa răn dạy, nhưng do bởi chính tình yêu đó. Các tín đồ các tôn giáo khác có ước muốn thành thật chia sẻ niềm tin của họ, việc đó là chuyện đương nhiên, không có gì phải ngc nhiên. Mọi cuộc đối thoại hàm ngụ việc trao đổi qua lại và nhằm dẹp bỏ sự sợ hãi và gây hấn.

dưới tác động của Thánh Thần

            84- Kitô hữu phải luôn ý thức về sức mạnh của Thánh Thần và phải sẵn sàng đi bất cứ nơi nào Thánh Thần dẫn bước, do sự quan phòng và ý định của Thiên Chúa. Chính Thánh Thần hướng dẫn sứ mệnh truyền bá Phúc âm của Giáo hội. Đúng vậy, Chúa Thánh Thần thúc đẩy Giáo hội rao truyền và vâng phục đức tin. Chúng ta phải chú ý đón nhận những lời thúc giục của Thánh Thần. Việc rao truyền có thể thực hiện được hay không, dù thế nào đi nữa thì Giáo hội vẫn theo đuổi sứ mệnh của mình bằng đối thoại liên tôn, cũng như bằng việc làm chứng và chia sẻ các giá trị Phúc âm, với tinh thần hoàn toàn tôn trọng tự do. Như vậy, những người cùng đối thoại sẽ sẵn sàng hơn để đáp ứng lời mời gọi của Thiên Chúa mà họ ý thức được.

Kitô hữu cũng như các tín đồ các truyền thống tôn giáo khác, tất cả chúng ta đều được Thiên Chúa đích thân mời gọi để đi vào mầu nhiệm của đức kiên nhẫn của Ngài, khi con người nỗ lực tìm ánh sáng và chân lý nơi Ngài. Chỉ có Thiên Chúa biết lúc nào và vào giai đoạn nào sẽ hoàn thành con đường thăm thẳm mà con người từng bước tìm về Ngài.

 

 

E- Chúa Giêsu, gương mẫu của chúng ta

 

và theo gương Chúa Giêsu

            85- Chính nơi bầu khí chờ đợi và lắng nghe đó mà Giáo hội và Kitô hữu theo đuổi việc rao truyền và đối thoại liên tôn với một tinh thần phúc âm thật sự. Họ nhận thức rằng “Mọi sự qui về việc cứu độ cho những người mà Thiên Chúa yêu thương” (Rm 8, 28). Ân sủng đã cho họ biết rằng Ngài là Cha của mọi người và Ngài đã tự mạc khải trong Đức Giêsu Kitô; vậy Chúa Giêsu không phải là gương mẫu và người dẫn lối cho họ trong việc họ dấn thân rao truyền cũng như đối thoại hay sao? Mãi đến hôm nay, Ngài không phải là Đấng duy nhất có thể nói với kẻ thành tâm trong những tâm tình tôn giáo của họ: “Anh (chị) không xa nước Thiên Chúa” (Mc 12, 34) hay sao?

(Đấng) đã hiến mình cho toàn nhân loại.

 

            86- Kitô hữu không những phải bắt chước Chúa Giêsu, mà còn phải kết hiệp gắn bó với Ngài. Ngài đã kêu mời các môn đệ và bạn hữu Ngài kết hợp vào Ngài thành một của lễ duy nhất Ngài dâng lên (Chúa Cha) cho toàn nhân loại. Bánh và rượu, vì chúng mà Ngài t ơn (Chúa Cha), tượng trưng cho toàn thể to vật, chúng đã trở thành thân xác và máu Ngài, “ban cho” (chúng ta) và “đổ ra (vì chúng ta) để chuộc tội”. Bởi thừa tác vụ của Giáo hội, một Hiến lễ duy nhất được Chúa Giêsu dâng lên mọi nơi và mọi lúc, từ khi Ngài chịu khổ nn, chịu chết và được sống lại ở Giêrusalem. Chính nơi đây là nơi mà Kitô hữu kết hợp với chính Chúa Kitô trong của lễ dâng hiến của Ngài, “lễ vật hy sinh cứu độ nhân loại” (phần 4 của kinh đọc trong thánh lễ). Đấy là sự cầu nguyện làm vui lòng Thiên Chúa “Ngài muốn rằng mọi người được cứu độ và đạt đến sự hiểu biết chân lý” (1 Tm 2, 4). Vì vậy họ t ơn về “tất cả những gì là thật, những gì là cao quí, những gì là công chính, những gì là trong sch, những gì là đáng yêu, những gì là đáng tôn kính, những gì là đức hnh và đáng ca ngợi” (Ph 4, 8). Nhờ việc nguyện cầu như thế, họ có được ơn suy xét để đọc được những dấu chỉ về sự hiện diện của Thánh Thần và kỳ cùng thấy được lúc nào thuận tiện và cách nào thích hợp để rao truyền Đức Giêsu Kitô.

Kết luận

 

Mối lưu tâm đối với mỗi tôn giáo

            Những suy tư nầy về đối thoại liên tôn và rao truyền Chúa Giêsu Kitô có mục đích là đưa ra một số giải thích nền tảng. Nhưng cần nhớ rằng các tôn giáo có những dị biệt. Do đó nên đặc biệt lưu ý đến các mối tương quan với các tín đồ của mỗi một tôn giáo.

đòi hỏi những nghiên cứu chuyên biệt

            88- Cũng cần phải thực hiện những công trình nghiên cứu chuyên biệt về tương quan giữa đối thoại và rao truyền, liên hệ đến mỗi tôn giáo cá biệt trong khuôn khổ của các vùng địa lý nhất định và của bối cảnh xã hội văn hoá chúng.

Các hội đồng giám mục có thể trao phó nhiệm vụ nghiên cứu nầy cho các ủy ban thích hợp, các học viện thần học và mục vụ. Với kết quả thu thập được qua các công trình nghiên cứu ấy, các học viện nầy cũng có thể tổ chức các giáo trình chuyên môn và các khoá học hỏi chuẩn bị cho công cuộc đối thoại và rao truyền.

Nên lưu ý đặc biệt đến giới trẻ, đang sống trong một môi trường đa nguyên và gặp gỡ những tín đồ các tôn giáo khác ti trường học và sở làm, trong các phong trào giới trẻ và các hội đoàn khác, và đôi khi ngay cả trong chính gia đình của họ nữa.

 

và cầu nguyện.

            89- Đối thoại và rao truyền là những phận vụ khó khăn và lại tuyệt đối cần thiết. Tất cả các Kitô hữu, trong hoàn cảnh sống của mình, phải được khích lệ để chuẩn bị và sẵn sàng dấn thân hữu hiệu hơn vào hai sinh hoạt nầy. Nhưng, bên trên phận vụ phải chu toàn, đối thoại và rao truyền là ơn của Chúa mà ta phải cầu xin. Xin mọi người mãi cầu xin sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần để Ngài “xướng xuất các chương trình, các sáng kiến, các sinh hoạt truyền bá Phúc âm của mình” (EN 75).

 

Lễ Hiện Xuống, ngày 19 tháng 5 năm 1991

 

Hồng y Francis Arinze

Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Đối thoại Liên tôn

 

Hồng y Jozef Tomko

Tổng trưởng Thánh bộ

Truyền bá Phúc âm cho các Dân tộc

  

 

Kitô giáo và các tôn giáo

1- Vấn đề về các mối tương quan giữa các tôn giáo ngày càng trở nên quan trọng. Nhiều sự kiện khác nhau đem lại cho vấn đề nầy một tầm mức có tính cách thời sự. Trước hết, sự tương thuộc càng ngày càng gia tăng giữa các quốc gia trên thế giới diễn ra ở nhiều cấp độ khác nhau: thông tin liên lạc phổ biến rộng rãi hơn trong phần lớn các quốc gia, các cuộc di dân không còn là một kỷ niệm của quá khứ, kỹ thuật và nền kỹ nghệ tân kỳ đã to nên những cuộc trao đổi mà trước đây nhiều quốc gia chưa từng biết đến. Những yếu tố đó, dưới nhiều phương thức dị biệt, rõ rệt đang chi phối các lục địa và các quốc gia; và, dù bằng cách nầy hay cách khác, không một phần đất nào trên thế giới có thể tự đánh giá là xa l với chúng.

2- Những sự kiện về truyền thông và tương thuộc nầy giữa các dân tộc và văn hoá đã giúp chúng ta nhận ra nhiều tôn giáo khác nhau trên hoàn vũ, với những nguy cơ cũng như  những may mắn liên quan đến tình trạng nầy. Mặc dù trào lưu tục hoá đang phổ biến, tâm thức tôn giáo nơi con người của thời đi chúng ta vẫn không biến mất. Người ta chứng kiến rất nhiều lối biểu lộ tâm thức tôn giáo như thế, mặc dầu các tôn giáo lớn đang bị khủng hoảng ở những mức độ khác nhau. Tầm quan trọng của tôn giáo trong cuộc sống con người, cũng như những sự gặp gỡ ngày càng gia tăng giữa người với người và giữa các nền văn hoá khiến con người thấy cần có đối thoại liên tôn để đào sâu ý nghĩa của cuộc sống và để hành động chung nhằm cổ võ cho hoà bình và công lý trên thế giới, đáp ứng những nhu cầu và vấn nn đang chi phối nhân loại. Thực sự Kitô giáo không ở bên lề, và cũng không thể không tham dự cuộc gặp gỡ và đối thoại giữa các tôn giáo. Nếu đôi khi các tôn giáo đã từng là những yếu tố gây chia rẽ và tranh chấp giữa các dân tộc, và điều đó còn có thể xảy ra, thì trong thế giới của chúng ta đang sống hôm nay mong sao các tôn giáo làm cho mọi người nhận thấy rằng tôn giáo là yếu tố đem lại hoà bình và đoàn kết. Kitô giáo phải nổ lực làm cho niềm mong ước đó có thể thực hiện.

3- Muốn cho đối thoại có thể đem lại kết quả, thì Kitô giáo, và cụ thể là Giáo hội Công giáo cần phải tìm hiểu và xác định giá trị của các tôn giáo trên phương diện thần học. Việc thẩm định nầy sẽ giúp Kitô hữu xử sự đứng đắn với các tôn giáo và các tín hữu các tôn giáo; nó thiết định nền tảng đối thoại liên tôn và thúc đẩy thực hiện cuộc đối thoại nầy dưới nhiều hình thức khác nhau. Những suy tư sau đây có mục đích chính là đưa ra một số nguyên tắc thần học để xây dựng việc thẩm định ấy. Khi đề nghị những nguyên tắc như thế, dĩ nhiên còn có nhiều câu hỏi bỏ ngõ có thể mở đường cho công cuộc nghiên cứu và trao đổi, thảo luận trong tương lai. Trước khi đi đến phần trình bày các nguyên tắc như thế, chúng tôi thấy cần phác họa những đường hướng căn bản của cuộc luận bàn thần học hiện nay để có thể hiểu rõ hơn những luận đề sẽ được đặt ra sau nầy.

I

Thần học về các tôn giáo

(hiện trạng của vấn đề = status quaestionis)

I.1- Đối tượng, phương pháp và cùng đích

4- Thần học về các tôn giáo chưa đưa ra một qui chế về tri thức học nhất định. Đó chính là một trong những lý do chủ yếu của cuộc tranh luận hiện nay. Trong thần học công giáo trước Vaticanô II, người ta truy tìm được hai đường hướng tư tưởng có liên hệ đến vấn đề giá trị cứu độ của các tôn giáo:

Đường hướng thứ nhất có Jean Daniélou, Henri de Lubac là tiêu biểu, và những nhà thần học khác; đường hướng nầy nghĩ rằng các tôn giáo có nền tảng trong giao ước với Noe, một giao ước có tính cách vũ trụ khai mở Mạc khải của Thiên Chúa trong lãnh vực tự nhiên và trong lương tâm, khác biệt giao ước với Abraham. Các tôn giáo, với tư cách tồn giữ những nội dung của giao ước có tính cách vũ trụ nầy, nên chứa đựng những giá trị tích cực, nhưng không có giá trị cứu độ tự nơi chúng. Các tôn giáo là những “hòn đá chờ đợi”, nhưng cũng còn là “những hòn đá chận đường”, do tội lỗi. Tự bản chất của mình, các tôn giáo đi từ con người đến với Thiên Chúa. Chỉ trong Đức Kitô và Hội Thánh của Ngài, các tôn giáo mới đạt đến sự hoàn thành tối hậu và dứt khoát. Hướng suy tư thứ hai – mà Karl Rahner đi diện – xác quyết rằng, trong trật tự hiện nay, ân sủng được ban tặng cho mọi người; và những người nầy có một ý thức nào đó về tác động và ánh sáng của ơn sủng ấy, dù ý thức đó không nhất thiết được nhận thức một cách phản tỉnh. Khi chấp nhận nét đặc loại của xã hội tính như phẩm tính cá biệt của hữu thể con người, thì các tôn giáo là những lối diễn tả có tính cách xã hội của con người với Thiên Chúa, nên có khả năng giúp tín đồ của họ tiếp nhận ơn sủng của Chúa Kitô (Fides implicita) cần thiết cho sự cứu độ, và mở ra với tình yêu tha nhân, mà Đức Giêsu đã kết chặt làm một với tình yêu Thiên Chúa. Trong ý nghĩa đó, các tôn giáo có thể có một giá trị cứu độ, mặc dù chúng còn chứa đựng những yếu tố của tình trạng vô minh, tội lỗi và hư đốn.

5- Hiện nay người ta thường muốn hiểu rõ hơn nữa từng mỗi một tôn giáo, trước khi xây dựng một nền thần học về các tôn giáo nói chung. Vì trong mỗi truyền thống tôn giáo có những yếu tố về nguồn gốc và tầm vóc rất khác nhau, cho nên suy tư thần học phải tự giới hn trong việc nghiên cứu những hiện tượng cụ thể và rõ rệt để tránh những những phán đoán có tính cách bao quát và tiên thiên. Do đó, một số người thì chủ trương  một nền thần học về lịch sử các tôn giáo, một số khác lại lưu ý đến sự diễn tiến có tính cách lịch sử của các tôn giáo, những nét đặc thù của chúng, đôi khi không tương hợp được với nhau; một số khác nữa nhìn nhận tầm quan trọng của các dữ kiện thuộc hiện tượng luận và lịch sử, nhưng không hoàn toàn phi bác hiệu lực của phương pháp diễn dịch; cuối cùng lại có người từ chối không muốn nhìn nhận giá trị tích cực có tính cách bao quát nơi các tôn giáo.

6- ở vào một thời đi mà đối thoại, thông cảm và khoan dung được đề cao, thì tự nhiên thấy xuất hiện những cố gắng xây dựng một nền thần học về các tôn giáo dựa trên những tiêu chuẩn được mọi người chấp nhận, nghĩa là không loại trừ một truyền thống tôn giáo nào nhất định. Vì lý do đó, người ta thường không phân biệt được rõ ràng giữa những điều kiện để có được sự đối thoại liên tôn và những nền tảng xây dựng nên nền thần học Kitô giáo về các tôn giáo. Để lẫn tránh giáo điều, người ta lại tìm kiếm những mấu mốc bên ngoài và tưởng rằng có thể thẩm định được chân lý của một tôn giáo. Những cố gắng được thực hiện trong chiều hướng nầy không đạt đến thành quả có tính cách thuyết phục. Nếu thần học là “Đức tin tìm sự hiểu biết” (Fides quaerens intellectum), thì người ta không thấy được tại sao lại có thể vất bỏ “nguyên lý tín điều”, hoặc không hiểu được tại sao suy tư trong khuôn khổ thần học mà bất chấp những căn nguồn đặc thù của nó.

7- Đối diện với hoàn cảnh nầy, thần học Kitô giáo về các tôn giáo phải đương đầu với nhiều công việc khác nhau. Trước hết, Kitô giáo sẽ phải nỗ lực để tự ý thức và tự thẩm định lại chính mình trong khung cảnh của tình trạng đa biệt của các tôn giáo; nó phải suy tư một cách cụ thể về chân lý và tính phổ quát mà nó chủ trương. Thứ đến, nó phải truy tìm ý nghĩa, chức năng và giá trị đặc thù của các tôn giáo trong toàn bộ của lịch sử ơn cứu độ. Cuối cùng, thần học Kitô giáo phải học hỏi và tra cứu các tôn giáo cụ thể, với những nội dung nhất định của chúng, để đối chiếu lại với các nội dung của đức tin Kitô giáo. Muốn thực hiện điều đó, cần phải thiết lập những tiêu chuẩn cho phép ta luận bàn một cách có phê phán về những dữ kiện ấy và mở ra một lối thông diễn để giải thích.

2- Luận bàn về giá trị cứu độ của các tôn giáo

 

8- Câu hỏi nền tảng nêu lên như sau: Các tôn giáo có phải là những trung gian của ơn cứu độ cho các tín đồ của mình không? Một vài người trả lời rằng không, và có người còn cho rằng nêu lên câu hỏi nầy tự nó không có ý nghĩa gì cả. Một số khác lại trả lời rằng có, và câu trả lời tích cực nầy lại dấy lên những thắc mắc khác: ễ đây các tôn giáo là những  trung gian cứu độ độc lập, hoặc đây là do ơn cứu độ của Đức Giêsu Kitô đang thực hiện trong các tôn giáo ấy? Như thế, cần định vị qui chế của Kitô giáo và các tôn giáo như là những thực tại xã hội văn hoá liên quan đến sự cứu độ con người. Đừng lẫn lộn vấn đề nầy với vấn đề về ơn cứu độ của các cá nhân, Kitô hữu hay không Kitô hữu. Người ta thường không lưu ý đến sự phân biệt nầy một cách đúng mức.

9- Bằng nhiều cách, người ta đã cố gắng xếp loại các lập trường thần học khác nhau đối với vấn đề nầy. Chúng ta hãy lược lại  một số phương cách xếp loại đó: Đức Kitô chống lại các tôn giáo, ở trong các tôn giáo, ở trên các tôn giáo, cùng với các tôn giáo. Vũ trụ lấy Giáo hội làm trung tâm hoặc Kitô học chấp nhất; vũ trụ lấy Chúa Kitô làm trung tâm hoặc Kitô học bao hàm; Vũ trụ lấy Thiên Chúa làm trung tâm với một nền Kitô học qui phạm; vũ trụ lấy Thiên Chúa làm trung tâm với một nền Kitô học không qui phạm. Một số nhà thần học áp dụng lối phân chia làm ba lập trường: Chấp nhất thuyết, bao hàm thuyết, đa nguyên thuyết, song song với một lối phân chia khác: học thuyết lấy Giáo Hội làm trọng tâm, lấy Đức Kitô làm trọng tâm, lấy Thiên Chúa làm trọng tâm. Vì phải chọn một trong các cách xếp loại nầy để tiếp tục con đường suy tư của chúng ta, chúng ta sẽ giữ lại lập trường cuối cùng, nhưng đồng thời chúng ta sẽ bổ túc lập trường nầy với các cách xếp loại khác nếu thấy cần thiết.

10- Học thuyết lấy Giáo Hội làm trọng tâm một cách chấp nhất, là kết quả của một hệ thống thần học nhất định, hoặc là của một lối hiểu sai lầm về câu “Ngoài Hội Thánh không có ơn cứu độ nào” (extra Ecclesiam nulla salus). Chủ trương hn hẹp đó từ nay không được các nhà thần học Công giáo bênh vực nữa, sau những lời xác quyết rõ rệt của Đức Piô XII và Công đồng Vaticanô II về ơn cứu độ có thể đến với những ai không thuộc về Giáo hội theo hình thức thấy được bên ngoài (chẳng hn xem Hc LG16; Hc GS 22).

11- Học thuyết lấy Đức Kitô làm tâm điểm chấp nhận rằng ơn cứu độ có thể xảy ra trong các tôn giáo, nhưng lại từ chối một sự “độc lập tự túc” về ơn cứu độ nầy nơi các tôn giáo, vì phải dựa vào duy nhất tính và phổ quát tính của ơn cứu độ đến từ Chúa Giêsu Kitô. Học thuyết nầy dĩ nhiên là phổ biến hơn cả nơi các nhà thần học Công giáo, mặc dù có những dị biệt giữa họ với nhau. Nó cố dung hợp ý muốn cứu độ có tính cách phổ quát của Thiên Chúa với sự kiện mọi người cũng có thể, theo nhân tính, tự kiện toàn lấy mình trong khung cảnh của truyền thống văn hoá mà tôn giáo được xem là một lối biểu lộ cao cả nhất và là nền tảng tối hậu.

12- Học thuyết  lấy Thiên Chúa làm trọng điểm tự cho mình vượt lên trên  Học thuyết lấy Đức Kitô làm trọng điểm: nó được xem là một sự thay đổi về mô thức đối chiếu, một cuộc cách mng Copernic. Một trong những lý do đưa đến Học thuyết nầy là một loại cảm thức ân hận nào đó phát xuất từ những mối giây ràng buộc giữa công cuộc truyền giáo trong quá khứ với lối chính trị thực dân, mặc dù đôi khi người ta quên đi cuộc sống hào hùng đã đồng hành với công cuộc truyền bá Phúc âm. Học thuyết ấy cố gắng nhìn nhận những nguồn phong phú của các tôn giáo và chứng tá đo đức của những tín đồ các tôn giáo nầy, và cuối cùng nó chủ trương to thuận lợi cho việc đoàn kết tất cả các tôn giáo để cùng nhau xây dựng hoà bình và công lý trên thế giới. Người ta có thể thiết định một sự phân biệt giữa một Học thuyết lấy Thiên Chúa làm trọng điểm trong đó Đức Giêsu Kitô, dù không phải là yếu tố chính yếu cũng được nhìn nhận như là mẫu mực cho ơn cứu độ. Và còn có một học thuyết khác, trong đó người ta lại không nhìn nhận ngay cả giá trị mẫu mực nầy nơi Đức Giêsu Kitô. Trong trường hợp thứ nhất, người ta không phủ nhận rằng những vị khác cũng có thể là trung gian của sự cứu độ, nhưng nhìn nhận nơi Đức Giêsu Kitô là vị trung gian diễn đạt ơn cứu độ nầy một cách hoàn hảo hơn cả; tình yêu của Thiên Chúa được mạc khải rõ rệt nhất trong con người và việc làm của Ngài, và vì thế Ngài là mẫu mực cho các vị trung gian khác. Nhưng không có Ngài, thì chúng ta cũng tìm được ơn cứu độ, mặc dầu ơn cứu độ đó không được thể hiện hoàn hảo. Trong trường hợp thứ hai, Đức Giêsu Kitô vừa không được xem như cấu tố lại vừa không được xem là mẫu mực cho sự cứu độ của con người. Lập trường nầy cho rằng Thiên Chúa siêu việt và không thể hiểu biết được, nên không thể phán đoán về ý định của Ngài theo thước đo của con người. Cũng vì thế mà ta càng không thể đánh giá hay so sánh các hệ thống tôn giáo dị biệt. Học thuyết lấy “sự cứu độ làm trọng điểm” còn cố triệt để hoá học thuyết  lấy Thiên Chúa làm trọng điểm, bởi vì nó ít lưu ý đến vấn đề Đức Giêsu Kitô (học thuyết chính truyền = orthodoxie) hơn là chú ý đến sự dấn thân thiết thực của mỗi tôn giáo cho nhân loại đang khổ đau (thực hành chân chính = orthopraxie). Bằng cách nầy, giá trị các tôn giáo ở ngay trong sự kiện cổ võ Nước Trời, sự cứu độ, và cuộc sống an lành của nhân loại. Vì thế lập trường nầy được xem là duy thực tiễn và duy nội ti.

Ị3- Câu hỏi về chân lý

13- Toàn cuộc tranh luận nầy hàm chứa vấn đề chân lý của các tôn giáo. Ngày nay người ta có khuynh hướng coi vấn đề chân lý là thứ yếu khi suy tư về giá trị cứu độ. Câu tra vấn về chân lý được xem là nghiêm trọng về mặt lý thuyết cũng như thực hành, bởi vì trong quá khứ nó đã có những hệ quả tiêu cực cho việc gặp gỡ giữa các tôn giáo. Do đó, có khuynh hướng muốn tiết giảm vấn đề nầy hoặc đẩy nó vào lãnh vực riêng tư, bằng việc xác nhận rằng tiêu chuẩn chân lý được nêu lên chỉ có giá trị cho tôn giáo liên hệ mà thôi. Một vài người lại đưa ra ý niệm có tính cách hiện sinh hơn về chân lý. Theo họ chỉ có nếp sống đo đức luân lý làm cho con người trở nên công chính, còn các điều họ tin có thể bị lên án hay không, việc đó không quan trọng. Nhưng quan niệm như thế sẽ  to ra một sự lẫn lộn mơ hồ giữa “ở trong sự cứu độ” và “ở trong chân lý”. Đáng ra phải theo hướng nhìn của Kitô giáo về sự cứu độ như là chân lý và ở trong chân lý như là sự cứu độ. Không nói đến về chân lý sẽ đặt tất cả các tôn giáo trên mọi sự  đồng đẳng hời hợt, đồng thời tước bỏ tận căn tiềm năng cứu độ của các tôn giáo. Quả quyết rằng tất cả các tôn giáo đều chân thật chẳng khác gì tuyên bố rằng tất cả đều sai lạc. Gt bỏ vấn đề chân lý là điều không thể chấp nhận trong quan điểm của Kitô giáo.

14- Quan niệm tri thức luận chủ trương đa nguyên nầy sử dụng sự phân biệt của Kant giữa Noumenon và Phenomenon. Thiên Chúa hay Thực-Ti-Tối-Hậu là Siêu việt và con người không thể vươn tới, nên ta chỉ có thể kinh nghiệm được như một biểu tượng, và diễn tả bằng những hình ảnh, những ý niệm lệ thuộc vào các điều kiện của văn hoá. Điều đó giải thích lý do tại sao các biểu tượng khác nhau của chính một thực tại không buộc phải tự loại trừ nhau một cách tiên thiên. Vấn đề về chân lý lại còn bị tương đối hoá hơn nữa với việc du nhập của ý niệm về chân lý có tính cách thần thoại. Chân lý ở đây không phải là sự đồng hợp với một thực tại, nhưng chỉ gợi lên nơi chủ thể một tâm trạng tương hợp với những điều được tường thuật. Tuy nhiên cần nhận ra rằng: những cách biểu lộ của Noumenon đa dạng, đối chọi nhau; và kỳ cùng chúng sẽ làm tan biến luôn chính Noumenon và làm mất hết ý nghĩa thần thoại của nó. ở đây cũng hiểu ngầm quan niệm muốn tách rời tận căn Siêu việt, Mầu nhiệm Tuyệt đối, với các biểu tượng của nó: mọi sự là tương đối, bởi vì bất toàn và không tương hợp, cho nên không thể tự cho mình có độc quyền trong vấn đề chân lý.

15- Tìm kiếm tiêu chuẩn chân lý của một tôn giáo, (tiêu chuẩn) mà các tôn giáo khác có thể chấp nhận được, phải là một việc làm độc lập, ở ngoài tôn giáo ấy: đây đúng là một công việc nặng nề cho suy tư thần học. Một số nhà thần học tránh dùng các từ ngữ Kitô giáo để nói về Thiên Chúa (Eternal One, Ultimate Reality, Real) hoặc để chỉ định cuộc sống ngay chính (Reality-centredness chứ không phải dùng Self-centredness). Nhưng người ta nhận thấy rằng lối diễn tả đó, hoặc vẫn lệ thuộc vào một truyền thống nhất định (Kitô giáo), hoặc trở thành quá trừu tượng đến độ chúng không có ích lợi gì. Còn việc chỉ dựa vào humanum mà thôi thì lại không có giá trị thuyết phục, vì đó là một tiêu chuẩn thuần túy thuộc hiện-tượng-luận, có thể làm cho thần học các tôn giáo lệ thuộc vào môn nhân-loại-học chỉ có giá trị ưu thắng trong một thời. Ngoài ra người ta cần lưu ý rằng tôn giáo được xem là đích thực hẵn vì nó thành công trong việc: hoặc giải hoà được hữu hn tính, (đặc tính tm thời và hay thay đổi của nỗ lực tự kiến tri) với vô tận vô biên mà con người nhắm tới, hoặc qui kết được các kinh nghiệm đa biệt của thực tại và những quan điểm tôn giáo vào một mối nhất thống.

Ị4- Câu hỏi về Thiên Chúa

16- Chủ trương đa nguyên có tham vọng gt bỏ tất cả những ý định độc chuyên hoặc ưu thắng đối với các tôn giáo khác nơi Kitô giáo. Vì thế họ quả quyết rằng các tôn giáo tuy khác nhau, nhưng thực tại tối hậu là một. Đồng thời họ cũng tương đối hoá  quan điểm của Kitô giáo về Thiên Chúa như nội dung tín điều đã dạy và tín lý bắt buộc. Bằng cách đó họ tách biệt Thiên Chúa Tự Ti, Đấng con người không thể vươn tới, với Thiên Chúa biểu lộ qua kinh nghiệm của con người. Những hình ảnh về Thiên Chúa được cấu to do kinh nghiệm về siêu việt tính và do khung cảnh xã hội văn hoá liên hệ: những hình ảnh đó không phải là Thiên Chúa, nhưng chúng nhằm chỉ về Thiên Chúa một cách đứng đắn; và những hình ảnh nầy cũng có thể nói được là những biểu tượng, chứ không phải là hiện thân của Thần tính. Kết quả là không một biểu tượng nào có thể được xem là độc chuyên. Từ đó suy ra tất cả các tôn giáo đều tương đối, không phải trong việc các tôn giáo hướng về Tuyệt đối, nhưng trong những phương cách diễn tả cũng như sự thinh lặng của các tôn giáo. Vì có Một Thiên Chúa Duy nhất và có cùng một chương trình cứu độ cho nhân loại, nên các cách biểu lộ nơi các tôn giáo liên hệ với nhau và bổ sung cho nhau. Mầu nhiệm linh hoạt và hiện diện một cách phổ quát, không có sự biểu lộ nào của nó có thể cho là cuối cùng và dứt điểm. Như thế vấn đề về Thiên Chúa gắn liền với vấn đề Mạc khải.

17- Liên quan với vấn đề nầy, có hiện tượng cầu nguyện trong các tôn giáo khác nhau. Phải chăng có một Đấng Đối diện duy nhất được kêu cầu bằng nhiều tên gọi khác nhau trong kinh nguyện của các tín đồ? Các thần thánh và các quyền thần linh thiêng, các sức mạnh của thiên nhiên trong đời sống và xã hội được nhân cách hoá, các phóng ảnh thuộc tâm lý hoặc huyền thoại, tất cả chúng có diễn tả cùng một thực tại hay không? ở đây phải chăng người ta đã đi trật bước, khi nhảy vọt từ một thái độ chủ quan đến một phán đoán khách quan? Có thể có một lời cầu xin có tính cách đa thần kêu đến Thiên Chúa chân thật; và một hành vi cứu độ có thể xảy đến xuyên qua một trung gian sai lạc. Điều đó không có nghĩa là nhìn nhận một cách khách quan rằng trung gian tôn giáo ấy là một trung gian cứu độ, dù rằng lời kinh chân thành nầy đã được Chúa Thánh thần linh ứng. (xem Tl Đối-thoại và Rao truyền, 27)

Ị5- Luận bàn Kitô học

18- Trong vấn đề “Thượng đế” vừa được nêu lên trên đây đã có vấn đề chúng ta sắp đề cập bây giờ. Đó là thần học về Đức Kitô. Thượng đế học và Kitô học liên hệ mật thiết với nhau. Chúng tôi trình bày riêng rẽ vì tính cách phức tạp của vấn đề. Khó khăn lớn nhất của Kitô giáo luôn luôn nằm trong “Mầu nhiệm nhập thể của Thiên Chúa”: Con người và hành động của Đức Giêsu Kitô là những đặc điểm của duy nhất tính và phổ quát tính liên quan đến sự cứu độ nhân loại.Làm sao một biến cố đặc thù và lịch sử lại có thể là phổ quát được? Làm sao có thể tiến tới một cuộc đối thoại liên tôn trong sự tôn trọng các tôn giáo khác và không tiên kiến các tôn giáo ấy như là bất toàn và thấp hơn, nếu chúng ta nhìn nhận nơi Đức Giêsu Kitô và chỉ nơi Ngài là Vị Cứu-độ Duy-nhất và phổ quát cho nhân loại? Người ta không thể quan niệm được bản vị và tác động cứu chuộc của Thiên Chúa xuyên qua những trung gian khác ngoài Đức Giêsu Kitô hay sao?

19- Vấn đề Kitô-học thiết yếu gắn liền với giá trị cứu độ của các tôn giáo, điều đó chúng ta đã bàn tới. ở đây chúng ta chú trọng hơn nữa vào việc truy tìm những hệ luận Kitô học của những lập trường lấy Thiên Chúa làm trọng điểm. Một trong những hệ luận là nêu lên lập trường “Thiên Chúa duy nhất là Đấng Cứu chuộc” chủ trương rằng có nhiều trung gian cứu độ chính đáng và chân thật. Bên trong lập trường nầy, như chúng ta đã từng nhận xét, có một nhóm thần học gia nhận định rằng Đức Giêsu Kitô là một giá trị có tính cách qui phạm, vì con người và cuộc đời Ngài mạc khải một cách rõ rệt và dứt khoát hơn cả về tình yêu của Thiên Chúa đối với con người. Cái khó khăn lớn nhất mà lập trường nầy gặp phải là đối với Kitô giáo cũng như đối với các tôn giáo khác, nó không xác định được đâu là nền tảng cho đặc tính qui phạm nơi Đức Giêsu.

20- Một nhóm thần học gia khác chủ trương một “lập trường lấy Thiên Chúa cứu độ làm trọng điểm”, với một nền Kitô học không có giá trị qui phạm. Tách rời Đức Kitô khỏi Thiên Chúa là làm cho Kitô Giáo hết tham vọng chủ trương phổ quát tính về sự cứu độ (và như thế hẳn sẽ to điều kiện khả dĩ cho việc đối thoại chân thực với các tôn giáo), nhưng lại phải đối đầu trực diện với đức tin của Hội Thánh, và cụ thể là tín điều của Chalcedonia. Các nhà thần học nầy cho rằng tín điều ấy là một lối diễn tả lệ thuộc vào các điều kiện của Triết lý Hy lạp xét về mặt lịch sử. Lối diễn tả đó nay cần phải được cập nhật lại vì nó ngăn cản công cuộc đối thoại liên tôn. Việc nhập thể sẽ là một cách diễn tả không có giá trị khách quan, nhưng có tính cách ẩn dụ, thi ca và thần thoại. Nó chỉ nhằm nói lên tình yêu của Thiên Chúa đang nhập thể trong những con người nam-nữ mà cuộc sống của họ phản ảnh hành động của Thiên Chúa. Những xác quyết về ơn cứu độ duy nhất thực hiện bởi Đức Giêsu Kitô có thể được giải thích trong bối cảnh lịch sử văn hoá: văn hoá cổ điển (chân lý chắc chắn và bất biến một cách duy nhất), tâm thức hướng về thời chung mãn – thế mạt (vị tiên tri cuối cùng, Mạc khải dứt khoát) và thái độ của một thiểu số (ngôn ngữ nói đến sự sống còn, đấng cứu độ duy nhất).

21- Hậu quả quan trọng nhất của quan niệm nầy là Đức Giêsu Kitô không thể được xem là vị trung gian duy nhất và tuyệt đối. Chỉ riêng đối với người Kitô hữu, Ngài là hình thái con người của Thiên Chúa, giúp con người gặp gỡ được Thiên Chúa, mặc dù không là mẫu mực độc chuyên. Ngài “là Thiên Chúa hoàn toàn” (totus Deus), bởi vì Ngài là tình yêu đích thực của Thiên Chúa trên cõi trần nầy, nhưng không phải là “tất cả của Thiên Chúa” (totum Dei) vì Ngài không múc cn hết tình yêu Thiên Chúa trong Ngài. Chúng ta hẳn có thể nói được rằng: “Ngài hoàn toàn là Lời Thiên Chúa, nhưng không phải tất cả của Ngôi Lời” (totum Verbum, sed non totum Verbi). Bởi vì Lời Thiên Chúa (Logos) rộng lớn hơn Đức Giêsu, nên Lời nầy cũng có thể nhập thể trong các vị sáng lập các tôn giáo khác.

22- Vấn đề đặt ra như thế chúng ta gặp lại khi xác quyết rằng Đức Giêsu là Đức Kitô, nhưng Đức Kitô thì hơn cả Đức Giêsu. Quan niệm nầy được cho là sẽ giúp ta dễ dàng hiểu được sự phổ quát của hành động Lời Thiên Chúa (Logos) trong các tôn giáo. Tuy nhiên các bản văn Tân Ước luôn luôn quan niệm Lời Thiên Chúa gắn liền với Đức Giêsu. Một cách lý luận khác trong đường hướng nầy là ghép mọi hành động cứu độ phổ quát của Thiên Chúa, vào Chúa Thánh Thần; hành động của Thánh Thần như thế không nhất thiết  dẫn mọi người đến đức tin vào Đức Giêsu Kitô.

Ị6- Sứ mệnh rao truyền và đối thoại tôn giáo

23- Những lập trường khác nhau khi đối diện với các tôn giáo đi kèm với những cách hiểu khác biệt về sinh hoạt rao truyền Phúc âm và đối thoại liên tôn. Nếu như các tôn giáo thực sự là những con đường dẫn đến cứu độ (= lập trường đa nguyên) thì việc trở lại không còn là mục tiêu đầu tiên của việc truyền giáo, vì điều quan trọng là mỗi người được khích lệ bởi chứng tá của kẻ khác cứ nỗ lực sống trọn vẹn niềm tin riêng của mình.

24- Lập trường chủ trương bao hàm nầy không còn xem sứ mệnh rao truyền Phúc âm như một trách vụ vì muốn tránh sự lên án của các người chưa được biết đến Phúc âm (nó đi ngược laị lập trường chủ trương sự cứu độ duy nhất nơi Đức Giêsu Kitô). Đồng thời với việc nhìn nhận hành động phổ quát của Chúa Thánh Thần, lập trường nầy nhận thấy rằng, trong chương trình cứu độ mà Thiên Chúa muốn, hành động ấy có một sức năng động nhập thể có thể làm cho chương trình cứu độ tự thể hiện. Nhờ thế việc rao truyền Lời Chúa dẫn đưa chính năng lực nầy đến sự toàn mãn. Rao truyền Lời Chúa không chỉ có nghĩa là một nỗ lực trình bày về siêu việt tính, nhưng là sự thực hiện cao độ nhất của siêu việt tính nầy, đặt con người trước một quyết định triệt để. Loan báo và chấp nhận đức tin một cách minh nhiên làm triển nở những khả năng của ơn cứu độ cũng như tinh thần trách nhiệm của con người. Hơn nữa, ngày nay người ta xem sứ mệnh rao truyền Phúc âm, không phải chỉ nhắm đến những cá nhân mà thôi, mà còn cho tất cả các dân tộc và tất cả các nền văn hoá.

25- Đối thoại liên tôn, trong khuôn khổ thần học, được đặt trên nền tảng: hoặc là mọi người cùng chung một nguồn gốc và được to dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, hoặc trong vận mệnh chung là sống viên mãn nơi Thiên Chúa, hoặc trong chương trình cứu độ duy nhất của Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô, hoặc trong sự hiện diện đầy linh hoạt của Chúa Thánh Thần giữa các tín đồ của các truyền thống tôn giáo khác (Đối thoại và Rao truyền, 28). Sự hiện diện của Thánh Thần không thể hiện cùng một cách thế như nhau trong truyền thống Thánh Kinh và trong các tôn giáo khác, bởi vì Đức Giêsu Kitô là sự toàn mãn của Mạc khải. Nhưng những kinh nghiệm và nhận thức, các cách diễn tả và những lối lãnh hội thì khác nhau, lại có thể phát sinh từ cùng một “biến cố siêu việt”. Điều đó càng làm tăng cường giá trị cho công cuộc đối thoại liên tôn. Và chính nhờ qua nỗ lực đối thoại mà tiến trình giải thích và hiểu biết hành động cứu độ của Thiên Chúa có thể được phát triển.

26- “Một đức tin không trở thành văn hoá là một đức tin không hoàn toàn được tiếp nhận, suy tư, và sống một cách trung thực”. Câu nói nầy của Đức Gioan Phaolô II trong bức thư gửi đến Đức Hồng y Quốc Vụ- Khanh (ngày 20.5.1982) cho thấy rõ ràng tầm quan trọng của công cuộc hội nhập văn hoá của đức tin. Người ta nhận thấy rằng tôn giáo, với tư cách là thẩm cấp phán định về ý nghĩa tối hậu và là năng lực thiết kế cấu trúc nền tảng, đúng là tâm điểm của cuộc sống văn hoá. Do đó, công cuộc hội nhập văn hoá của đức tin không thể bỏ qua việc gặp gỡ với các tôn giáo, nhất là xuyên qua việc đối thoại liên tôn .

IỊ Những tiền đề thần học nền tảng

27- Phần đặt vấn đề (status quaestionis) trên đây cho thấy những lối tiếp cận khác nhau của thần học các tôn giáo và giá trị cứu độ của các tôn giáo ấy phần lớn lệ thuộc như thế nào vào điều mà người ta suy nghĩ về ý muốn cứu độ phổ quát của Thiên Chúa Cha: Tân Ước qui kết mọi sự vào Ngài, ơn cứu độ khởi phát nơi Ngài, cũng như sự trung gian duy nhất của Đức Kitô, tính phổ quát của hành động nơi Chúa Thánh Thần và tương quan của Thánh Thần với Đức Giêsu, tác vụ của Hội Thánh như bí tích phổ quát của ơn cứu độ. Câu trả lời cho những vấn đề vừa nêu lên đòi hỏi chúng ta suy tư ngắn gọn về các vấn đề thần học nền tảng sau đây:

 

IỊ1- Sáng kiến của Thiên Chúa Cha trong việc cứu độ.

28- Chính trong ánh sáng ý định của Thiên Chúa muốn cứu chuộc mọi người, không kể đến ranh giới các dân tộc hay chủng tộc, mà việc đề cập đến vấn đề thần học các tôn giáo có được ý nghĩa. Thiên Chúa, Đấng muốn cứu độ mọi người, đó là Cha của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta. Ý định cứu độ trong Đức Kitô đã có trước khi to dựng vũ trụ (xem Ep 1, 3-10) và được thực hiện bằng cách gửi Đức Giêsu đến trong thế gian, đó là bằng chứng tình yêu vô cùng và là lòng ân ái Chúa Cha thể hiện đối với nhân loại (xem Gioan 3, 16-17; 1 Gioan 4, 9-10,…). Tình yêu đó của Thiên Chúa đi đến mức “giao nộp” Đức Giêsu Kitô chịu chết để cứu chuộc mọi người và để hoà giải với thế giới (xem Rm  5, 8-11; 3, 2; 2 Co 5, 18-19…). Thiên Chúa là Cha một cách tổng quát, được Tân Ước đặt vào mối tương quan với đức tin vào Đức Giêsu, và trong một vài đoạn lại mở ra những viễn cảnh rộng lớn hơn (xem Ep 3, 14-15; 4, 6). Thiên Chúa là Thiên Chúa của người Do Thái và của dân ngoại (xem Rm 3,29). Ơn cứu độ của Thiên Chúa, là Đức Giêsu, cống hiến cho tất cả các dân tộc (xem Lạc 2, 30, 3, 6; Cv 28, 28).

29- Sáng kiến cứu độ của Chúa Cha được xác định trong 1 Gioan 4,14: “Chúa Cha đã gửi con Ngài đến làm Đấng Cứu độ thế giới”. Thiên Chúa “Chúa Cha mà mọi sự đến từ Ngài” (1 Co 8,6), là căn nguyên của công cuộc cứu độ được thực hiện bởi Đức Kitô. Tước hiệu “Đấng Cứu độ”, thường dùng cho  Đức Kitô (xem LC 2, 11; Gioan 4,42; Công vụ 5, 31…), nhưng trước hết để gọi Thiên Chúa trong một số bản văn của Tân Ước (xem Tm 1, 1; 2, 3; 4, 10; Tt 1, 3; 2, 10; 3,4; Gđ 25), tuy nhiên không phải vì thế mà loại bỏ tước hiệu đó nơi Đức Kitô (Tt 1,4; 2, 13; 3, 6). Theo 1 Tm 2,3-4, “Thiên Chúa là Đấng cứu độ chúng ta (…) Người muốn rằng tất cả được cứu độ và đạt đến sự hiểu biết chân lý”. Ý muốn cứu độ của Ngài không có hn chế, nhưng nó đi kèm với ý muốn rằng con người biết được chân lý, nghĩa là gắn bó với đức tin (xem 1 Tim 4, 10, Thiên Chúa là “Đấng cứu độ mọi người, nhất là những kẻ tin”). Như vậy, ý muốn cứu độ nầy tất nhiên cần thiết phải có việc loan báo Phúc âm. Ngoài ra ơn Cứu độ liên hệ mật thiết với sự trung gian duy nhất của Đức Kitô (xem 1 Tm 2, 5-6) mà chúng ta sẽ nói đến trong phần sau.

30- Thiên Chúa Cha đồng thời là cùng đích mà tất cả hướng về và tiến tới. Cứu cánh tối hậu của tác động sáng to và cứu độ sẽ được thực hiện khi mọi sự đều được qui phục vào Chúa Con: “Bấy giờ chính Chúa Con sẽ qui phục Đấng đã làm cho mọi sự qui phục vào Ngài, để Thiên Chúa trở nên tất cả trong mọi sự” (1 Co 15, 28).

31- Một số tiền ảnh về đặc tính phổ quát nầy Cựu Ước đã mạc khải, nhưng nó được tỏ bày trọn vẹn nơi Đức Kitô. Mọi người, không loại trừ ai, đều đã được to dựng theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa (xem St 1, 26 và tiếp theo; 9,6). Bởi vì trong Tân Ước hình ảnh Thiên Chúa là Đức Kitô (2 Co 4,4, Col 1,15), nên có thể thẩm định rằng: tất cả mọi người đều hướng về Đức Kitô. Giao ước của Thiên Chúa với Noê bao gồm mọi sinh vật trên trái đất (xem St 9,9. 12. 17 và tiếp theo). Trong Abraham “tất cả mọi gia đình trên trái đất sẽ được chúc lành” (Sáng thế 12, 2; xem 18, 18). Vì Abraham đã vâng phục mà con cháu của ông từ muôn đời được Chúa chúc phúc (xem St 22, 17-18; 26, 4-5; 28, 14). Thiên Chúa của Israel đã được một số người ngoại quốc nhận biết tôn thờ (xem Jos 2; 1 Các vua 10, 1-13; 17, 17-24; 2 Các vua 5, 1.27). Trong Isaia thứ 2 và thứ 3, cũng có những đoạn nói đến sự cứu độ các dân tộc trong bối cảnh của sự cứu độ dân Israel (xem Is 42, 1-4; 49, 6-8; 66, 18-21…: những của lễ dâng hiến của các dân tộc sẽ được Thiên Chúa chấp nhận như những của lễ của người Israel; và Thánh vịnh 87; 47, 10: “Các vua chúa của các dân tộc hiệp nhất với nhau: đó là dân của Thiên Chúa, (Chúa) của Abraham”). Đó là một sự phổ quát của ơn cứu độ mà  Israel là tâm điểm. Sách Khôn ngoan cũng nói đến mọi người không phân biệt chủng tộc hoặc quốc gia  (xem Cn 1, 20-23; 8, 2-10; Kn 6, 1-10. 21;…)

IỊ2- Trung gian duy nhất của Đức Giêsu

 

A- Một vài đoạn văn Tân Ước

32- Chúng ta đã ghi nhận rằng ý muốn cứu độ của Chúa Cha lệ thuộc chặt chẽ với đức tin vào Đức Giêsu. Chương trình cứu độ chỉ được thực hiện trong Ngài mà thôi: “Dưới bầu trời nầy, không có một Danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để  chúng ta nhờ Danh đó mà được cứu độ” (Cv 4,12). Sự cứu độ chỉ có được nhờ đức tin vào Chúa Giêsu, đó là một xác quyết chắc chắn trong Tân ước. Tất cả những ai tin vào Đức Kitô đều là hậu duệ chân thật của Abraham (xem Rm 9, 6-7; Ga 3,29; Gioan 8, 31-58; Lc 1,55). Sự chúc lành cho tất cả mọi người trong Abraham có ý nghĩa trọn vẹn của nó trong sự chúc lành cho tất cả trong Đức Kitô.

33- Theo Phúc âm Mathêu, Đức Giêsu cảm thấy mình đặc biệt được gửi đến cho dân Israel (Mt 15, 24; xem Mt 10, 5-6). Những xác quyết ấy đáp ứng được lối trình bày đặc biệt của Mathêu về lịch sử sự cứu độ: lịch sử Israel hướng đến sự hoàn tất của mình trong Đức Kitô (xem Mt 1,22-23; 2, 5-6. 15, 17-18. 23), và những lời Chúa hứa sẽ được thể hiện hoàn toàn khi trời và đất sẽ đi qua và khi mọi sự sẽ hoàn tất (xem Mt 5,18). Sự hoàn tất nầy đã bắt đầu trong các biến cố chung mãn của sự chết (xem Mt 27, 51-53) và sự sống lại (xem Mt 28, 2-4) của Đức Kitô. Nhưng Đức Giêsu không loại trừ những người ngoại giáo ra khỏi ơn cứu độ: Ngài khen ngợi đức tin của một vài người trong họ, mà người ta không tìm thấy đức tin đó trong Israel (xem Mt 8, 10; Lc 7, 9: người đội trưởng; Mt 15, 21-28; Mc 7, 24-30: người phụ nữ syrophênicia); họ sẽ đến từ phương Đông và phương Tây để ngồi vào bàn tiệc Nước Trời trong khi người Do Thái sẽ bị tống ra ngoài (Mt 8, 11-12; Lc 13, 18-29; xem 11, 20-24). Sau khi sống lại Đức Giêsu đã ban cho 11 Môn đệ một sứ mệnh phổ quát (xem Mt 28, 16-20; Mc 16, 15-18; Cv 1,8). Bởi thần khải, Hội Thánh sơ khai đã nhanh chóng bắt đầu sứ vụ nơi các dân ngoại, (Công vụ 10, 34). Trong Đức Kitô không có sự phân biệt giữa Do Thái và các dân ngoại (Ga 4,24; Col 3, 11).

34- Theo ý nghĩa đầu tiên, tính phổ quát của sự cứu độ nhờ Đức Giêsu đặt nền trên sự kiện là sứ điệp và ơn cứu độ của Ngài dành cho mọi người, và tất cả mọi người có thể đón nhận trong đức tin. Nhưng trong Tân ước, chúng ta còn thấy những bản văn nói lên rằng ý nghĩa đó vượt xa hơn nữa, nghĩa là bằng một cách nào đó nó đi trước sự tiếp nhận sứ điệp của Đức Giêsu từ phía người tín hữu.

35- Trước hết, chúng ta phải lưu ý rằng: tất cả những gì hiện hữu đều đã được tác thành bởi Đức Kitô (xem 1 Co 8, 6; 1, 3. 10; He 1,2). Theo Col 1, 15-20, mọi sự được dựng nên trong Ngài, bởi Ngài, và mọi sự đều qui hướng về Ngài. Cũng chính bản văn nầy cho thấy rằng nguyên nhân tính nơi Đức Kitô trong công cuộc to dựng liên quan đến sự trung gian cứu độ mà mọi to vật qui về. Đức Giêsu là người được sinh ra đầu tiên trong cuộc to dựng và là người được sinh ra đầu tiên từ cõi kẻ chết. Chính trong việc sinh lần thứ hai nầy đã làm cho việc sinh ra lần đầu mang trọn ý nghĩa. Việc thâu tóm mọi sự trong Đức Kitô  là ý định tối hậu của Thiên Chúa Cha (xem Ep 1, 10). Bên trong tính cách phổ quát nầy, người ta phân biệt hành động đặc biệt của Đức Kitô trong Giáo hội: “Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Người, và đã thiết lập Người, làm chủ tất cả, làm Đầu của Hội Thánh, là thân thể của người: sự sung mãn của Đấng tràn đầy, tất cả trong mọi sự” (Ep 1, 22-23; xem Col 1, 17).

Đối chiếu song song của Phaolô giữa Adam và Đức Kitô (xem 1 Co 15, 20-22. 44-49; Rm 5, 12-21) hầu như qui về một hướng đồng nhất. Nếu có một ý nghĩa phổ quát nơi Adam đầu như là con người đầu tiên và cũng là kẻ phạm tội đầu tiên, thì Đức Kitô cũng phải có một ý nghĩa cứu độ phổ quát cho mọi người, mặc dù những từ ngữ nhằm nói đến ý nghĩa đó được biểu lộ ra một cách không rõ rệt. Ơn gọi của tất cả mọi người, hôm nay còn mang hình ảnh của Adam trần thế, là phải trở thành hình ảnh của Adam trên trời.

36- (Lời Thiên Chúa) là ánh sáng thật, soi sáng cho mọi người; (Lời đó) đã đến trong thế gian (Gioan 1,9) . Chính Đức Giêsu với tư cách là Lời nhập thể, soi sáng cho mọi người. Lời đã thực thi trung gian sáng to rồi, nhưng không phải không qui về công cuộc nhập thể và cứu độ tương lai, và chính vì vậy Đức Giêsu đến cư ngụ giữa những người của Ngài. Và họ không đón nhận Ngài (xem Gioan 1, 3-4. 10.11). Đức Giêsu loan báo việc tôn vinh Thiên Chúa trong tinh thần và trong chân lý, vượt khỏi phạm vi Giêrusalem và núi Garizim (xem Gioan 4, 21-24) và đường lối tôn thờ đó đã được nhận ra trong lời tuyên xưng của những người Samaritanô: “Thật chính Ngài là Đấng cứu độ thế giới” (Gioan 4, 42).

37- Sự trung gian duy nhất của Đức Giêsu Kitô liên hệ mật thiết với ý muốn cứu độ của Thiên Chúa, trong 1 Tm 2, 3-6. “Thiên Chúa Duy nhất, Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và con người cũng duy nhất, đó là Đức Giêsu Kitô, cũng chính thật là con người, đã tự nộp mình làm giá cứu chuộc cho chúng ta”. Tính duy nhất của đấng trung gian (cũng xem He 8,6; 9, 15; 12; 24) tương ứng với tính duy nhất của Thiên Chúa, Đấng muốn cứu độ mọi người. Đấng trung gian duy nhất là con người Giêsu Kitô; đây cũng vậy, chữ ấy nhắm đến ý nghĩa phổ quát của Đức Giêsu với tư cách là Con Thiên Chúa nhập thể. Ngài là trung gian giữa Thiên Chúa với con người vì Ngài là Chúa Con làm người, đã tự giao nộp mình chịu chết làm của chuộc cho tất cả.

38- Trong bài giảng của Phaolô ở đồi Arê, (Cv 17, 22-31) rõ ràng cho thấy việc quay về với Đức Kitô hàm ngụ một sự đoạn tuyệt với quá khứ. Các tôn giáo trong thực tế đã dẫn con người đến việc thờ thần tượng. Nhưng người ta dường như thấy nỗ lực tìm kiếm triết học được xem là chân thực; nếu nỗ lực nầy  không đi đến sự hiểu biết Thiên Chúa chân thật, thì nó cũng không phải vì thế mà là một con đường hoàn toàn sai lạc. Việc tìm kiếm lần mò về Thiên Chúa đáp ứng những ý định của Đấng Quan phòng; dường như sự tìm kiếm đó cũng có những khía cạnh tích cực. Phải chăng đã có một tương quan với Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô ngay cả trước khi trở lại đo (xem Công vụ 10, 34)? Người ta không thấy Tân Ước khép kín đối với những gì không phát xuất từ đức tin vào Đức Kitô; ngược lại Tân ước nới mở và đón nhận các giá trị tôn giáo (xem Ph. 4,8).

39- Tân ước cho chúng ta thấy cùng một lúc tính phổ quát của ý muốn cứu độ nơi Thiên Chúa và mối liên hệ của sự cứu độ với công cuộc cứu chuộc của Đức Giêsu Kitô, Đấng trung gian duy nhất. Con người đạt được sự cứu độ khi họ nhận biết và chấp nhận Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, trong đức tin. Tuy nhiên, một vài đoạn dường như giúp chúng ta hiểu rằng có một ý nghĩa cứu độ của Đức Giêsu đến với bất kỳ ai, kể cả những người không biết đến Ngài. Điều bất tương hợp với Sứ điệp Tân Ứớc đó là: hoặc giới hn ý muốn cứu độ của Thiên Chúa, hoặc cho rằng có những trung gian song song ngoài sự trung gian của Đức Giêsu, hoặc sự trung gian phổ quát nầy được xem là công việc của Lời Vĩnh cửu được hiểu như không nhất thiết phải đồng nhất với Đức Giêsu.

B- Những chủ đề của Truyền thống được lặp lại trong giáo huấn gần đây của Giáo hội

 

40- Ý nghĩa phổ quát của Đức Kitô đã được diễn tả bằng nhiều cách khác nhau trong Truyền thống của Hội Thánh từ những thời xa xưa nhất. Chúng ta hãy chọn lọc một vài chủ đề từng được nhắc đến trong các văn kiện gần đây của giáo huấn, nhất là trong Công đồng Vaticanô IỊ

41- Những hạt giống của Lời Thiên Chúa (semina Verbi). Bên ngoài những giới hn của Giáo hội hữu hình, cụ thể là trong các tôn giáo khác nhau, người ta có thể tìm ra được “những hạt giống của Lời Thiên Chúa”. Biểu tượng nầy thường được dùng với biểu tượng ánh sáng. Ánh sáng chiếu dọi cho mọi người và chuẩn bị cho Phúc âm (SL. về hoạt động truyền giáo của Giáo hội – AG. 11. 15; LG 16. 17; NẠ 2; RM 56).

42- Thần học về các “hạt giống của Lời Thiên Chúa” đến từ Thánh Giustinô. Đứng trước tình trạng đa thần của thế giới Hy lạp, Giustinô nhận thấy triết học là một đồng minh với Kitô giáo, vì triết học đã đi theo lý trí; tuy nhiên, lý trí nầy chỉ tìm được ý nghĩa trọn vẹn trong Đức Giêsu Kitô, tự thân của Lời Thiên Chúa. Chỉ có người Kitô hữu mới nhận biết Ngôi Lời hoàn toàn. Nhưng tất cả nhân loại đã chia sẻ sự hiểu biết ấy. Cho nên luôn luôn có những người sống đúng với Lời Thiên Chúa, và trong ý nghĩa đó, thì đã có “những Kitô hữu” rồi, mặc dù họ đã chỉ biết được một phần nào của hạt giống Lời Chúa. Có một sự khác biệt lớn giữa mầm của sự vật, và chính vật đó. Nhưng bằng cách nào đi nữa, thì sự hiện diện một phần và mầm của Lời Thiên Chúa vẫn là quà tặng và ân sủng của Thiên Chúa. Lời Thiên Chúa là Đấng gieo những “mầm chân lý” nầy.

43- Đối với Clementê thành Alexandria, con người là hữu thể có lý trí, do đó nó cũng tham dự vào trí tuệ chân thật là Logos đang điều hành vũ trụ. Con người đạt đến lý tính nầy một cách toàn hảo, nếu nó trở lại và theo Đức Giêsu, Lời (Logos) nhập thể . Với mầu nhiệm nhập thể, thế giới được đầy những hạt mầm của sự cứu độ . Nhưng cũng có những vụ gieo mầm của Thiên Chúa từ khởi thủy của các thời đi, đã to nên những phần chân lý khác nhau tìm thấy nơi những người Hy lạp và những người mọi rợ, đặc biệt ở trong triết học nói chung , dù rằng có cỏ lùng trộn lẫn vào chân lý . Đối với người Hy lạp, triết học đã có một chức năng tương tự như Lề Luật đối với người Do Thái. Triết học và Lề Luật đã là sự chuẩn bị hướng đến sự kiện toàn nơi Đức Kitô . Tuy nhiên có một sự khác biệt rõ ràng giữa hành động của Thiên Chúa trong các triết gia nầy và trong Cựu ước. Mặt khác, chỉ trong Đức Giêsu là ánh sáng soi cho mọi người, thì mới có thể chiêm ngắm Lời hoàn hảo, và chân lý tràn đầy. Những mãnh vụn của chân lý thuộc về toàn thể của chân lý.

44- Giustinô và Clementê đều cùng có một quan điểm khi phát biểu rằng các mãnh của chân lý toàn diện mà người Hy lạp biết đến, ít nhất một phần, đều xuất phát từ Maisen và các tiên tri. Những vị nầy xa xưa hơn các triết nhân . Chính người Hy lạp đã “ăn cắp” nơi các ngôn sứ chương trình của Chúa quan phòng, nhưng người Hy lạp đã không biết cám ơn về những gì mình đã nhận . Vì thế sự hiểu biết chân lý nầy, không phải không có tương quan với Mạc khải trong lịch sử; và Mạc khải nầy sẽ đạt đến mức sung mãn của nó trong mầu nhiệm nhập thể của Đức Giêsu.

45- Irénée không trực tiếp sử dụng hình ảnh về hạt giống của Lời Thiên Chúa. Nhưng thánh nhân nhấn mạnh rằng Lời Thiên Chúa đã luôn ở với con người trong tất cả mọi thời đi của lịch sử, Ngài đã đồng hành với con người, tiên liệu mầu nhiệm nhập thể đến ; bằng công cuộc nhập thể, chính Đức Giêsu đã đem lại một sự mới mẻ hoàn toàn. Như vậy sự cứu độ nối liền với sự xuất hiện của Đức Giêsu, mặc dù ơn cứu độ ấy đã được loan báo và những hậu quả của nó đã xảy ra trước một cách nào đó .

46- Con Thiên Chúa kết hợp với mọi người (xem GS 22; RM 6 và nhiều nơi khác). Ý tưởng nầy thường được các Thánh phụ đề cập đến khi chú giải một vài đoạn của Tân Ước. Một trong những đoạn làm cảm hứng cho lối giải thích ấy là dụ ngôn về con cừu bị lạc (xem Mt 18, 12-24; Lc 15, 1-7): Con cừu cái ấy được đồng hoá với nhân loại lạc lầm mà Đức Kitô đã đến để tìm lại. Với việc nhận lấy bản tính con người, Con Thiên Chúa đã vác lấy toàn nhân loại trên vai mình, để dâng lên Chúa Cha. Grégoriô thành Nysse diễn tả thế nầy: “Con cừu cái đó, là chúng ta đây, những con người (…) Đấng cứu độ mang trọn con cừu cái trên vai Ngài (…), vì khi đã lạc lối hoàn toàn, nó được đưa về an toàn. Người mục tử vác nó trên vai mình, nghĩa là trong thiên tính của mình (…) Khi  mang con cừu trên mình, người mục tử làm cho nó trở thành một với mình”. Câu Gioan 1,14: “Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” cũng đã được giải thích trong nhiều dịp theo nghĩa cư ngụ “bên trong chúng ta”, nghĩa là ở bên trong mỗi người; từ  “ở trong chúng ta”, dễ dàng đi đến “chúng ta ở trong Ngài” . Tất cả chúng ta ở trong Ngài, thì Ngài có thể giải hoà tất cả chúng ta với Chúa Cha . Trong nhân tính được tôn vinh của Ngài, tất cả chúng ta có thể được sống lại và nghĩ an .

47- Các Thánh Phụ không quên rằng sự hiệp nhất nầy của con người trong Thân Thể của Đức Kitô được thực hiện một cách đặc biệt trong bí tích rửa tội và thánh thể. Nhưng sự hiệp nhất của tất cả mọi người trong Đức Kitô, nhờ việc Ngài nhận lấy bản tính của chúng ta, thiết định một tiền đề khách quan để từ đó người tín hữu tăng trưởng trong sự hiệp nhất cá nhân với Đức Giêsu. Ý nghĩa phổ quát của Đức Kitô cũng giúp cho những người Kitô hữu đầu tiên thấy được việc Ngài giải thoát con người khỏi những quyền lực của thế gian nầy đang nhốt họ trong địa giới đặc thù và quốc gia .

            48- Chiều kích Kitô học của hình ảnh. Theo Công đồng Vaticano II, Đức Giêsu là “con người hoàn hảo”, và nhờ Ngài con người trở thành hoàn hảo hơn (GS 41, Tlđd. 22; 38; 45). Ngoài ra Công đồng còn dạy rằng chỉ “trong mầu nhiệm của Ngôi Lời nhập thể, mầu nhiệm về con người mới được sáng tỏ lên thật sự” (in mysterio Verbi in carnati mysterium hominis vere clarescit) (GS 22) Dựa vào nền tảng của lời xác quyết nầy, Công đồng trích dẫn một đoạn của Tertulianô, theo đó, Thiên Chúa, ngay từ khi to thành Adam từ bùn đất, đã nghĩ đến Đức Kitô, Đấng phải nhập thể . Irénée cũng đã chứng minh rằng Ngôi Lời, Đấng làm nên mọi sự, đã tiên liệu nơi Adam một chương trình tương lai của nhân loại, mà chính Người sẽ mặc lấy nơi mình . Mặc dù các lối giải thích của các Giáo Phụ về hình ảnh rất đa dạng, người ta khó có thể xem nhẹ luồng tư tưởng thấy nơi Con (Thiên Chúa), Đấng phải nhập thể (và phải chết và sống lại), như là mẫu mực Thiên Chúa đã chiếu vào đó để làm nên con người nguyên ủy. Nếu định mệnh con người là mang hình ảnh con người trên trời (1 Co 15, 49), thì dường như không lầm khi nghĩ rằng trong tất cả mọi người, phải có một chiều hướng nội ti qui về cứu cánh ấy.

C- Những lời kết luận

49- a) Chỉ trong Đức Giêsu con người mới có thể được cứu độ, và vì lý do đó, Kitô giáo có chủ trương rõ rệt về phổ quát tính. Vì thế Sứ điệp Kitô giáo nói với mọi người, và phải được loan báo cho mọi người.

     b) Một số bản văn của Tân ước và của Truyền thống xa xưa nhất hé lộ cho thấy ý nghĩa phổ quát của Đức Kitô vượt lên trên các nội dung chúng ta vừa nêu lên. Với việc giáng thế của Ngài, Đức Giêsu soi sáng cho mọi người biết Ngài là Adam tối hậu và chung cuộc mà tất cả chúng ta được mời gọi để trở nên giống Ngài v.v. Sự hiện diện phổ quát của Đức Giêsu được trình bày một cách kỹ lưỡng hơn trong giáo thuyết cổ xưa về hạt mầm Ngôi Lời (Logos spermatikés). Nhưng ngay ở đây, người ta phân biệt rõ ràng giữa sự xuất hiện toàn mãn của Lời Thiên Chúa trong Đức Kitô, với sự hiện diện của những hạt mầm của Lời Thiên Chúa trong những ai không biết đến Ngài. Sự hiện diện nầy là hiện thực, tuy nhiên nó có thể hàm ngụ sự sai lầm và mâu thuẫn . Từ khi Đức Giêsu đến trong thế gian, và nhất là từ lúc Ngài chết và sống lại, người ta hiểu được ý nghĩa tối hậu về sự gần gũi của Ngôi Lời đối với tất cả mọi người. Đức Giêsu đưa toàn bộ lịch sử đến mức hoàn thành (xem Hc GS 10, 45).

     c) Nếu sự cứu độ liên kết chặt chẽ với sự xuất hiện lịch sử của Đức Giêsu, thì sự gắn bó của mỗi người vào Đức Kitô, bằng đức tin, không thể là việc tùy nghi. Chỉ trong Hội Thánh, là sự nối tiếp lịch sử với Đức Giêsu, người ta mới có thể sống trọn mầu nhiệm nầy. Vì thế, Hội Thánh nhất thiết phải loan truyền về Đức Kitô.

     d) Không bao giờ có thể quan niệm có những “trung gian” cứu độ khả dĩ khác tách rời khỏi con người Giêsu, Đấng trung gian duy nhất. Nhưng xác định làm sao những người không biết đến Đức Giêsu mà có liên hệ với Ngài, hoặc các tôn giáo có tương quan với Ngài như thế nào, việc đó lại khó khăn hơn. Bấy giờ chúng ta phải nói đến những con đường bí nhiệm của Chúa Thánh Thần, Đấng ban cho tất cả mọi người khả năng kết hợp với mầu nhiệm phục sinh (Hc GS 22); và công việc của Chúa Thánh Thần cũng không thể không tương quan với Đức Kitô (Tđ. RM 29). Chính trong bối cảnh của tác động phổ quát do Thần Linh Chúa Kitô, mà chúng ta phải qui định vấn đề giá trị cứu độ của các tôn giáo.

     e) Là vị trung gian duy nhất, Ngài hoàn thành ý định cứu độ của Thiên Chúa Cha Thiên Chúa duy nhất. Sự cứu độ cho mọi người là một và duy nhất: đó là sự hình thành toàn vẹn với Đức Giêsu và hiệp thông với Ngài trong sự tham dự vào chức năng làm con Thiên Chúa của Ngài. Bởi đó không thể chấp nhận có những chương trình cứu độ khác nhau dành cho những kẻ tin vào Đức Giêsu, và dành cho những ai không tin vào Ngài.  Không thể có những con đường nào để đến với Thiên Chúa mà không qui kết vào con đường duy nhất là Đức Kitô (xem Gioan 14,6).

IỊ 3- Tính phổ quát của Thánh Thần

50- Phổ quát tính của hành động cứu độ của Đức Kitô không thể nào hiểu được nếu không có hành động phổ quát của Chúa Thánh Thần. Một trong những yếu tố của tính phổ quát nầy nơi công việc Chúa Thánh thần đã thấy trong sự to dựng. Cựu Ước cho chúng ta thấy  Thánh Thần của Thiên Chúa trên mặt nước (St 1,2). Và sách Khôn ngoan (Kn 1, 7) nói rằng: “Thánh Thần của Chúa tràn đầy mặt đất, và vì Ngài điều khiển tất cả vũ trụ, nên Ngài biết hết  mỗi âm thanh”

51- Nếu điều đó có thể nói đến toàn vũ trụ, thì đối với con người nó có giá trị đặc biệt hơn nữa, vì con người được to dựng theo hình ảnh và giống với Thiên Chúa (St 1, 26-27). Thiên Chúa to dựng con người để hiện diện trong con người, và cư ngụ trong con người. Nhìn ai với thiện cảm, thân cận với họ, có nghĩa là làm bạn với người ấy. Như thế ta có thể nói đến tình bạn nguyên sơ “Amicitia originalis” của con người với Thiên Chúa và của Thiên Chúa đối với con người (Công đồng Tridentinô Sessio VI, chương 7, DS 1528), như là hoa trái của hành động do Chúa Thánh Thần. Nhiều chỗ trong Cựu Ước diễn tả rằng sự sống nói chung và sự sống con người nói riêng được đặt vào mối tương quan  khi rõ nét, khi ẩn kín với Thánh Thần Thiên Chúa (xem Tv. 104, 29-30; Jb 34, 14-15; Sách Giảng viên 12, 7). Đức Gioan Phaolô II cũng nhấn mạnh đến sự hiệp thông của Chúa Thánh Thần trong việc to dựng con người theo hình ảnh Thiên Chúa và trong tình bạn của Ngài (xem TĐ. Dominum et vivificatem, 12; 34).

52- Thảm kịch của tội lỗi nằm ở trong sự kiện nầy: thay vì gần gũi giữa Thượng đế và con người, thì lại to ra tình trạng xa cách. Thần tối tăm trình bày Thiên Chúa như thù địch với con người, như một sự đe dọa (xem Sáng thế 3, 4-5; Đức Gioan Phaolô II, Tđ. DV, 38). Nhưng Thiên Chúa tự đến gần với con người qua nhiều giao ước khác nhau mà Cựu ước đã mạc khải. Ngay từ ban đầu hình ảnh và sự tương đồng, nói lên khả năng tương quan giữa con người với Thiên Chúa, nghĩa là khả năng giao ước. Thiên Chúa đã tuần tự đích thân đến gần với con người như vậy, qua những giao ước khác nhau, với Noê (xem St 7, 1 và tiếp theo), với Abraham và Maisen; và Thiên Chúa đã trở thành bạn với họ (Yc 2, 23; Xuất hành 33,11).

53- Trong Tân ước, Thiên Chúa đến gần với con người đến độ Ngài đã gửi Con mình vào thế gian, nhập thể bởi việc làm của Chúa Thánh Thần, trong lòng Trinh Nữ Maria. Giao ước mới, trái với giao ước cũ, không phải giao ước của chữ viết, nhưng là giao ước của Thánh Thần (2 Co 3, 6). Đây là Giao ước mới, và phổ quát, giao ước của tính phổ quát từ nơi Chúa Thánh Thần. Phổ quát tính nghĩa là “Versus unum”, qui về một Đấng duy nhất. Ngay chữ “thần” có nghĩa là sự linh hoạt chuyển động, và hàm ngụ một “định hướng”. Thần được gọi là Dạynamis (Cv 1, 8), và Dạynamis hàm ngụ năng lực của một hướng đi. Từ những lời nói của Đức Giêsu về  Chúa Thánh Thần, người ta biết được “Đấng hướng về” liên hệ về Đức Giêsu.

54- Sự liên hệ chặt chẽ giữa Chúa Thánh Thần và Đức Kitô biểu lộ trong việc xức dầu Đức Giêsu. Kitô có nghĩa chính xác là: Đấng được xức dầu của Thiên Chúa với dầu Chúa Thánh Thần: ” Thần Linh của Chúa ở trên tôi, bởi vì Ngài đã xức dầu cho tôi…” (Lc 4, 18; Is 61, 1-2) Thiên Chúa đã ban cho Đức Giêsu dầu “của Thánh Thần và quyền năng”, và “đi tới đâu là Ngài thi ân giáng phúc tới đó và chữa lành mọi kẻ bị ma quỉ kềm chế ” (Công vụ 10, 38). Như lời của Irénée: << Trong danh hiệu “Kitô” Đấng đã được xức dầu,  phải hiểu ngầm Đấng đã xức dầu, và dầu mà ngài đã thụ nhận: Đấng đã xức dầu là Chúa Cha, Đấng được xức dầu là Chúa Con, Người  được xức dầu trong Chúa Thánh Thần, tức là Dầu. Như Lời Thiên-Chúa nói lên điều đó qua miệng của Isaia: “Thần Linh Chúa ở trên tôi, vì Ngài đã xức dầu tôi” (Is 61, 1-2), nghĩa là Chúa Cha là Đấng đã xức dầu và Chúa Con là Đấng đã được xức dầu và Dầu là Chúa Thánh Thần  >>.

55- Như thế, phổ quát tính nơi giao ước của Thần Linh là phổ quát tính giao ước trong Đức Giêsu. Ngài đã tự dâng hiến cho Chúa Cha nhờ sức mạnh Thần Linh vĩnh cửu (He 9, 14), trong Chúa Thánh Linh Ngài đã được xức dầu. Dầu nầy chảy tràn trên Đức Kitô toàn thể, trên những Kitô hữu được Thần Linh xức dầu, và trên Hội Thánh. Inhatio thành Antiokia đã từng quả quyết rằng Đức Giêsu đã nhận sự xức dầu “để xông một hương thơm của sự không hư nát cho Hội Thánh Ngài” . Theo Irénée, “Đức Giêsu đã được xức dầu trong giòng sông Giordanô để  khi chúng ta được tiếp nhận nguồn phong phú của Dầu nầy, chúng ta được cứu độ” . Còn Grêgôriô thành Nysse thì diễn tả sự việc đó bằng một hình ảnh đẹp và sâu xa: “Ý niệm xức dầu gợi lên (…) rằng không có một khoảng cách nào giữa Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Thực thế, cũng như lý trí và cảm giác không hề biết được có những trung gian nào cả giữa làn da nơi cơ thể ta và dầu, thì sự tiếp cận giữa Chúa Con và Chúa Thánh Thần cũng trực tiếp tức khắc như thế; cho nên ai chuẩn bị gặp gỡ Chúa Con bằng đức tin thì nhất thiết phải được xức dầu. Mọi phần đều tràn đây Thánh Linh”. Trong một nghĩa nào đó, Đức Kitô hàm ngụ toàn thể mọi người, vì Đức Kitô đã kết hợp với mọi người (GS 22). Đức Giêsu còn nói: “Khi các con đã làm việc gì cho một người bé nhỏ nhất trong anh em ta, thì chính các con đã làm việc đó cho Ta” (Mt 25, 40).

56- Hội Thánh là môi trường ưu tiên để Chúa Thánh Linh hoạt động. Trong Hội Thánh là Thân Thể Đức Kitô, Chúa Thánh Linh ban nhiều đặc ân khác nhau vì ích chung (xem 1 Co 12, 4-11). Danh ngôn của Irénée sau đây nói lên điều đó: “ở đâu có Hội Thánh, thì ở đấy có Thánh Thần Thiên Chúa; và ở đâu có Thánh Thần Thiên Chúa, thì ở đó là Hội Thánh và mọi ân sủng” . Và thánh Gioan Kim Khẩu nói rằng: “Nếu Chúa Thánh Thần không hiện diện, thì hẳn Hội Thánh không có; nếu Hội Thánh có, đó là một dấu chỉ hiển nhiên về sự hiện diện của Chúa Thánh Thần” .

57 – Một vài đoạn Tân Ước cũng cho thấy tầm phổ quát của tác động Chúa Thánh Thần, trong sứ mệnh rao truyền Phúc Âm của Hội Thánh cho mọi người. Chúa Thánh Thần đi trước và hướng dẫn việc rao truyền, Ngài là căn nguồn việc truyền giáo cho lương dân (Cv 10, 19. 44-47). Thánh Linh giúp lướt thắng tội lỗi của Babel. Ngược với mưu toan của các thợ xây tháp Babel, muốn tự sức mình vươn lên trời nơi Thiên Chúa ngự, nay là Chúa Thánh Thần từ trời xuống như là một ơn huệ, ban cho con người có khả năng nói tất cả các thứ tiếng, và mỗi người có thể nghe được những việc kỳ diệu của Thiên Chúa trong tiếng nói riêng của mình (Công vụ 2, 1-11). Tháp Babel là một nỗ lực thực hiện sự hiệp nhất không có phổ quát tính: “Chúng ta hãy làm ra cho mình một tên (một dấu chỉ về sự hiệp nhất) để khỏi phải tản mác trên mặt địa cầu” (St 11,4). Lễ Hiện xuống  là hồng ân của phổ quát tính trong Hiệp nhất: “Tất cả được tràn đầy Thánh Thần và bắt đầu nói nhiều loại tiếng khác nhau, tùy theo Chúa Thánh Thần ban cho họ nói.” (Công vụ 2, 4). Trong hồng ân của Thánh Thần Hiện xuống, chúng ta thấy sự kiện toàn Giao Ước trên núi Sinai, nay thật sự trở thành phổ quát  (xem Xh 19, 1 và tiếp theo).

58 – Ơn của Chúa Thánh Thần là ơn của Đức Giêsu sống lại và lên trời ngự bên hữu Chúa Cha (Cv 2, 32; xem Gioan 14, 15. 26; 15, 26; 16,7; 20, 22); đó là một giáo huấn bền vững trong Tân Ước. Chính sự sống lại của Đức Giêsu được thực hiện với sự can thiệp của Thánh Thần (xem Rm 1,4; 8, 11). Thánh Thần ban cho chúng ta là Thần Linh của Đức Kitô, Thần Linh của Chúa Con (xem Rm 8,9; Ga 4,6; Ph 1, 19; Cv 16,7). Hoạt động của Chúa Thánh Thần luôn luôn kết hợp với hành động phổ quát của Đức Giêsu. Các Thánh Phụ đã để lại cho chúng ta những lý chứng hiển nhiên về sự kiện đó . Chính nhờ tác động của Chúa Thánh Thần mà chúng ta có thể rợp khuôn với hình ảnh của Đức Giêsu sống lại, Adam mới. Trong Ngài con người đạt được một cách dứt khoát phẩm giá từng được mời gọi để hoàn thành ngay từ thuở nguyên sơ: “Và tất cả  chúng ta, màn che trên mặt đã được mở ra, chúng ta phản chiếu vinh quang của Chúa như trong một tấm gương, chúng ta được biến cải nên chính hình ảnh ấy, đi từ vinh quang đến vinh quang, do từ nơi Chúa, là Thánh Thần” (2 Co 3,18). Con người đã được to dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, nhờ sự hiện diện của Chúa Thánh Thần nay được biến đổi theo hình ảnh của Thiên Chúa (hoặc của Đức Kitô) nhờ vào tác động của Chúa Thánh Thần. Chúa Cha là họa sĩ; Con Ngài là hình mẫu cho loài người; Thánh Thần là cây bút lông, với bút nầy con người được vẽ trong sự to dựng và trong công cuộc cứu chuộc.

59 – Vì lý do đó, Chúa Thánh Thần đưa đến Đức Kitô. Chúa Thánh Thần hướng dẫn tất cả mọi người đến với Đức Kitô, Đấng được xức dầu. Đến lượt Ngài, Đức Kitô hướng dẫn tất cả mọi người về với Chúa Cha. Không ai đến với Chúa Cha nếu không qua Đức Giêsu, vì chính Ngài là đường (Gioan 14,6), nhưng chính Chúa Thánh Thần là Đấng dẫn lối cho các môn đệ về với chân lý trọn vẹn (Gioan 16, 12-13). Từ ngữ “sẽ dẫn lối” (hodegései) hàm ngụ con đường (hódos), như thế Chúa Thánh Thần dẫn lối trên con đường là Đức Giêsu, Đấng đưa ta về với Chúa Cha. Nên không ai có thể nói “Đức Giêsu là Chúa”, nếu không được Chúa Thánh Thần tác động (1 Co 12,3). Từ ngữ “Đấng bênh đỡ” mà được Gioan dùng cho chúng ta thấy rằng Chúa Thánh Thần là “luật sư” trong vụ án đã bắt đầu ở Giêrusalem, và mãi tiếp tục trong lịch sử. Chúa Thánh Thần Bênh-Đỡ  ở trong các môn đệ Chúa Giêsu sẽ bênh vực Đức Giêsu về các lời buộc tội chống lại Ngài ở trong các môn đệ Chúa Giêsu. “Chính Ngài sẽ làm chứng cho ta, và đến phiên các con, cũng phải làm chứng cho ta, vì các con ở với ta từ lúc ban đầu” (Gioan 15, 26-27).

60 – Như thế, Chúa Thánh Thần là hồng ân của Đức Giêsu,  và Thánh Thần dẫn chúng ta về với Đức Giêsu, mặc dù con đường cụ thể Thánh Thần dùng để dẫn dắt con người chỉ có một mình Thiên Chúa biết đến. Vatiacanô II đã diễn tả sự kiện đó rõ ràng như sau: “Vì Đức Kitô đã chết cho mọi người và vì ơn gọi tối hậu của con người thực sự là duy nhất, nghĩa là bởi Thiên Chúa, cho nên  chúng ta phải tin chắc rằng Chúa Thánh Thần ban cho tất cả mọi người khả năng được tham dự vào mầu nhiệm phục sinh, cách nào đó chỉ có Thiên Chúa biết mà thôi” (GS 22). Xác quyết đặc tính phổ quát của hành động Chúa Thánh Thần, mà không đặt trong tương quan với Đức Giêsu, Con Thiên Chúa nhập thể, chết và sống lại, là một xác quyết không có một ý nghĩa gì. Hơn nữa nhờ sức mạnh tác động của Thánh Thần, tất cả mọi người có thể kết hợp với Đức Giêsu, Đấng đã sống, đã chết và đã được phục sinh trong một nơi và một thời điểm cụ thể. Ngoài ra, tác động của Thánh Thần không chỉ giới hn ở chiều kích nội tâm và cá nhân con người, nhưng còn liên hệ đến các chiều kích xã hội: “Cũng một Chúa Thánh Thần ấy đã hành động trong công cuộc nhập thể, trong đời sống, cái chết và sự sống lại của Đức Giêsu, và đang hành động trong Hội Thánh. Ngài không tự thay thế Đức Kitô và không lấp đầy khoảng trống giữa Đức Kitô và Lời Thiên Chúa, như giả thiết từng được nêu lên. Điều mà Chúa Thánh Thần làm trong tâm hồn của con người và trong lịch sử các dân tộc, trong các nền văn hoá và các tôn giáo, là chu toàn nhiệm vụ chuẩn bị cho Tin Mừng. Công việc đó của Chúa Thánh Thần phải được thực hiện trong tương quan với Đức Kitô (TĐ. RM 29).

61 – Môi trường ưu tiên cho hoạt động của Chúa Thánh Thần là Hội Thánh, thân thể Chúa Kitô. Nhưng tất cả các dân tộc, bằng nhiều cách khác nhau, được mời gọi hiệp nhất với Dân Chúa mà trong đó Thánh Thần không ngừng hoạt động: “Đặc tính phổ quát, một đặc điểm của Dân Chúa,  là ơn huệ Thiên Chúa nhờ đó Hội Thánh luôn nỗ lực một cách hữu hiệu qui tụ toàn thể nhân loại và do mọi sự tốt lành nơi họ vào Đức Kitô Đấng Thủ lãnh, trong sự hiệp nhất với Thánh Thần Ngài (…). Vì thế tất cả mọi người được mời gọi vào sự hiệp nhất Công giáo nầy của Dân Chúa, sự hiệp nhất ấy loan báo và cổ võ nền  hoà bình chung. Các tín hữu Công giáo cũng như những ai tin vào Đức Kitô và cuối cùng là mọi người, tất cả đều được ơn Chúa kêu gọi để được cứu độ, tất cả đều thuộc về cùng một sự hiệp nhất nầy, và được xếp đặt để hướng về sự hiệp nhất đó – bằng nhiều cách khác nhau- (LG 13). Chính tính phổ quát của hành động cứu độ do Đức Kitô và do Chúa Thánh Thần sẽ hướng dẫn chúng ta tìm hiểu về chức năng của Hội Thánh như là bí tích phổ quát ơn cứu độ.

IỊ4- “Hội Thánh, nhiệm tích phổ quát của ơn cứu độ”

          (Ecclesia, Universale salutis sacramentum)

62 – Không thể khai triển thần học các tôn giáo mà không lưu ý đến sứ mệnh cứu độ có tính cách phổ quát của Giáo hội, được xác minh bởi Thánh kinh và bởi Truyền thống đức tin của Giáo hội. Sự thẩm định thần học các tôn giáo từ lâu đã không thể quan niệm được, bởi vì nguyên tắc “ngoài Hội Thánh, không có sự cứu độ nào” (Extra Ecclesiam, nulla salus) được hiểu theo một nghĩa độc chuyên. Với giáo lý về Hội Thánh như là “nhiệm tích phổ quát của ơn cứu độ” hoặc “nhiệm tích của Nước Thiên Chúa”, thần học đang cố gắng đi vào một phương cách mới để đề cập đến vấn đề. Giáo huấn nầy trở về với quan điểm về nhiệm tích Giáo hội trong Tân ước đã được Công đồng Vaticanô II nhắc lại.

63- Ngày nay câu hỏi đầu tiên không phải là để biết con người có thể đạt được sự cứu rỗi hay không, nếu họ không thuộc về Hội Thánh hữu hình. Về phương diện thần học khả năng đó được xem là chắc chắn. Sự kiện có nhiều tôn giáo khác nhau mà Kitô hữu luôn luôn ý thức, sự hiểu biết kỹ lưỡng hơn về chính các tôn giáo nầy, việc cần đối thoại với các tôn giáo, khả năng nhận định rõ ràng hơn về những giới tuyến không gian và thời gian của Hội Thánh, tất cả những việc đó nêu lên câu hỏi: Liệu chúng ta còn có thể cho rằng Giáo hội cần thiết cho ơn cứu rổi hay không? Và làm sao để dung hợp nguyên tắc nầy với ý muốn cứu độ mọi người của Chúa?

A- “Ngoài Hội Thánh không có ơn cứu độ nào”

            (Extra Ecclesiam nulla salus)

64 – Đức Giêsu đã nối kết việc loan báo Nước Thiên Chúa với Giáo hội Ngài. Sau cái chết và sự sống lại của Đức Giêsu, Dân Chúa lại được kết hợp; lần này sự kết hợp được thực hiện nhân danh Đức Giêsu Kitô. Giáo hội của người Do Thái và của cả dân ngoại đã được hiểu như là công trình của Thiên Chúa, và là cộng đồng trong đó người ta sống kinh nghiệm về tác động của Chúa được vinh thăng và Thánh Linh của Ngài. Bí tích rửa tội nhân  danh Đức Giêsu Kitô -(phương thế để tham dự vào sự chết mang lại ơn cứu rỗi của Ngài) – bí tích tha tội, và việc gia nhập vào cộng đồng ơn cứu độ, tất cả được kết hợp với đức tin vào Đức Giêsu Kitô – Đấng trung gian phổ quát của ơn cứu độ. (xem Mc 16,16; Gioan 3, 5). Chính vì thế mà bí tích rửa tội được so sánh với con tàu của ơn cứu độ (1 P 3, 20 tiếp theo). Theo Tân ước, sự cứu rỗi được đặt trên nền móng của sự trung gian cứu độ duy nhất nơi Đức Giêsu Kitô.

65- Sự cần thiết của Hội Thánh  đối với việc cứu độ phải được hiểu theo hai nghĩa: sự cần thiết phải gia nhập Hội Thánh đối với những ai tin vào Đức Giêsu, và sự cần thiết của sứ vụ Hội Thánh cho công cuộc cứu độ; vì Hội Thánh tiếp nhận trọng trách Thiên Chúa trao là phải thực hiện Nước Chúa đang đến.

66- Trong thông điệp Mystici Corporis, Đức Piô XII đề cập đến vấn đề mối tương quan giữa Hội Thánh và những ai đạt đến sự cứu độ ngoài sự hiệp thông hữu hình với Hội Thánh. Ngài nói: Họ được xếp đặt ở trong thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô do một ước muốn vô thức (DS 3821). Sự chống đối của tu sĩ dòng Tên người Mỹ Leonard Feeney, nhấn mạnh đến lối giải thích chấp nhất về câu “Ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ” (Extra Ecclesiam nulla salus) là dịp để Bộ Thánh Vụ viết thư cho Tổng giám mục Boston, ngày 8.8.1949, bác bỏ lối giải thích nầy của Freeney và minh định về giáo huấn của Đức Piô XIỊ Bức thư phân biệt giữa sự cần thiết gia nhập Hội Thánh để được cứu độ (necessitas proecepti) và sự cần thiết của những phương tiện thiết yếu cho sự cứu độ (Intréseca necessitas); tương quan với những phương thế nầy, Hội Thánh là một sự hỗ trợ tổng quát cho sự cứu độ (DS 3867-3869). Trong trường hợp ở vào hoàn cảnh không hiểu biết bất khả kháng, thì chỉ cần ước muốn mặc nhiên thuộc về Giáo hội; ước muốn đó hiện hữu khi một người khao khát thực hiện ý muốn của mình cho hợp với ý của Thiên Chúa (DS 3870). Nhưng đức tin, theo nghĩa của He 11,6 và tình yêu thì luôn luôn cần thiết phải có (DS 3872).

67- Công đồng Vaticanô II lấy lại câu “Ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ” (Extra Ecclesiam nulla salus). Nhưng với câu nầy, Công đồng minh nhiên nói với những người Kitô hữu, và giới hn hiệu lực của nó đối với những ai biết đến sự cần thiết của Hội Thánh để được cứu độ mà thôi. Công đồng cho rằng xác quyết ấy được xây dựng trên nền tảng của sự cần thiết đức tin và của bí tích rửa tội mà Đức Kitô quả quyết (LG 14). Như thế, Công đồng đã mặc nhiên dùng giáo huấn của Đức Piô XII, đồng thời làm nổi bật tính cách huấn dụ nguyên thủy của câu nói nầy.

68- Khác với Đức Piô XII, Công đồng không còn nói đến “Ước muốn mặc nhiên” (Votum implicitum) và chỉ áp dụng chữ “Ước muốn” (Votum) nơi ước muốn minh nhiên của những người dự tòng muốn gia nhập Hội Thánh (LG 14). Còn về những người không phải là Kitô hữu, Công đồng nói rằng họ được sắp đặt một cách khác để thuộc về Dân Chúa. Theo những phương thức khác nhau, qua đó ý muốn cứu độ của Thiên Chúa bao gồm cả những người không phải Kitô hữu, Công đồng phân chia thành bốn nhóm: trước hết, là những người Do Thái, thứ đến là người Hồi giáo; thứ ba là những ai không mang lỗi gì về phía mình, nhưng không biết đến Phúc âm của Đức Kitô và không biết Hội Thánh, họ tìm kiếm Thiên Chúa với tấm lòng chân thành và cố gắng chu toàn Ý muốn của Ngài được biết đến qua lương tâm; và thứ tư là những ai, không do lỗi gì về phần mình, nhưng chưa đạt đến sự nhìn nhận rõ rệt về Thiên Chúa, nhưng mặc dù thế, họ vẫn cố gắng sống một cuộc sống ngay chính (LG 16).

69- Những ơn huệ mà Chúa ban cho mọi người để họ được cứu độ, theo Công đồng, là do ý muốn cứu độ phổ quát của Ngài (LG 2; 3; 16; AG 7): Sự kiện người không phải Kitô hữu cũng được sắp đặt để qui hướng về Dân Chúa dựa trên lời mời gọi tất cả mọi người đi vào ơn cứu độ; lời mời gọi đó hàm ngụ ơn gọi của mọi người thực hiện sự hiệp nhất công giáo của Dân Chúa (LG 13). Công đồng cho rằng tương quan mật thiết giữa hai ơn gọi nầy dựa trên sự trung gian duy nhất của Đức Kitô. Ngài hiện diện ở giữa chúng ta trong thân thể của Ngài, đó là Hội thánh (LG 14).

70- Như thế chúng ta hiểu được ý nghĩa nguyên sơ của câu “Ngoài Giáo hội không có ơn cứu độ” (Extra Ecclesiam nulla salus) , là nhằm khích lệ những phần tử của Hội Thánh cần trung kiên. Khi đưa câu nầy vào nội dung một câu bao quát hơn “Ngoài Đức Kitô không có ơn cứu độ” (Extra Christum nulla salus), thì câu ấy không còn thấy mâu thuẫn với lời mời tất cả mọi người đi vào sự cứu độ nữa.

 

  

B- “Họ được tham dự vào mầu nhiệm Phục sinh”

            (Paschali Mysterio consociati)

            71- Hiến chế tín lý về Giáo hội “Ánh sáng muôn dân” (Lumen Gentium) nói đến một sự xếp đặt tuần tự hướng về Giáo hội đi từ quan điểm của lời mời gọi mọi người đi vào ơn cứu độ; lời mời gọi của ơn cứu độ hàm ngụ lời mời kết hợp với Giáo hội. Ngược lại, Hiến chế mục vụ “Vui mừng và hy vọng” (Gaudium et Spes) mở ra một đuờng hướng Kitô học, Thánh Thần học và cứu độ học rộng lớn hơn. Điều gì nói đến Kitô hữu thì cũng có giá trị cho mọi người thiện chí, nơi tâm hồn họ ân sủng tác động một cách vô hình. Họ cũng có thể được Chúa Thánh Thần kết hợp vào mầu nhiệm  Phục sinh, và vì thế có thể họ được dự phần vào cái chết của Đức Kitô và đi đến sự sống lại.

(GS 22)

72- Khi người không phải là Kitô hữu được thánh hoá bởi ân sủng Thiên Chúa, thông hiệp với mầu nhiệm Phục sinh của Đức Giêsu Kitô, thì họ cũng hiệp thông với mầu nhiệm của Thân Thể Ngài là Hội Thánh. Mầu nhiệm Hội Thánh trong Đức Kitô là một thực tại năng động trong Chúa Thánh Thần. Mặc dầu sự hiệp nhất có tính cách tinh thần nầy còn thiếu sự biểu lộ hữu hình trong việc tham gia vào Hội thánh, nhưng người không phải là Kitô hữu, được thánh hoá cũng ở trong Hội Thánh là “Thân Thể Mầu Nhiệm của Đức Kitô” và là “cộng đồng tinh thần” (LG 8). Chính trong nghĩa nầy mà các Thánh Phụ của Hội Thánh có thể nói rằng những người không phải Kitô hữu được trở thành công chính và thuộc về Hội Thánh từ Abel (ecclesia ab Abel). Trong khi những người nầy được tụ tập trong Hội Thánh phổ quát với Chúa Cha (LG 2), thì những kẻ thuộc về Hội Thánh chỉ “bằng thân xác”, nhưng không phải “bằng tâm hồn” lại sẽ không được cứu độ, bởi vì họ đã không trung kiên trong đức ái (LG 14).

73- Như vậy chúng ta có thể không những nói đến một sự sắp xếp cho những người không phải Kitô hữu công chính hoá được tham dự mầu nhiệm Hội Thánh, mà cũng có thể nói đến một mối giây liên hệ với mầu nhiệm của Đức Kitô và của Thân Thể Ngài là Hội Thánh. Nhưng có lẽ không nên nói đến sự thuộc về Hội Thánh, ngay cả một sự thuộc về có tính cách tuần tự, hoặc là nói đến một sự hiệp nhất bất toàn với Giáo hội, vì đó là một lối nói dành riêng cho những người Kitô hữu không Công giáo (UR 3; LG 15); Bởi vì Hội Thánh tự yếu tính là một thực thể hỗn hợp, được cấu thành bởi sự  liên kết hữu hình và sự hiệp thông tinh thần. Dĩ nhiên, những người không phải là Kitô hữu không có lỗi gì về việc không thuộc về Hội Thánh. Họ hiệp thông với những người được mời gọi vào Nước Thiên Chúa và họ thực thi tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân. Sự hiệp thông đó sẽ được tỏ hiện ra như Giáo hội phổ quát (Ecclesia universalis) vào lúc Nước của Thiên Chúa và của Đức Kitô được hoàn thành.

 

 

C- “Nhiệm tích phổ quát của ơn cứu độ”

            (Universale salutis sacramentum)

74- Mỗi khi dựa vào tiền đề cho rằng mọi người đều có liên hệ với Giáo hội, thì “Giáo hội cần để có được sự cứu rổi” thiết yếu được hiểu là cần phải thuộc về Giáo hội. Và khi mà Giáo hội ý thức về hoàn cảnh thiểu số của mình, xét về mặt thời gian cũng như số lượng, thì sự cần thiết của chức năng cứu độ phổ quát được đặt lên hàng đầu. Sứ mệnh phổ quát của Giáo hội song song với xác tín về sự hiệu quả có tính cách nhiệm tích hướng đến sự cứu độ: sự phối hợp nầy đã tìm ra được lối diễn tả thần học trong danh xưng.Giáo hội là nhiệm tích phổ quát của ơn cứu độ. Trong tư cách ấy, Giáo hội nỗ lực phục vụ công cuộc Nước Chúa đến, trong sự nối kết tất cả mọi người với Thiên Chúa và trong sự hiệp nhất những con người lại với nhau (LG 1).

75- Thiên Chúa đã thực sự mạc khải Ngài như tình yêu, không phải chỉ vì Ngài đã cho chúng ta thông phần vào Nước Thiên Chúa và những hoa trái của nó ngay từ bây giờ, nhưng còn ở việc Ngài gọi chúng ta và cứu thoát chúng ta để hợp tác đưa Nước Ngài đến. Như thế, Hội Thánh không phải chỉ là một dấu chỉ, mà cũng còn là một dụng cụ làm cho Nước Thiên Chúa vụt đến. Hội Thánh chu toàn sứ mệnh của mình với tư cách là nhiệm tích phổ quát của ơn cứu độ, bằng việc chứng tá đức tin (martyria), phụng vụ (leiturgia) và phục vụ (diakonia).

76- Qua chứng tá của Phúc âm (martyria) về công cuộc cứu chuộc mọi người đã được Đức Giêsu Kitô hoàn thành, Hội Thánh loan báo cho mọi người mầu nhiệm Phục sinh của ơn cứu độ hiến ban cho họ hoặc họ đã từng sống mầu nhiệm đó mà không biết. Là nhiệm tích phổ quát của ơn cứu độ, Hội Thánh tự bản chất là một Hội Thánh truyền giáo. Bởi vì Thiên Chúa trong tình yêu của mình không những kêu gọi con người đạt đến sự cứu độ tối hậu của họ bằng sự hiệp thông với Ngài; nhưng hơn thế nữa, ơn gọi toàn diện của con người còn đòi buộc sự cứu độ của mình phải được thực hiện, không phải chỉ trong việc phục vụ cho “bóng mờ của những điều sẽ đến” (Col 2, 17), nhưng trong sự hiểu biết đầy đủ về chân lý, trong sự hiệp thông với Dân Chúa và trong sự hợp tác tích cực đưa Nước Chúa đến, một sự hiểu biết được cũng cố bởi niềm hy vọng chắc chắn vào sự kiên trung của Thiên Chúa.

(AG 1-2).

77- Trong phụng vụ (leiturgia) – nghĩa là việc cử hành mầu nhiệm phục sinh – Hội Thánh  đi diện cho toàn nhân loại hoàn thành sứ mệnh phục vụ tế lễ của mình. Theo ý muốn của Chúa, Phụng vụ dùng phương cách hữu hiệu mang lại ơn ích cho mọi người khi tái diễn tác động của Đức Kitô Đấng “đã mặc lấy tội lỗi” vì chúng ta (2 Co 5, 21) và đã bị “treo lên trên thập tự giá” (Ga 3, 13) thay cho chúng ta, để giải cứu chúng ta khỏi tội lỗi (LG 10). Cuối cùng trong việc phục vụ (diakonia), Hội Thánh làm chứng về sự tự hiến đầy yêu thương của Thiên Chúa cho con người cũng như sự xuất hiện của triều đi công lý yêu thương và hoà bình.

78- Sứ mệnh của Hội Thánh như là nhiệm tích phổ quát của ơn cứu độ cũng còn là việc phải làm sao để “mọi dấu vết của thiện hảo, bất luận là dấu vết nào, vốn hiện diện trong tâm hồn và tư tưởng của con người, không những đừng để chết đi, nhưng ngược lại phải được thanh tẩy, nâng lên và đưa đến mức toàn thiện” (LG 17). Vì tác động của Chúa Thánh Thần đi trước và đôi khi còn xuất lộ ra một cách hữu hình, nên sinh hoạt tông đồ (AG 4) và hoạt động của Hội Thánh cũng có thể biểu lộ trong nỗ lực tìm kiếm sự cứu thoát và nổi khắc khoải tôn giáo của con người. Mầu nhiệm Phục sinh, mà ý Thiên Chúa muốn tất cả mọi người được dự phần, là một thực tại cứu độ bao hàm toàn thể nhân loại; thực tại cứu độ ấy nối kết từ trước Giáo hội với những người không phải là Kitô hữu, những người mà Giáo hội tìm đến; thực tại đó gắn liền Giáo hội với công tác phục vụ Mạc khải, công tác mà Giáo hội luôn phải thực hiện. Một khi Hội Thánh biết, cân nhắc và tiếp nhận điều thật và điều tốt mà Thánh Thần đã thực hiện nơi những lời nói và hành vi của những người không phải là Kitô hữu, thì Giáo hội lại càng thật sự trở thành Giáo hội công giáo hơn, “Giáo hội đó nói tất cả các thứ tiếng, hiểu và ôm ẵm tất cả các ngôn ngữ trong đức ái của mình, và như thế Giáo hội chiến thắng sự phân tán của Babel”.

(AG 4).

79- “Vì thế cho nên dân truyền giáo nầy, mặc dù chưa phải là toàn dân và thường còn được thấy như là một đoàn chiên nhỏ, nhưng cống hiến cho toàn nhân loại hạt mầm dũng mạnh nhất đem lại sự hiệp nhất, hy vọng và cứu độ. Dấu ấy được Đức Kitô thiết lập để thông truyền sự sống, bác ái và chân lý; nó là dụng cụ đầy hiệu năng của ơn cứu chuộc cho mọi người; nó được gửi đến để làm ánh sáng thế gian và muối đất” (xem Mt 5, 13-16) – (LG 9).

IIỊ Một vài  hệ luận cho nền thần học về các tôn giáo

80- Một khi đã nghiên cứu khởi nguồn sự cứu độ nơi Chúa Cha, việc trung gian phổ quát nơi Đức Kitô, tính phổ quát nhờ ơn Chúa Thánh Thần, chức năng của Hội Thánh trong việc cứu độ mọi người, bây giờ chúng ta có được những yếu tố để phác họa một nền thần học các tôn giáo. Trước hoàn cảnh đa nguyên tôn giáo, ta thấy khuôn khổ của vấn đề nằm trong thắc mắc: ý nghĩa phổ quát của Đức Giêsu Kitô; sự tương quan của ý nghĩa đó đối với các tôn giáo; cũng như vấn đề chức năng của các tôn giáo trong ý định của Thiên Chúa – ý định nầy không là gì khác ngoài việc thu góp mọi sự vào Đức Kitô (Ep 1, 10). Không có gì phải ngc nhiên trong việc sử dụng lại các chủ đề xa xưa của truyền thống để làm sáng tỏ những hoàn cảnh mới. Về phương diện tích cực, phải duy trì ý nghĩa phổ quát của Đức Giêsu và Thánh Linh của  Ngài, cũng như sự phổ quát của Hội Thánh. Thật thế, Hội Thánh nầy loan truyền Phúc âm, phục vụ nhân loại bằng việc tế tự thuộc chức năng tư tế của mình trong việc cử hành phụng vụ của mầu nhiệm phục sinh. Về phương diện tiêu cực, tính phổ quát đó có tính cách độc chuyên: Không có Lời Thiên Chúa nào mà không phải là Đức Kitô, và cũng không có Thánh Thần nào không phải là Thánh Thần của Đức Kitô. Chính trong nội vi của các tiêu mốc nầy, chúng ta nhận diện các vấn đề cụ thể sắp được khai triển một cách kỹ lưỡng hơn. Chúng ta sẽ nghiên cứu một số điểm đã được đề cập đến trong phần “thực trạng của vấn đề” (status quaestionis).

IIỊ1-  Giá trị cứu độ của các tôn giáo

81- Sự cứu độ có thể thực hiện ngoài Hội Thánh đối với những người sống theo lương tâm mình không còn phải là một đối tượng để tranh cãi. Như chúng ta đã thấy ở phần trình bày trên, sự cứu độ đó không thể có được một cách độc lập với Đức Kitô và Hội Thánh của Ngài. Nó được xây dựng trên sự hiện diện phổ quát của Chúa Thánh Thần, không thể tách rời ra khỏi mầu nhiệm phục sinh của Đức Giêsu (LG 22; RM 10,…). Một số bản văn của Công đồng Vaticanô II đặc biệt nói về những tôn giáo không phải là Kitô giáo như thế nầy: Những người chưa hề nhận biết Phúc âm được xếp đặt bằng nhiều cách để thuộc về Dân Chúa, và việc gia nhập vào các tôn giáo khác nhau dường như không phải không liên hệ đến những hậu qủa của việc “xếp đặt” nầy (LG 16). Người ta nhìn nhận rằng có những tia chân lý nơi các tôn giáo khác nhau, soi dọi mọi người (NA 2), có những hạt giống của Lời Thiên Chúa (AG 11). Theo sự quan phòng của Thiên Chúa, trong các tôn giáo có những sự tốt lành và chân thực (OT 16), có những yếu tố chân lý, ân sủng và thiện hảo không những nơi tâm hồn con người, mà còn thấy trong những lễ nghi và tập tục của các dân tộc, mặc dù tất cả cần phải được “thanh lọc, thăng hoá và đưa đến mức toàn hảo” (AG 9; LG 17). Nhưng nếu nói rằng các tôn giáo tự mình có thể có một giá trị trong khuôn khổ của sự cứu độ, thì đó là một điểm còn cần bàn cãi.

82- Thông điệp “Sứ mệnh Đấng Cứu chuộc” (Redemptoris Missio), rập theo và khai triển đường hướng của Công đồng Vaticanô II đã nhấn mạnh rõ rệt hơn nữa về sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, không phải chỉ ở trong những con người thiện chí với tư cách cá nhân, nhưng còn ở trong xã hội và lịch sử, trong các dân tộc, các nền văn hoá, các tôn giáo; và tất cả điều đó luôn qui chiếu về Đức Kitô (RM 28, 29). Có một hành động phổ quát của Chúa Thánh Thần, không thể tách rời cũng không thể lẫn lộn với hành động đặc thù mà Ngài hoạt động trong Thân Thể Đức Kitô đó là Hội Thánh (Tlđd). Từ cấu trúc của Chương II của Thông điệp nầy, tựa đề là “Thánh Thần, Đấng thúc đẩy sứ mệnh truyền giáo”, có thể nói được rằng hai cách hiện diện và hành động ấy của Chúa Thánh Thần đều phát xuất từ mầu nhiệm Phục sinh. Thực vậy, các số 28-29, nói về sự hiện diện phổ quát, sau khi đã khai triển ý tưởng về truyền giáo do Chúa Thánh Thần thúc đẩy (các số 21-27). Phần cuối số 28 quả quyết rõ ràng rằng chính Đức Giêsu sống lại đang hành động trong tâm hồn con người là nhờ bởi sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Chính Chúa Thánh Thần ban phát các hạt giống của Lời Thiên Chúa hiện diện trong các nghi lễ và các tôn giáo. Việc phân loại thành hai tác động khác biệt của Chúa Thánh Thần không thể đưa đến việc tách rời hai tác động đó, làm như chỉ có tác động đầu mới có sự tương quan với mầu nhiệm cứu chuộc của Đức Kitô.

83- Thông điệp cũng đề cập đến sự hiện diện Chúa Thánh Thần và hành động Thiên Chúa trong các tôn giáo (RM 55 – 56) trong bối cảnh đối thoại với anh em thuộc các tôn giáo khác. Các tôn giáo cũng là một thách đố cho Hội Thánh, vì chúng thúc đẩy Hội Thánh nhận ra dấu chỉ sự hiện diện của Đức Kitô và hành động của Chúa Thánh Thần. “Thiên Chúa mời gọi các dân tộc quay về với Ngài trong Đức Kitô. Ngài muốn thông ban cho mọi người sự Mạc khải và tình yêu trọn vẹn của Ngài. Ngài cũng không quên tỏ lộ sự hiện diện của Ngài bằng nhiều cách, không những cho các cá nhân nhưng còn cho các dân tộc, bằng những kho tàng tinh thần phong phú mà các tôn giáo của họ là một biểu lộ chính và thiết yếu, mặc dù còn có “những thiếu sót, bất cập và lầm lẫn” (RM 55). Tuy nhiên ở đây cũng cần biết rằng có sự khác biệt với sự hiện diện của Thiên Chúa do Đức Kitô và Phúc âm Ngài mang lại.

84- Vì đã nhìn nhận một cách minh nhiên rằng Thánh Linh Đức Kitô hiện diện nơi các tôn giáo, chúng ta không thể phủ nhận việc các tôn giáo, trong tư cách của mình, có thể thực thi một chức năng cứu độ nào đó, nghĩa là các tôn giáo có thể giúp con người đạt đến cứu cánh tối hậu của mình, mặc dù còn mập mờ thiếu sót. Trong các tôn giáo, mối tương quan giữa con người và Đấng Tuyệt đối, nghĩa chiều kích siêu việt được nêu lên rõ rệt. Thực khó mà nghĩ rằng những điều Chúa Thánh Thần thực hiện trong tâm hồn mỗi người có một giá trị cứu độ, trong khi đó những điều mà cũng do chính Thánh Thần ấy thực hiện trong các tôn giáo và trong các nền văn hoá, lại không có giá trị cứu độ, như thế. Giáo huấn của Hội Thánh gần đây dường như không chấp nhận một sự phân biệt triệt để như vậy. Ngoài ra cần phải lưu ý rằng nhiều bản văn mà chúng ta đã qui chiếu không những chỉ nói đến các tôn giáo mà còn nhắc đến các nền văn hoá, lịch sử các dân tộc v.v…bên cạnh các tôn giáo nầy. Tất cả các dữ kiện đó cũng có thể được các yếu tố ân sủng tác động.

85- Thánh Linh tác động trong các tôn giáo cũng chính là Chúa Thánh Thần, Đấng dìu dắt Hội Thánh. Nhưng sự hiện diện phổ quát của Chúa Thánh Thần không thể so sánh với sự hiện diện đặc biệt của Ngài trong Hội Thánh của Đức Kitô. Không thể loại bỏ giá trị cứu độ của các tôn giáo, nhưng điều đó không có nghĩa rằng tất cả mọi điều trong các tôn giáo đều có tính cách cứu độ. Đừng quên rằng có sự hiện diện của thần ác, gia sản của tội lỗi, sự bất toàn nơi sự đáp ứng của con người trước hành động của Thiên Chúa.v.v… (xem Tài liệu Đối thoại và Rao truyền 30-31). Chỉ một mình Hội Thánh là Thân Thể của Đức Kitô, và chỉ trong Hội Thánh  ấy Chúa Thánh Thần hiện diện và hoạt động đắc lực. Do đó không ai có thể hững hờ với việc gia nhập Hội Thánh Đức Kitô và tham dự vào sự sung mãn của các ân huệ cứu độ trong Hội Thánh (RM 55). Các tôn giáo có thể thực thi chức năng “chuẩn bị cho Phúc âm” (proeparatio evangelica). Các tôn giáo có thể sửa son cho các dân tộc và văn hoá khác nhau tiếp nhận biến cố cứu chuộc đã xảy ra rồi. Trong ý nghĩa ấy, chức năng của các tôn giáo không thể so sánh với chức năng của Cựu ước. Bởi vì Cựu Ước đã chuẩn bị cho biến cố Đức Kitô đến.

86- Sự cứu độ có được nhờ hồng ân Thiên Chúa trong Đức Kitô, nhưng cần phải có sự đáp ứng và thuận nhận của con người. Các tôn giáo cũng có thể giúp con người đáp ứng,  một khi các tôn giáo thúc đẩy con người tìm kiếm Thiên Chúa, hành động đúng theo lương tâm của mình, và sống cuộc đời ngay chính (xem LG 16; VS. 94: ý thức đo đức của các dân tộc và các truyền thống tôn giáo cho ta thấy rõ hành động của Thánh Thần Thiên Chúa). Tìm kiếm sự thiện hảo tựu trung là một thái độ tôn giáo (xem VS. 9, 12). Sự trả lời của con người trước lời mời gọi của Thiên Chúa, luôn luôn được tiếp nhận trong và bởi Đức Kitô . Các chiều kích khách quan và chủ quan, đi xuống và đi lên, dường như phải đi đôi với nhau như đã từng xảy ra trong mầu nhiệm của Đức Kitô. Vậy như đã nói, các tôn giáo có thể là một phương thế giúp cho tín đồ của mình đạt sự cứu độ, nhưng không thể so sánh với chức năng mà Hội Thánh thực hiện phục vụ sự cứu độ Kitô hữu và người ngoài Kitô hữu.

87- Quả quyết rằng các tôn giáo có thể có những yếu tố cứu độ, nội dung đó không đồng nghĩa với phán đoán về sự hiện diện của các yếu tố cứu độ trong mỗi một tôn giáo cụ thể. Vả lại, tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân theo nghĩa tối hậu chỉ có thể thực thi được nhờ vào Đức Giêsu mà thôi, Ngài là vị trung gian duy nhất; Ngài là con đường độc đo để đến với  chính Thiên Chúa. Các tôn giáo có thể chất chứa chân lý cứu độ khi dẫn đưa con người đến tình yêu chân thật. Nếu thực sự việc đó cũng có thể xảy ra nơi những người không sống một tôn giáo nào, thì dường như tình yêu chân thật hướng về Thiên Chúa phải đưa đến sự tôn thờ và thực thi tôn giáo trong sự hiệp thông với những người khác.

IIỊ2- Câu hỏi về Mạc khải

 

88- Tính cách đặc loại và quyết định của Mạc khải Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô đặt nền tảng trên sự kiện là Thiên Chúa Ba ngôi tự tỏ mình trong Ngài mà thôi. Từ nội dung đó, người ta chỉ có thể nói về Mạc khải Thiên Chúa một cách chính xác, khi có sự kiện chính Thiên Chúa tự tỏ mình ra. Như thế Đức Kitô vừa là trung gian, vừa là sự viên mãn của Mạc khải (DV 2). Đừng lẫn lộn ý niệm thần học về Mạc khải với ý niệm hiện tượng luận về tôn giáo (các tôn giáo của Mạc khải, là những tôn giáo cho rằng mình được xây dựng trên một mạc khải thần thánh). Chỉ trong Đức Kitô và trong Thánh Thần mà Thiên Chúa đã hoàn toàn tự mạc khải cho con người; vì thế chỉ khi sự tự-truyền-thông nầy tự-khai-mở cho biết, thì bấy giờ Mạc khải Thiên Chúa mới thực sự xảy đến theo nghĩa trọn đầy. Sự tự hiến mà Thiên Chúa thực hiện và Mạc khải của Ngài là hai khía cạnh không thể tách ra ngoài biến cố Đức Giêsu.

89- Trước khi Đức Kitô đến, Thiên Chúa đã tự Mạc khải Ngài một cách đặc biệt cho dân Israel như là Thiên Chúa Duy nhất, Hằng sống và Chân thật. Với tư cách là chứng tá cho Mạc khải nầy, các sách Cựu ước là Lời Thiên Chúa và có một giá trị vĩnh cửu (xem DV. 14). Chỉ trong Tân ước mà các sách của Cựu Ước tiếp nhận và thể hiện ý nghĩa trọn vẹn của chúng (xem DV 16). Nhưng Do thái giáo dừng lại nơi mạc khải chân thật của Thiên Chúa nơi Cựu ước. Một số yếu tố của Mạc khải Kinh thánh đã được Hồi giáo thu nhặt; nhưng lại được giải thích trong một bối cảnh khác.

90- Thiên Chúa đã tự mạc khải, và còn tiếp tục tự tỏ mình ra cho con người biết bằng nhiều phương cách: bằng những công việc của công trình to dựng (xem Kn 13, 5; Rm 1, 19-20), bởi những phán đoán của lương tâm (xem Rm 2, 14-15). v.v… Thiên Chúa có thể soi sáng con người trên những nẻo đường khác nhau. Sự kiên trung của Thiên Chúa có thể làm phát sinh một lọai nhận thức bẩm sinh. Các truyền thống tôn giáo đã cho thấy có “nhiều nhân vật thành khẩn, được Thánh Thần Thiên Chúa hứng khởi” (Tài liệu Đối thoại và Rao truyền, 30). Một cách nào đó, con người không ngừng nhận ra tác động của Thánh thần. Nếu theo giáo huấn của Hội Thánh, các tôn giáo có được những “hạt giống của Lời Thiên Chúa” và những “tia sáng chân lý”, thì ta không thể loại bỏ những yếu tố của một sự hiểu biết chân thật về Thiên Chúa nơi các tôn giáo dẫu chúng còn bất toàn (xem RM 55). Chiều kích tri thức học không thể nào hoàn toàn vắng bóng nơi mà chúng ta nhận ra những yếu tố của ân sủng và cứu độ.

91- Mặc dù Thiên Chúa đã soi sáng con người bằng nhiều cách, nhưng chúng ta không bao giờ có được sự bảo đảm trong việc tiếp nhận và giải thích đúng về những ánh sáng nầy nơi những người tiếp nhận. Chỉ trong Đức Giêsu chúng ta mới có được sự bảo đảm của một sự tiếp nhận đầy đủ ý muốn của Chúa Cha. Chúa Thánh Thần đã phù trợ một cách đặc biệt các Tông đồ trong việc làm chứng về Đức Giêsu và trong sự truyền bá sứ điệp của Ngài. Do lời giảng dạy của các tông đồ mà Tân Ước đã xuất hiện, và cũng nhờ vào sự giảng dạy ấy mà Hội Thánh đã đón nhận Cựu Ước. Sự linh ứng của Thiên Chúa mà Hội Thánh nhìn nhận nơi các bản văn Cựu Ước và Tân ước bảo đảm rằng mọi sự đã được ghi lại trong các bản văn nầy điều do ý muốn Thiên Chúa.

92- Các tôn giáo không phải tất cả đều có những sách thánh. Mặc dù người ta không thể loại bỏ một sự soi sáng của Thiên Chúa trong việc chép các bản sách nầy (đối với những tôn giáo có sách thánh = theo từ ngữ ta dùng ở đây), nhưng thích đáng hơn nên thận trọng về phẩm chất của “thần hứng” nơi các sách kinh ấy (xem DV 11). Danh xưng “Lời Chúa” đã được truyền thống dành riêng để chỉ những bản văn của hai bộ Cựu ước và Tân ước. Sự phân biệt nầy rõ rệt, kể cả nơi các tác giả vào thủa ban đầu trong Giáo hội từng nhìn nhận những hạt giống Lời Chúa trong các bản văn triết lý và tôn giáo. Những sách kinh của các tôn giáo khác nhau, dù có thể là một chặng đường chuẩn bị cho Phúc âm, cũng không có thể cho là tương đương với Cựu ước, vì Cựu ước to nên sự chuẩn bị trực tiếp cho việc Đức Kitô đến trong thế gian.

IIỊ3-      Chân lý là vấn đề nêu lên cho thần học các tôn giáo và lập trường đa nguyên

 

93- Đối thoại liên tôn không phải chỉ là một ước muốn phát xuất từ Công đồng Vaticanô II và được Giáo hoàng đương kim duy trì. Đó cũng còn là một nhu cầu trong hoàn cảnh hiện nay của thế giới. Chúng ta biết rằng đối thoại nầy là một mối ưu tư chính của nền thần học đa nguyên về các tôn giáo trong suốt thời gian gần đây. Để có thể thực hiện được cuộc đối thoại nầy, các đi diện của các lập trường thần học đa nguyên nghĩ rằng phía Kitô hữu, cần loại bỏ mọi chủ trương ưu thế và độc tôn. Cần phải cho rằng mọi tôn giáo đều có giá trị ngang nhau. Họ nghĩ rằng nhìn nhận Đức Giêsu như là Đấng Cứu chuộc và Trung gian duy nhất cho con người là một chủ trương cho mình có ưu thế.

94- Do đó, họ cho rằng bỏ đi chủ trương nầy được xem như thiết yếu để có thể đi đến đối thoại. Chắc chắn đây là điểm quan trọng nhất mà chúng ta phải đương đầu. Đối diện với những xác quyết nầy, cần chứng minh rằng sự kiện thần học công giáo khẳng định rằng tất cả những gì là chân thật và đáng quí trọng trong các tôn giáo khác nhau đều đến từ Đức Kitô trong Chúa Thánh Thần: xác quyết như thế không khi nào có nghĩa là một sự khinh thị hoặc đánh giá thấp. Nhưng đây là phương thức hay nhất mà Kitô hữu diễn tả sự quí mến đối với các tôn giáo.

95- Nếu chúng ta so sánh một số lập trường thần học được trình bày trong chương I với những quan điểm giáo huấn của Giáo hội hiện nay và nền tảng của các quan điểm nầy trong Kinh thánh và Truyền Thống được khai triển trong chương II, thì sẽ nhận ra rằng đôi bên đều có chung ý định nền tảng là chân nhận một cách kính trọng và biết ơn những chân lý và giá trị được tìm thấy trong các tôn giáo khác nhau. Đôi bên đều nỗ lực tìm cách đối thoại với các tôn giáo khác không tiền kiến hoặc có ước muốn tranh biện.

96- Nhưng sự khác biệt nền tảng giữa hai hướng nhìn nầy nằm ở lập trường của mỗi bên trước vấn đề thần học về chân lý, và đồng thời trước đức tin Kitô giáo. Giáo huấn Hội Thánh  về thần học các tôn giáo lập luận dựa vào trung tâm điểm của chân lý nơi đức tin kitô giáo. Một mặt nó lưu ý đến giáo huấn của Phaolô về sự hiểu biết tự nhiên về Thượng đế, và mặt khác nó cũng diễn tả sự tin tưởng vào hành động phổ quát của Chúa Thánh Thần. Giáo huấn Hội Thánh nhận thấy hai đường hướng đó đã ăn sâu vào truyền thống thần học. Nó trân trọng Chân-Thiện-Mỹ của các tôn giáo từ nền tảng chân lý sâu xa nhất nơi đức tin riêng của mình, nhưng không chung chung cho rằng lập trường về chân lý của các tôn giáo khác có cùng hiệu lực vững chắc của đức tin. Vì làm như thế có thể dẫn đến một thái độ dững dưng, nghĩa là không nghiêm túc trước lập trường về Chân lý, lập trường của mình cũng như lập trường của kẻ khác.

97- Thần học các tôn giáo mà chúng ta tìm thấy trong các tài liệu chính thức lập luận dựa trên trung tâm điểm của đức tin. Còn đối với phương thức tiến hành các thần học đa nguyên, mặc dù có những ý kiến khác biệt nhau và những thay đổi thường xuyên diễn ra trong các thần học ấy, có thể nói được là tất cả đều có một chiến lược “đi kết” về đối thoại, nghĩa là lưu tâm đến một sự hiệp nhất cần phải được tân to trong tương quan với các tôn giáo khác. Nhưng sự hiệp nhất ấy chỉ có thể xây dựng được khi loại bỏ đi một số khía cạnh của chính lập trường của mình. Người ta muốn đạt đến sự hiệp nhất bằng cách loại bỏ giá trị nơi những điểm khác biệt được xem như là một sự đe dọa; ít ra chúng chỉ được coi như những điểm cá biệt hoặc những quan điểm hn chế liên quan đến một  nền văn hoá đặc loại, cần phải loại bỏ đi.

98- Sự thay đổi trong nhận thức đức tin riêng của mình nơi thần học đa nguyên tôn giáo có nhiều khía cạnh. Chúng ta hãy ghi lại những khía cạnh quan trọng nhất:

            a) Về phương diện lịch sử, người ta đề nghị một sơ đồ với ba giai đoạn. Sơ đồ nầy dẫn đến tình trạng đa nguyên như  một điểm chung kết: chủ trương độc chuyên, chủ trương bao gồm, chủ trương đa nguyên. Chủ trương nầy tiền kiến một cách sai lầm rằng chỉ có lập trường đa nguyên mới thật sự lưu ý đến các tôn giáo khác mình, nên sẽ đem lại hoà bình tôn giáo.

            b) Về phương diện tri thức luận, người ta giới hn khả năng diễn tả chân lý của các xác quyết thần học (các xác quyết thần học này chỉ được quan niệm như là những phương thức diễn tả đặc loại tùy thuộc vào một nền văn hóa thôi), hoặc còn đi đến việc hủy bỏ luôn khả năng diễn đạt chân lý của các xác quyết thần học (các xác quyết thần học chỉ được xem như những xác quyết có tính cách thần thoại mà thôi).

            c) Về phương diện thần học, người ta cố tìm một cương lĩnh để to sự hiệp nhất; vì muốn có được sự nhìn nhận vị thế ngang nhau giữa các tôn giáo, nên phải dùng phương pháp phân-cục và giản lược (đi từ lập trường lấy Giáo hội làm tâm điểm đến lập trường lấy Đức Kitô làm tâm điểm, rồi từ lập trường sau nầy đến lập trường lấy Thượng đế làm tâm điểm, đồng thời người ta còn đề nghị một ý niệm siêu định về Thiên Chúa), cũng như phải biến đổi và cắt giảm các nội dung đặc loại của đức tin, đặc biệt trong Kitô học.

99- Vào một thời đi mà ý tưởng đa nguyên về thị trường rất thịnh hành, thần học đó được tiếp nhận dễ dàng; nhưng thái độ đó quên đặt mình vào tư thế của người đang đối thoại. Với quan điểm nầy, khi đối thoại có thể xảy ra ba trường hợp:

            a) Người đối thoại buộc phải nhìn nhận luận đề về “vị thế ngang nhau” trong nhiều hoàn cảnh khác nhau của lịch sử.

            b) Người ấy phải chấp nhận luận cứ giới hn hay từ bỏ khả năng chân lý của tất cả những xác quyết thần học nơi chính tôn giáo mình;

c- Hoặc người ấy cần thay đổi phương pháp thần học riêng của mình và nội dung của các xác quyết riêng của đức tin, đến mức các xác quyết ấy không còn có giá trị nào nữa trong tương quan đối với các chuẩn tắc của tôn giáo riêng của mình. Như thế là cuộc đối thoại tôn giáo kỳ cùng đành chấm dứt. Thật thế, không còn gì nữa ngoài việc nhận ra rằng đa nguyên ấy là mơ hồ. Do đó, thần học đa nguyên, như một chiến lược để đối thoại  giữa các tôn giáo, không những chẳng tự biện minh được trước chủ trương chân lý của chính tôn giáo riêng của mình, mà đồng thời lại làm tan biến luôn chủ trương chân lý của phía kia.

100- Đối diện với việc đơn giản hoá lịch sử, lập trường tri thức luận hoặc thần học của tương quan giữa Kitô giáo và các tôn giáo khác trong thần học đa nguyên, cần khởi sự từ cái nhìn dị biệt về các tôn giáo của Tuyên ngôn “Nostra Aetate” của Công đồng Vaticanô IỊ Trong bản tuyên ngôn nầy, các tôn giáo trên thế giới được diễn tả như có một nền tảng chung là nỗ lực để “bằng nhiều phương thức khác nhau đi sâu vào nổi khắc khoải của tâm hồn con người và đề nghị những con đường, nghĩa là những giáo lý, những luật sống và những lễ nghi thần thánh” (NA 2), nhưng không xoá đi những dị biệt cũng rất nền tảng: những hình thức khác nhau của Phật giáo chỉ cho con người những con đường để từ đó nhận ra được ý nghĩa của chân tánh khi ý thức được sự vô thường tận căn của thế giới bất-tất; trong nguồn phong phú của các thần thoại Ấn Độ giáo, trong những yêu sách khổ hnh và những chiêm niệm sâu xa của tôn giáo nầy, việc tìm kiếm đầy tin tưởng một nơi trú ẩn nơi Thiên Chúa được mạc khải – Với Hồi giáo, Giáo hội có nhiều điểm chung, vì Hội Thánh nhận ra rằng các tín đồ tôn giáo nầy “thờ phượng Thiên Chúa Độc nhất (…) Đấng to dựng nên trời đất” (NA 3). Chúng ta nhận ra rõ ràng những gì phân cách chúng ta, nhưng đồng thời cũng không thể xem nhẹ những yếu tố chung trong lịch sử và trong giáo lý. Kitô giáo liên hệ với Do Thái giáo vì cùng một nguồn gốc và một gia sản phong phú chung. Lịch sử của giao ước với Israel, việc tuyên xưng một Thiên Chúa duy nhất mạc khải trong lịch sử ấy, hy vọng vào Thiên Chúa đang đến và Nước Ngài sẽ đến, là những nội dung chung của người Do Thái và Kitô hữu (xem NA 4). Một nền thần học Kitô giáo về các tôn giáo phải có khả năng trình bày một cách thần học các yếu tố chung và những dị biệt giữa đức tin cá biệt của mình và các niềm tin của các nhóm tôn giáo khác nhau. Công đồng nhận định nhiệm vụ khó khăn nầy của mình: Một mặt, Công đồng chiêm ngắm sự hiệp nhất của nhân loại, đặt trên nền tảng của một nguồn gốc chung (NA 1). Với lý do nầy, dựa trên thần học của công cuộc to dựng: “Giáo hội Công giáo không vất bỏ bất cứ cái gì là thật và thánh thiện trong các tôn giáo” (NA 2). Nhưng mặt khác, Giáo hội nhấn mạnh đến sự cần thiết về việc loan truyền chân lý, đó chính là Đức Kitô: “Hội Thánh loan truyền, và quyết tâm loan truyền không ngừng Đức Kitô là đường, sự thật và sự sống (Gioan 14, 16), trong Ngài mọi người sẽ tìm được sự sung mãn của sự sống tôn giáo và trong Ngài Thiên Chúa đã tự giải hoà lại với mọi sự” [Phần chú thích: xem 2 Co 5, 18-19] (Tlđd).

101- Tất cả mọi cuộc đối thoại chỉ thực hiện được trong nỗ lực tìm chân lý của những người tham dự. Nhưng đối thoại  giữa các tôn giáo còn có đặc tính là cấu trúc sâu xa của văn hoá gốc của mỗi người lại được sử dụng để tìm hiểu lập trường về chân lý của một nền văn hóa khác mình. Hẳn nhiên công cuộc đối thoại đó đòi hỏi nhiều cố gắng, và cần thiết phải có một sự bén nhy đặc biệt về nền văn hoá khác. Suốt trong các thập niên vừa qua, người ta đã đặc biệt  khai triển tính nhy bén về bối cảnh văn hoá, từ phía các tôn giáo khác nhau cũng như Kitô giáo và các nền thần học. ở đây chỉ cần nhắc lại “những nền thần học theo bối cảnh”, và ý nghĩa ngày càng gia tăng của chủ đề hội nhập văn hoá trong giáo huấn của Giáo hội và trong thần học. Ủy ban Thần học Quốc tế đã lên tiếng về các chủ đề nầy , cho nên ở đây chỉ cần đưa ra hai chỉ dẫn:

1- Một nền thần học của các tôn giáo khác nhau, đặt trên quan điểm riêng của chính mình về chân lý, là căn bản cho tất cả mọi đối thoại tôn giáo nghiêm túc và là tiền đề cần thiết để hiểu tình trạng cá biệt của các lập trường và các phương tiện diễn tả có tính cách văn hoá của chúng.

2- Những bối cảnh văn chương hoặc xã hội văn hoá v.v…là những phương tiện quan trọng; nếu ta chỉ sử dụng chúng mà thôi để hiểu các bản văn và các hoàn cảnh, thì chúng có thể cống hiến một bình diện khả dĩ của chân lý, nhưng chúng không bao giờ được đồng hoá với chính chân lý. Vì thế, ta cần định vị ý nghĩa và những giới hn của bối cảnh văn hoá. Đối thoại liên tôn thảo luận những “sự trùng hợp và đồng qui” với các tôn giáo khác, với tất cả sự thận trọng và tương kính. Đối với việc thảo luận các “mối dị biệt”, cần lưu ý rằng việc nghiên cứu nầy không phải để vô hiệu hoá các điểm trùng hợp và những yếu tố đồng qui; ngoài ra đối thoại về sự khác biệt ấy còn phải khởi xuất từ giáo lý riêng của mỗi người và nền đo đức liên hệ; nói cách khác, phương thức đối thoại không thể vô hiệu hoá nội dung của đức tin riêng của mỗi người và nền đo đức gắn liền với đức tin đó.

102- Mối liên hệ hỗ tương của các nền văn hoá trong thế giới hiện nay nhân tăng việc giải thích và phổ biến liên tục các nền văn hóa đó bằng các phương tiện truyền thông; sự kiện nầy làm cho vấn đề chân lý của các tôn giáo trở thành trung tâm điểm của tâm thức con người ngày nay. Những suy tư ở đây chú ý đến một số tiền đề của hoàn cảnh nầy, nhưng không tranh cãi về các nội dung của các tôn giáo khác nhau. Việc thảo luận sâu xa hơn nên được thực hiện ở nhiều nơi khác nhau, nghĩa là trong những trung tâm nghiên cứu có được một sự tiếp xúc văn hoá trực tiếp với các tôn giáo. Đối diện với tình trạng thay đổi tâm thức của con người ngày nay và với hoàn cảnh của những người có lòng tin, hẳn nhiên việc tranh luận về quan điểm chân lý của các tôn giáo không thể là một khía cạnh bên lề hoặc chỉ là một phần nhỏ của thần học. Việc đáp ứng một cách cung kính với ước vọng nầy phải đóng một vai trò trung tâm trong việc làm hằng ngày của thần học, và phải đưa vào chương trình chính thức của bộ môn nầy. Song song với nỗ lực đó, ngày nay Kitô hữu phải tôn trọng sự khác biệt của các tôn giáo, tập thực hiện một hình thức hiệp thông có nền tảng là tình yêu Thiên Chúa đối với con người và trong sự kính trọng tự do của con người. Sự kính trọng khi đối diện với “tính khác biệt” của các tôn giáo khác đi liền với điều kiện hiện hữu của quan điểm chân lý nơi mỗi người.

103- Cũng như tình yêu, việc tôn trọng – quí mến chân lý của kẻ khác, từ trong cơ cấu của nó, luôn dựa trên sự thẩm định chính mình. Nền tảng của mọi công việc truyền thông, cũng như trong công cuộc đối thoại tôn giáo, là sự nhìn nhận yêu sách của chân lý. Nhưng đức tin Kitô giáo có cơ cấu riêng của mình về chân lý: các tôn giáo nói “đến” “Đấng Thánh, “đến” Thiên Chúa, “về” Ngài, thay cho Ngài” hay “nhân danh Ngài”. Chỉ trong Kitô giáo mới thấy chính Thiên Chúa nói với con người bằng Lời Ngài. Chỉ có cách nói nầy mới có thể giúp con người đạt đến chân tính của mình cũng như hiệp thông được với Thiên Chúa và với tất cả những người khác. Thiên Chúa Ba ngôi là trung tâm của đức tin nầy. Chỉ có đức tin Kitô giáo linh hoạt từ nơi Thiên Chúa đơn nhất và Ba ngôi. Và chính từ chiều sâu văn hoá nầy mà việc nhìn nhận phẩm giá con người trong xã hội đa biệt đã nảy sinh, to nên một nét riêng của thời đi mới.

104- Lập trường đa nguyên gán cho sự trung gian cứu độ duy nhất nơi Đức Kitô là một chủ trương trịch thượng; do đó nó đòi hỏi phải thay thế quan điểm thần học lấy Đức Kitô làm trung tâm bằng quan điểm lấy Thiên Chúa là trung tâm; lập trường đa nguyên cho rằng quan điểm lấy Đức Kitô làm trung tâm là nguyên nhân của cung cách trịch thượng, còn quan điểm sau được đánh giá là dễ chấp nhận hơn. Đối diện với lập trường nầy, ta phải xác quyết rằng chân lý đức tin không phải là việc chúng ta có thể tùy tiện. Đối với một chiến lược đối thoại đòi hỏi phải có một sự cắt giảm tín lý Kitô học để loại trừ nơi Kitô giáo chủ trương trịch thượn, theo ý chúng tôi tốt hơn chúng ta nên đào sâu đức tin trong khuôn khổ Kitô học để có một phương thức truyền bá Tin Mừng ăn khớp với nội dung đức tin của mình. Mọi hình thức rao giảng Phúc âm không tương ứng với sứ điệp, cuộc sống, sự chết và sự sống lại của Đức Giêsu Kitô, đều làm sai lạc sứ điệp nầy, và kỳ cùng là xuyên tạc chính Đức Giêsu Kitô. Chân lý như là chân lý luôn luôn “có tính cách tối thượng”; nhưng chân lý của Đức Giêsu Kitô, một cách hết sức rõ rệt nơi yêu sách của chính chân lý nầy, là luôn luôn phục vụ con người; đó là chân lý của Đấng hiến mng sống mình cho con người để dẫn đưa con người đi vào trong tình yêu Thiên Chúa một cách vĩnh viễn. Mọi phương pháp rao truyền có chủ tâm cố tìm cách áp buộc người nghe, hoặc ảnh hưởng họ bằng những phương thế của một loại lý luận có tính cách phương tiện hoặc chiến lược, đều đi ngược lại với Đức Kitô – là Lời  và Tin Mừng của Chúa Cha – và đi ngược lại với phẩm giá con người mà chính Ngài tuyên dương.

IIỊ4- Đối thoại liên tôn và mầu nhiệm cứu độ

105- Từ sau Công đồng Vaticanô II, Giáo hội Công giáo đã quyết tâm dấn thân cho công cuộc đối thoại liên tôn  và chính vì công cuộc đối thoại ấy mà tài liệu nầy đã được khai triển, dù đối thoại không phải là một đề tài căn bản của bản văn. Thực trạng của vấn đề Kitô giáo và sự liên hệ của nó với các tôn giáo khác, các tiền đề thần học và những hệ luận rút ra từ đấy, tất cả đều có liên quan đến giá trị cứu độ các tôn giáo và Mạc khải Thiên Chúa. Những suy tư nầy nhằm soi sáng cho Kitô hữu trong các cuộc đối thoại với những tín đồ các tôn giáo khác.

106- Các công cuộc đối thoại hoặc là một sự kiện thuộc những người chuyên môn, hoặc xảy ra trong đời hằng ngày qua những lời nói hay các cách cư xử, thì không những chúng có quan hệ với những con người đối thoại, mà trước hết chúng cũng còn quan hệ với Thiên Chúa mà con người tuyên xưng. Cuộc đối thoại liên tôn như thế gồm ba tác nhân. Vì thế, ở đây Kitô hữu phải lưu ý đến hai câu hỏi nền tảng mà ý nghĩa cuộc đối thoại lệ thuộc vào: Ý nghĩa về Thiên Chúa và ý nghĩa về con người.

A- Ý nghĩa về  Thiên Chúa

107- Trong cuộc đối thoại liên tôn, mỗi bên thật sự phát biểu theo một nghĩa nào đó về Thiên Chúa và ngầm đặt câu hỏi cho người đối diện: Thiên Chúa của ông bà như thế nào? Kitô hữu không thể lắng nghe và hiểu người ấy mà không tự đặt cho chính mình câu hỏi nầy. Thật ra, thần học Kitô giáo còn vượt lên một lối nói nào bất kỳ về Thiên Chúa: Chúng ta cố gắng nói về Thiên Chúa bằng chính ngôn ngữ con người như Lời Thiên Chúa nhập thể đã dạy cho biết (xem Gioan 1, 18; 17, 3). Do đó có một vài điểm cần thiết phải cân nhắc trong cuộc đối thoại:

108- a) Nếu nói đến thần thánh như là giá trị siêu việt và tuyệt đối, thì đây có phải là một Thực tại không ngôi vị hay đây là một Hữu thể ngôi vị?

                 b) Tính siêu việt của Thượng đế có phải là được hiểu như một huyền thoại ngoài thời gian hay là Đấng siêu việt đó tương hợp với hành động của mình trong lịch sử liên quan đến con người?

               c) Thiên Chúa được hiểu biết chỉ bằng lý trí, hoặc Ngài cũng được biết bằng đức tin bởi vì Thiên Chúa tự mạc khải cho con người?

                d) Bởi vì “tôn giáo” là một lối tương giao nào đó giữa Thiên Chúa và con người. Tôn giáo đó diễn tả một Thiên Chúa “theo hình ảnh con người”, hay còn hàm ngụ rằng “con người là hình ảnh của Thiên Chúa” ?

                e) Nếu người ta chấp nhận rằng Thiên Chúa là Duy nhất, như yêu sách của lý trí, thì tuyên xưng Ngài là “Một” có nghĩa như thế nào? Một Thiên Chúa không ngôi vị có thể được lý trí chấp nhận, nhưng theo sự tự mạc khải của Ngài trong Đức Kitô thì mầu nhiệm Thiên Chúa Duy Nhất đó có thể được đức tin đón nhận như Một Thiên Chúa Ba ngôi đồng bản tính và không thể phân chia. Sự phân định đó hết sức quan trọng vì những hệ quả phát xuất từ nội dung nầy, ảnh hưởng đến nhân loại học và xã hội học gắn liền với mỗi tôn giáo.

                f) Các tôn giáo nhìn nhận nơi thần thánh những thuộc tính thiết yếu, như toàn năng, toàn trí, thiện hảo, công bình. Nhưng, để hiểu được sự nhất quán của giáo lý nơi mỗi tôn giáo, và để hiểu thấu những ý nghĩa còn hồ đồ nơi một từ ngữ bên ngoài xem ra giống nhau, cần thiết phải nắm được trụ chính mà các danh xưng thần thánh nầy dựa vào. Một sự phân định như thế liên quan đặc biệt đến ngôn ngữ Thánh kinh mà trụ chính là Giao ước giữa Thiên Chúa và con người, giao ước được hoàn thành trong Đức Kitô.

                g) Một sự phân định khác cũng xem là cần thiết liên quan đến ngữ vựng có tính cách đặc loại thần học, một khi ngữ vựng nầy lệ thuộc vào nền văn hoá của mỗi bên đối thoại và của nền triết lý bên trong của nó. Nên ta phải lưu ý đến nét đặc loại văn hoá của đôi bên, ngay cả khi cả đôi bên đều thuộc về cùng một nền văn hoá nguyên thủy.

                h) Thế giới ngày nay dường như quan tâm nhiều đến nhân quyền, ít nhất về mặt lý thuyết. Một vài chủ trương bảo căn, ngay cả nơi Kitô hữu, lấy những đặc quyền của Thiên Chúa để đối kháng với các quyền con người. Nhưng trong cuộc đối kháng đó, người ta nói đến Thiên Chúa nào đây, và kỳ cùng, là nói đến con người nào đây?

B- Ý nghĩa con người

109- Một nền nhân loại học tiềm tàng cũng đã được đưa vào trong công cuộc đối thoại liên tôn, sự kiện đó dựa trên hai lý do. Thực vậy, một mặt đối thoại đặt con người vào cuộc truyền thông trao đổi, mà mỗi bên là chủ thể của lời nói và cách xử trí của mình. Mặt khác, khi các tín đồ các tôn giáo khác nhau đối thoại, thì có một biến cố xảy ra sâu kín hơn cả sự truyền thông bằng lời nói: đó là sự gặp gỡ giữa những con người, mà mỗi người lần bước về mang theo gánh nặng của thân phận con người mình.

110- Trong cuộc đối thoại liên tôn, đôi bên có chung một quan niệm về nhân vị con người hay không? Câu hỏi đặt ra không phải lý thuyết, nhưng nó chất vấn tâm hồn mỗi người đang đối thoại. Người Kitô hữu đối thoại hẳn biết rằng con người là “hình ảnh của Thiên Chúa”, nên tự tâm hồn vang dội lời mời gọi liên lĩ của Thiên Chúa, con người đó thiết yếu là tương quan và có thể mở ra với “ai khác”. Nhưng tất cả các thành phần đối thoại có ý thức về mầu nhiệm con người và mầu nhiệm Thiên Chúa “Đấng Tối cao”  hay không? Như thế Kitô hữu bấy giờ quay lại tự chất vấn chính mình: Khi mình đối thoại, khởi từ đâu để nói? Từ mặt tiền sân khấu của vị thế xã hội và tôn giáo của chính mình? Từ trên cao của “Siêu ngã” của mình hoặc của hình ảnh lý tưởng nơi mình? Vì phải làm chứng cho Chúa  và Đấng Cứu độ của mình, thì thử hỏi Chúa đó đang cư ngụ ở “căn nhà nào” trong tâm hồn mình? Trong đối thoại liên tôn, gồm có mối tương quan giữa con người với nhau và mối tương quan của mỗi người với Thượng đế Hằng Sống và Chân Thật.

111- Vì thế, cầu nguyện trong đối thoại liên tôn có tầm quan trọng đặc biệt. “Con người tìm kiếm Thiên Chúa (…). Tất cả các tôn giáo chứng thực về nổi thao thức tìm kiếm nầy” . Cầu nguyện là tương quan sinh động và thành khẩn của con người với Thiên Chúa. Đó đúng là hành vi đo đức tôn giáo được thể hiện trong tất cả các tôn giáo. Kitô hữu biết rằng “Thiên Chúa không ngừng kêu gọi mỗi người tìm đến gặp gỡ Ngài một cách nhiệm mầu trong lời cầu nguyện” . Nếu người ta không thể biết đến Thiên Chúa một khi Ngài không tự động mạc khải Ngài, thì cầu nguyện luôn vẫn là cần thiết vì cầu nguyện đưa con người đến một tâm thức sẵn sàng để đón nhận ơn Mạc khải. Cho nên, trong nỗ lực chung tìm kiếm chân lý như là lý do thúc đẩy đối thoại liên tôn, “có một cộng lực nào đó giữa cầu nguyện và đối thoại (…). Cầu nguyện là điều kiện của đối thoại và trở thành hoa trái của đối thoại nầy” . Một khi Kitô hữu tiến  hành đối thoại với một tâm thức của kẻ cầu nguyện, thì họ nương theo sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần đang hoạt động trong tâm hồn của những người đang đối thoại. Bấy giờ đối thoại tiến xa hơn tình trạng một cuộc trao đổi: đây là một cuộc gặp gỡ.

112- Sâu xa hơn nữa, ở mức độ “không nói thành lời” đối thoại liên tôn đúng là một cuộc gặp gỡ giữa những con người đã được dựng nên “theo hình ảnh của Thiên Chúa”; nhưng trong con người đó, “hình ảnh” nầy có phần mờ tối đi do tội lỗi và sự chết. Nói cách khác, Kitô hữu hay không phải là Kitô hữu, thì mọi người đều mong chờ được cứu độ. Vì thế, mỗi tôn giáo được nhận ra như một con đường tìm kiếm sự cứu độ và đề nghị những con đường để đạt đến mục tiêu nầy. Cuộc gặp gỡ trong thân phận chung của con người đặt các người đối thoại đôi bên trên một bình diện bình đẳng, bình đẳng hơn cả mong ước được biểu lộ trong những lời nói về tôn giáo của họ. Lời nói vốn là một phản ảnh của cuộc sống và đã được gn lọc qua tâm thức tôn giáo. Trái lại, những vấn đề triển nở nhân cách con người, kinh nghiệm về cộng đồng xã hội đàn ông và đàn bà, gia đình, giáo dục v.v…và tất cả những câu hỏi xoay quanh công việc làm ăn sinh sống, những sự kiện đó không phải là những đề tài làm lạc hướng công cuộc đối thoại tôn giáo, nhưng to nên môi trường thuận lợi cho đối thoại nầy. Bấy giờ, người ta nhận ra rằng trong cuộc gặp gỡ nầy, nơi ở của Thiên Chúa đó là con người.

113- Thế nhưng, câu tra vấn trường kỳ bám riết toàn bộ cuộc sống con người là vấn đề về sự chết. Khổ đau, tội lỗi, thất bi, chán chường, tình trạng bất khả tương giao, các mối tranh chấp, những bất công…, ở bất cứ đâu, và vào bất cứ lúc nào, sự chết lại vẫn xuất hiện như  một mng lưới bí hiểm của thân phận con người. Hẵn nhiên, con người bất lực trong việc khử trừ sự chết, nên làm đủ mọi cách để đừng nghĩ đến nữa. Nhưng chính trong sự chết, lời kêu gọi của Đấng “Hằng sống” vang dội lên một cách mãnh liệt nhất: nó là dấu hiệu trường tồn của biệt tính nơi Thiên Chúa, vì chỉ có Đấng từ hư không gọi con người đến sự hiện hữu mới có thể ban sự sống cho những kẻ chết. Không ai có thể thấy Thiên Chúa mà không qua sự chết, nơi chốn gai góc nóng bỏng đó Siêu Việt đến với hố thẳm của thân phận con người.

Câu hỏi trọng đi duy nhất – bởi vì có tính cách hiện sinh và không tránh né được và không có nó thì những giáo thuyết tôn giáo cũng chỉ là “mánh lới nhằm tránh né vấn đề” – câu hỏi đó là: Đấng Hằng Sống có trách nhiệm hay không về cái chết con người? Những lối giải thích lý thuyết không thiếu, nhưng không thể trấn an nỗi những uẩn khúc tồn ti: làm sao Thiên Chúa có thể mãi ẩn dấu và thinh lặng trước kẻ vô tội đang bị tổn thương và người công chính đang bị áp bức? Đó là tiếng kêu của Gióp và của toàn nhân loại. Câu trả lời thật gai góc khôn tả: trên Thập giá, Ngôi Lời bị treo lên; thinh lặng Ngài níu vào Chúa Cha, trả lại hơi thở của Ngài cho Cha. Đấy lại  là nơi gặp gỡ của mọi con người: con người ở trong cái chết của Ngài và Thiên Chúa đến gặp con người nơi đó. Chỉ có Thiên Chúa Tình yêu là Đấng chiến thắng sự chết và chính do đức tin vào Ngài mà con người được giải thoát khỏi tình trạng nô lệ của sự chết. Bụi cây rực lửa của Thánh giá nay lại là nơi ẩn kín của sự gặp gỡ. Nơi đó Kitô hữu “Chiêm ngắm Đấng đã bị đâm thủng xuyên ngực” (Gioan 19, 37; Za 12,10). Chứng tá của kinh nghiệm mới nơi Kitô hữu sẽ là chứng tá về Đức Kitô được sống lại, chiến thắng cái chết bằng sự chết. Bấy giờ đối thoại liên tôn mặc lấy ý nghĩa trong sự thực hiện Chương trình cứu độ: nó còn tác động hơn cả việc lặp lại sứ điệp của các tiên tri và sứ mng của vị Tiền Hô, nó dựa trên biến cố của ơn cứu độ đã được Đức Kitô hoàn thành và hướng về sự Xuất hiện lần thứ hai của Chúa. Trong Giáo hội đối thoại liên tôn ở vào vị thế hướng về thời hoàn mãn.

IV

  

Kết luận: Đối thoại và sứ mạng của Hội Thánh

 

114- Vào thời cuối của đệ II thiên niên nầy, Hội Thánh được mời gọi làm chứng về Đức Kitô đã chịu đóng đinh và đã sống lại, “cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8), trong những vùng đất rộng lớn về mặt văn hoá và tôn giáo của thế giới. Đối thoại liên tôn gắn liền với bản tính của  ơn gọi Kitô giáo, nó ở trong sức năng động Truyền thống linh hoạt nơi mầu nhiệm cứu độ mà Giáo hội là nhiệm tích phổ quát, nó là một tác động của Truyền Thống nầy.

115- Là đối thoại của Hội Thánh, đối thoại có căn nguồn, mẫu mực và cứu cánh trong Chúa Ba Ngôi Cực thánh. Đối thoại biểu lộ và làm hiện thực sứ mng của Ngôi Lời vĩnh cửu và của Chúa Thánh Thần trong công việc thực hiện Chương trình cứu độ. Chính nhờ vào Lời Ngài mà Chúa Cha mời gọi mọi người từ hư không vào hiện hữu, và chính Hơi thở Ngài ban cho mà con người có sự sống. Chính nhờ Con Ngài, mang lấy xác phàm loài người chúng ta và được xức dầu bởi Chúa Thánh Thần Ngài, mà Ngài nói với loài người như những người bạn, “nói chuyện với họ nơi dương thế” và mạc khải cho họ “con đường toàn vẹn của sự hiểu biết” (xem Ba 3, 36-38). Chính Chúa Thánh Thần linh hoạt của Ngài thiết lập Hội Thánh là Thân Thể Đức Kitô của Ngài; Hội thánh nầy được gửi đến cho muôn dân để loan truyền Tin mừng Phục sinh.

117- Ngôi Lời có thể cho chúng ta biết Chúa Cha, vì Ngài đã học biết tất cả từ Cha và đã chấp nhận học biết mọi sự từ con người. Vì thế Ngài phải ở trong Hội Thánh cùng với những người nam nữ muốn gặp gỡ anh chị em mình trong các tôn giáo khác và đối thoại với họ. Không phải Kitô hữu được sai đi nhưng là Giáo hội, không phải những ý kiến của riêng họ, nhưng là chính Chúa Kitô, mà họ phải chia sẽ, không phải lối biện minh khôn ngoan của mình đánh động tâm hồn kẻ khác, nhưng là Chúa Thánh Thần Đấng Bênh đỡ. Muốn trung thành với “ý nghĩa của Hội Thánh”, đối thoại liên tôn đòi hỏi sự khiêm nhường của Đức Kitô và sự trong sáng của Chúa Thánh Thần.

117- Phương pháp truyền đạt Chúa muốn trong đối thoại không những bằng lời nói, nhưng bằng cả hành động: lời nói diễn đạt “sự mới l Kitô giáo”, sự mới l của Tình yêu Chúa Cha, và hành động đi theo làm chứng. Bằng cách đó, Hội Thánh thực sự được nhận ra như là nhiệm tích ơn cứu độ. Trong ý nghĩa ấy, theo ý muốn Chúa Cha, đối thoại liên tôn là sự “chuẩn bị cho Phúc âm”.

Thật vậy, việc làm chứng qua lại gắn liền với việc đối thoại giữa những con người khác tôn giáo. ở đây, việc làm chứng của Kitô giáo chưa phải là sự loan báo Tin mừng nhưng đã là một phần trong toàn bộ sứ mệnh Giáo hội, như là ánh sáng tình yêu Chúa Thánh Thần đổ xuống trên Hội Thánh. Bất cứ ai, bằng những phương thức đối thoại liên tôn khác nhau, cùng làm chứng về tình yêu Đức Kitô, thì thực hiện ước mong khẩn thiết của vị Tông đồ khi Ngài nói đến việc chuẩn bị cho Phúc âm: “làm tư tế Đức Giêsu Kitô, thấy cả (“hiérurge”) Phúc âm Thiên Chúa, để các dân tộc trở nên một lễ tế được ưa chuộng, được thánh hóa trong Chúa Thánh Thần” (RM 15, 16).

 

RAO TRUYỀN TRONG ĐỐI THOẠI

RAO TRUYỀN TRONG ĐỐI THOẠI

Joseph Doré

Tổng giám mục Strasbourg, Pháp

Bản dịch việt ngữ     Nguyễn đăng Trúc

     Gặp gỡ – Đối thoại – Rao truyền: phải chăng gặp gỡ và đối thoại tôn giáo chỉ có ý nghĩa thực sự vì mục đích truyền đạo mà thôi? Nói cách khác phải chăng trên đường gặp gỡ các tôn giáo, mục tiêu duy nhất kitô hữu thực sự nhắm đến  là “truyền bá” đức tin,“chiến đấu” cho đức tin  của mình ? Và như thế có nên nghĩ rằng gặp gỡ và ngay cả đối thoại chỉ có thể quan niệm và tiến hành như là những phương tiện thực hiện mục đích duy nhất nầy mà thôi không? Và nếu kitô hữu phải chứng nghiệm được việc gặp gỡ như một bước đường khám phá, một cơ hội để yêu thích niềm tin của “những  kẻ khác”, và còn hơn thế nữa, nếu họ có thể mong mỏi  công việc đối thoại   giúp họ ý thức sâu xa hơn về nét cá biệt nơi  đức tin của chính họ,  thì tất  cả những ý hướng đó phải chăng cũng tùy thuộc vào lợi ích nền tảng  là rao truyền,  nghĩa là  tìm cách  làm cho người đối diện mến mộ đức tin sẵn có của mình  hơn là cùng kẻ khác đi sâu vào những chất vấn của niềm tin tôn giáo, trình bày đức tin của mình hơn là lắng nghe?

      Trước những câu hỏi to lớn như thế đặt ra cho đức tin kitô hữu ngày hôm nay  và đồng thời để kết luận cho toàn bộ các nghiên cứu, chia sẻ và các suy tư khác kết tập thành  cuốn sách nầy (*), chúng tội xin nêu lên một vài đề nghị. Dĩ nhiên không phải là để dứt điểm toàn bộ những công tác  và  suy tư mà hai trăm trang sách từng gợi lên cho chúng ta thấy, nhưng là để cổ súy nỗ lực ấy bằng cách nêu lên một vài  định hướng cho bước đường tương lai; do đó  các đề nghị nêu lên sẽ được trình bày dưới một hình thức cô đọng: có thể xem như chuẩn mực hoặc tiêu mốc, mấu chốt hoặc cốt yếu tùy cách nói của mỗi người!

1. Khẩn thiết phải rao truyền   

      Cần phải minh bạch ngay từ bước đầu . Các tác giả  Br. Chenu, Cl. Geffré và M. Pivot đều đã lặp lại rất rõ là đức tin Kitô giáo thiết yếu  phải nhìn nhận rằng Thiên Chúa đã hoàn thành công cuộc tự-mạc khải (l’auto-révélation  de Dieu) trong Đức Giêsu-Kitô, công cuộc tự-mạc khải ấy cũng là  tự-truyền thông chính  Ngài (son auto-communication) cho nhân loại. Vì thế Kitô hữu không thể nào từ chối xãc quyết đã đặt ra ngay từ khởi thủy: “Thiên Chúa duy nhất, Đấng Trung gian giữa Thiên Chúa và con người cũng  duy nhất, đó là Đức Giêsu Kitô đã nạp mình làm của chuộc cho tất cả chúng ta.”, “Không có danh nào khác  (ngoài danh Giêsu Kitô) nhờ danh đó chúng ta có thể được cứu độ.” Đó chính là cốt lõi lý lịch và sự bất biến của kitô giáo và của đức tin của kitô hữu.  

*

     Chúng ta có thể hiểu được rằng một khẳng định rõ rệt như thế đã thúc đẩy những người thâm tín về nội dung nầy – và những ai luôn mãi gắn bó với mạc khải đó – đi đến một lối suy diễn đương nhiên là họ có phận vụ phải tận tâm tận lực rao truyền đức tin, tuyên dương đức tin cho mọi người (khi thuận lợi cũng như lúc gặp  khó khăn!), để mọi người được chia sẻ.  Người ta vẫn chân nhận là qua bao thế kỷ và ngay cả ngày nay Thiên Chúa có thể “ sắp đặt” để chuẩn chước, bù trừ và sắp đặt cách khác cho những người không phải là kitô hữu, nhưng rồi cũng cho  rằng đấy chỉ là một trường hợp ngoại trừ có tính cách  giai đoạn , một sự dung dưỡng tạm thời, chứ đừng tưởng là bền vững… mặc dầu thâm tâm  thấy những việc Chúa sắp đặt  thật  khó mà hiểu được.  Trong bối cảnh như thế hẳn nhiên  nảy sinh  ý nghĩ phải khẩn trương rao truyền sứ điệp : “Khốn cho tôi nếu tôi không rao truyền Phúc Âm!”. Chúng ta cần rao truyền Phúc Âm vì “trước mặt chúng ta” chả có gì bền vững hữu hiệu cả: đó là mối thâm tín thông thường nhất của người kitô hữu xưa nay  về rao truyền.

2. Có nên tương đối hóa tình trạng khẩn trương ấy không? 

    Nhưng cũng chính đức tin kitô giáo ấy lại xác quyết mạnh mẽ không kém rằng nếu Thiên Chúa đã tự mạc khải đầy đủ và hoàn toàn trong Đức Giêsu Kitô, thì do bởi Đức Giêsu Kitô và trong Đức Giêsu Kitô Thiên Chúa đã tỏ bày rõ ràng và chuẩn xác ý muốn của mình là muốn cho tất cả mọi người được cứu độ.  Dựa trên nền tảng nầy ta chỉ cần  khai triển  hai yếu tố để tiếp cận một  cung cách  về rao truyền hoàn toàn khác với thái độ vừa nêu lên trên đây. Trước hết, cần ý thức rằng ý muốn của Thiên Chúa không phải và không thể là một chương trình nào đó Ngài “quan niệm (một cách trừu tượng) trong ý nghĩ của Ngài như một  “ý hướng” hoặc một  “ước muốn” suông; nhưng là điều Thiên Chúa đang tác động và đang hoàn thành! Và tiếp đó nếu ta lưu ý tầm quan trọng (về lịch sử, địa lý, số lượng …) của các tổ chức tôn giáo vượt lên  trên những thái độ và cách cư xử cá nhân của các tín đồ liên hệ, hẳn ta sẽ phải nhận ra ý muốn cứu độ thật sự của Thiên Chúa có thể thể hiện trong các tôn giáo phương cách tác động cụ thể và ảnh hưởng cuộc sống của các tín đồ. Để thắng vượt  mâu thuẫn bên ngoài liên hệ đến sự trung gian mạc khải và cứu độ duy nhất nơi Đúc Kitô, thì chỉ cần hiểu rằng kỳ thực các tôn giáo là phương cách Thiên Chúa dùng để các tín đồ các tôn giáo ấy  cũng có thể thực sự hưởng ơn cứu độ do một mình Đức Kitô mang lại…  Phần còn lại là chân thành  nhìn nhận (như Nostra Aetate) rằng  sự việc ấy được thực hiện theo những đường lối mà “øchỉ có Thiên Chúa mới biết được”! 

  Dẫu trình bày thế nào đi nữa về điểm nầy, thì ta cũng có thể nhân danh đức tin kitô giáo để tuyên xưng rằng cả những người không phải là kitô hữu cũng có thể được ân huệ tham dự vào Mầu nhiệm của Đức Kitô, và nhờ đó họ được hưởng mạc khải và ơn cứu độ mà Ngài đã thực sự hoàn thành. Kết luận về việc rao truyền mà người ta dễ suy ra  từ nội dung ấy  sẽ như sau: lần nầy người ta tự nhiên lại muốn xem công việc  rao truyền như không cần thiết  như trước đây thường nghĩ;  và người ta còn có cả  khuynh hướng cho rằng sứ mạng ấy đã mất hết đặc tính khẩn trương của nó rồi!

  

3. Những khó khăn trước phận vụ rao truyền 

     Phải chăng quan điểm tương đối hóa rốt ráo như thế xét cho cùng lại có thể là thực  tế, khôn ngoan và chấp nhận được:   chúng ta không phải còn có trăm việc để làm liên quan đến rao truyền Phúc Âm và sứ mạng truyền giáo ngay trong các quốc gia chúng ta, những xứ được gọi là “có truyền thống kitô giáo” hay sao? và dẫu thế nào thì trên thực tế số người kitô hữu  có thể sẵn sàng đi truyền giáo tại các nước xa xôi đa số dân chúng thuộc các tôn giáo “khác”, nay không phải đã sút giảm lắm rồi hay sao?… Chúng ta thực sự đang chứng kiến một hiện tượng xã hội mới: chúng ta giật mình nhận ra rằng các tôn giáo “khác” ấy không phải chỉ ở các vùng đất xa xôi, nhưng ở ngay giữa cộng đồng chúng ta. Đó là một trong những dữ kiện nổi bật mà qua những nhận định và phân tích các tác giả đã từng nêu lên trong tập sách nầy.

    Những dữ kiện như thế làm chúng ta bối rối. Các tín đồ các tôn giáo khác trung kiên với niềm tin và phương cách hành đạo của họ, trong lúc đó kitoâ hữu chúng ta xa dần truyền thống tôn giáo và văn hóa của chính  mình; số  người  gia nhập những tôn giáo nầy lại gia tăng, uy thế của các tôn giáo khác tôn giáo chúng ta dường như đã làm cho chúng ta ngạc nhiên không ít…; chúng ta ngỡ ngàng thắc mắc, và từ đó dễ sinh ra dè dặt nghi ngờ.  Chúng ta tự nghĩ: truyền thống tôn giáo và đạo đức của chúng ta xét cho cùng có gì đặc sắc không? Và nếu thực sự chúng ta thấy được nơi tôn giáo mình có điều đặc sắc, chúng ta có chắc là nó  tốt lành hơn hay cao trọng hơn  (chứ đừng nói là tuyệt vời!) tôn giáo  của người để rồi cảm thấy nhất thiết  phải nói đến đức tin của mình cho mọi người và nếu được thì thuyết phục ngươi ta gia nhập hay không? Chúng ta có chắc là nên đề nghị với kẻ khác điều mà người ta đã từng cảm nghiệm trong tôn giáo và cuộc sống của họ rồi hay không? và nếu chúng ta xác tín đó là  việc  nên làm, thì liệu chúng ta có thể hy vọng người ta tín phục được bao nhiêu phần: chúng ta có lượng sức mình khi đối diện với kẻ khác  không?

    Và như thế, từ việc xem rao truyền là tuyệt đối khẩn thiết phải thực thi, sau đó lại xét lại như là điều không cần thiết  (chưa kể vì những lý do chủ quan  phát sinh từ ý nghĩ riêng  hoặc trăm ngàn lối biện minh nầy khác, chúng ta như không còn muốn nhắc đến rao truyền nữa); rao truyền nay trở thành vừa tế nhị vừa quá phức tạp làm cho chúng ta cảm thấy khó khăn nếu không nói là bất cập. Tình thế xem ra bi quan, đáng tiếc; kỳ thực, không hẳn thế, ngược lại là khác; việc gần gũi với các tín đồ các tôn giáo “khác” lại là cơ may để có thể tiếp cận vấn đề rao truyền! 

*

     Chúng ta buộc lòng phải nhận ra rằng mục tiêu đầu tiên khi chúng ta đến với những người khác tôn giáo với chúng ta, những người nay sống kề cận chúng ta, không phải và không thể là rao truyền. Và nếu có muốn rao truyền đi nữa thì ta cũng không biết phải tiến hành như thế nào cho phải. Trừ phi chúng ta biết thay đổi phương pháp và thái độ tiếp cận của chúng ta, chúng ta chỉ nói lên “các sự việc”. trình bày “sự thật”, chứ không làm cho kẻ khác phải lắng nghe theo mình; chỉ nêu lên, chứ không phải cố biện minh cho người ta hiểu.

  

4. Khởi đầu bằng việc nói với nhau… 

   Nên làm gì bây giờ? – Dẫu thế nào thì người ta cũng nên gặp nhau. Và, trừ phi chả gần gũi gì với nhau cho dù có gặp, trừ phi mãi làm thinh dẫu có đi lại, thì thế nào lại không nói chuyện được với nhau. Những tài liệu mà các tác giả nêu lên ngay trong sách về các phản ứng và cách cư xử của thanh thiếu niên liên quan đến trạng huống nầy rất có ý nghĩa.

   Khi nói với nhau  và cố gắng hết mình để nói trong sự thật (en vérité ), để cuộc gặp gỡ có cơ may trở thành gặp gỡ thật, thực sự là có gặp nhau giữa đôi bên, thì tự nhiên (và cũng rất là hữu lý) người  ta sẽ đi đến việc nói về mình, mỗi người tự nói về mình cho nhau nghe. Và, nếu ta là kitô hữu, thì khi ta tự nhận mình như thế, không những chả  ai trách móc gì ta mà  còn cảm mến  nữa là khác vì ta không cố ý che giấu hoặc giở trò: trình bày sơ lược về nét đặc trưng và điểm then chốt. Nếu người đối diện tiếp nhận như thể là một khám phá, chẳng hạn như thế,  thì lại càng hay, và chính người ấy  cũng sẽ tự mình nói về tôn giáo họ cho ta nghe. Và rồi ngươi bạn của ta chắc hẳn sẽ nhận ra thực sự họ đang sống và cận kề chúng ta trong sự khác biệt của họ, họ được tiếp đón và nhìn nhận trong nét đặc trưng ấy. Những kinh nghiệm nêu lên trong sách chứng thực sự kiện đó. Về phần chúng ta,  đấy không phải là rao truyền. Vì phổ biến sứ điệp của tôn giáo mình tham gia và mình tuyên xưng với ý hướng truyền bá Phúc Âm thì khác với việc trình bày sơ lược  về đức tin của mình và nói thêm rằng  thực sự mình gắn bó với đức tin đó. Nói cách khác, dấn thân vào một công trình có mục tiêu truyền giáo nhằm đưa người tham gia tôn giáo mình thì khác với lối tiếp cận  tự  giới thiệu lý lịch một cách tối thiểu và  sơ giao. Tuy nhiên ta thấy người ta đã nói chuyện được với nhau bằng lời nói trung thực (en vérité), bằng lời của người chân thật. 

   Phải chăng là quá ít ỏi, dẫu đây cũng chỉ nhằm có được một sự tiếp xúc sơ khởi, một bước đầu mà thôi? Nếu ai là người kitô hữu mà có ý nghĩ như thế thì chỉ cần nhắc họ rằng chính Ngôi Lời Thiên Chúa,  vào lúc đã định, đến nhập thể ở giữa nhân loại – hẳn nhiên là để lên tiếng nói với họ – thì đã bắt đầu làm một hài nhi (in-fans = trẻ em không nói). Và tiếp đó Ngài sống một cuộc sống lao động và cầu nguyện trong thầm lặng suốt ba mươi năm, để chỉ làm người và cho người ta nhận ra mình như một người giữa muôn người… tuy Ngài rất “khác” để có lần đã bắt đầu tỏ bày cho người ta biết (nếu lấy lại từ ngữ chúng ta vừa dùng ở trên thì theo thánh Luca câu chuyện xảy ra ở Đền Thánh lúc Ngài 12 tuổi là cơ hội để “ trình bày tối thiểu về lý lịch của Ngài”).

  

5. Đối thoại   

    Một cách chung nói và nhất là khi lên tiếng nói về mình, thì đó cũng  là đối thoại rồi , vì khi “lên tiếng  nói” thì cũng là trao lời nói cho ai và như thế là ta cũng sẵn sàng để lắng nghe. Sự kiện đó lại càng có giá trị trong lãnh vực tôn giáo. Khi ta tự giới thiệu mình là kitô hữu , dẫu đấy chỉ là vài lời ít ỏi mở đầu, thì kẻ đối diện tự nhận ra lý lịch của chính họ, và cùng lúc cảm thấy họ được mời để sẵn sàng tự giới thiệu lý lịch của họ cho ta. Bấy giờ phải ý thức rằng tiếp nhận lời nói của người nói chuyện với mình là đồng thời sẵn sàng  lắng nghe chứng tá của họ.

    Nếu chúng ta thành thực tiếp nhận, thì chứng tá của các tín đồ các tôn giáo khác mà chúng ta có thể gặp gỡ và đối thoại có thể chỉ bảo chúng ta (hoặc nhắc lại cho chúng ta), có lúc lại khiêu khích buộc chúng ta phải đặt lại vấn đề,  trong nhiều địa hạt và bằng nhiều phương cách.

    Trước hết, chứng tá nầy có thể giúp chúng ta lưu tâm đến một chiều kích thuần túy tôn giáo của cuộc sống con người, chiều kích mà nhiều người trong thế giới, có thể nói là Âu châu của chúng ta, có khuynh hướng xem như đã hết thời rồi. “Thời ánh sáng” và chủ nghĩa trần tục xuyên qua lịch sử chúng ta, và từ đó người ta cứ tưởng rằng đã giải quyết xong các vấn nạn mà Dennis Gira ở phần trên đã nhắc lại qua lối nói của Nostra Aetate: “tất cả những bí ẩn  khôn dò của thân phận con người”. Chúng ta đã từng tuyên bố một cách hân hoan rằng những vấn nạn của cõi đời u mê buồn thảm đã qua rồi…, nay chúng ta lại không ngỡ ngàng chứng kiến tình trạng chúng bỗng dưng đổ dồn lại hay sao?

    Và ngoài những chất vấn nhắc nhở chúng ta về chính vấn nạn liên quan đến con người, về thân phận và cứu cánh của chính mình, còn có những thắc mắc mà chúng ta hẳn sẽ gặp khi tiếp cận các giáo lý nhất định nào đó mà các tôn giáo khác tuyên xưng, các phong cách cư xử cụ thể mà các tín đồ đang đối thoại với chúng ta tuân giữ. Một mặt thì bên nầy nêu lên ý nghĩa của tính siêu việt nơi Thiên Chúa, bên kia lại nhấn mạnh đến ý nghĩa của trần thế rốt cuộc chỉ là phù du và phải tìm giải thoát bằng những đường lối của “tinh thần”; mặt khác  thì bên nầy chứng tá niềm tin vào  kinh nguyện thành khẩn và chay tịnh nghiêm túc, bên kia lại là yêu sách thực thi  nhân ái và đại từ bi: chúng ta có vô vàn dịp để cảm hứng, thắc mắc, đặt thành vấn đề.

    Cuối cùng, chúng ta sẽ nhận ra các định chế qui mô của các truyền thống tôn giáo lớn, lịch sử xa xưa của họ, tổ chức nội bộ với những bộ thánh kinh, những thẩm quyền và chức năng khác nhau, luật phép v.v. đầy đủ. Trước khám phá nầy, thời đại, văn hóa và xã hội chúng ta lại có thể tiếp nhận được bài học quí giá một khi tôn giáo nơi đây, nếu còn có thể có một chỗ đứng, thì hầu như chỉ được xếp vào lãnh vực  riêng tư , trong nội cung của lương tâm cá nhân mà thôi. 

           Có kẻ lại thắc mắc là rao truyền sẽ thể hiện thế nào ở nơi sinh hoạt nầy?  Chúng ta thành thật nhận rằng ở đây không nhấn mạnh về rao truyền. Không phải nói vậy là buộc phải bịt miệng làm thinh và chỉ biết thụ động đồng tình trong mọi việc. Trái lại, việc quyết tâm đối thoại và sẵn sàng lắng nghe cống hiến cho chúng ta cơ hội để lên tiếng: để hỏi lại, để xin giải thích, nêu lên một điểm khó hiểu, phát biểu đồng ý, diễn tả sự bất đồng v.v. Như thế, dẫu đây không hẳn nằm trong bối cảnh thuần túy rao truyền, nhưng những phương cách đối thoại và trao đổi vừa trình bày vẫn chứng thực được chính điều ta nghĩ và ta tin; và cũng chính vì thế mà chúng ta tìm đến gặp gỡ, đối thoại. Đối thoại không minh nhiên tuyên dương sứ điệp Phúc Âm, nhưng đối thoại đã làm xuất lộ dư âm và ánh dọi chân thật của Phúc Âm. Và điều đó không phải là không đáng kể… mặc dầu còn phải cố đi xa hơn nữa .

6- Tự kiểm 

     Thái độ lắng nghe và đón nhận trong đối thoại, không những hàm ngụ một thắc mắc nào đó ta muốn gửi gắm cho người đối diện, mà thực sự đã thức tỉnh chúng ta, mở ra cho chúng ta chứng kiến chân trời phong phú nơi tôn giáo khác với tôn giáo chúng ta. Và còn sâu xa hơn nữa khi ta cảm nhận được rằng một cuộc gặp gỡ, đối thoại như vậy có thể giúp ta quay lại với chính mình, với truyền thống riêng và các nguồn phong phú đặc loại của chúng ta. Những ngỡ ngàng và thách đố mặc nhiên hay minh nhiên khi tiếp xúc với kẻ khác thúc bách chúng ta tự kiểm điểm; kỳ thực nếu không có cuộc gặp gỡ các tôn giáo và đối thoại, tiếp xúc với những tín đồ của họ, thì có thể chúng ta khó lòng đặt lại vấn đề của chúng ta một cách rốt ráo được .

     Chúng ta quay lại với chính mình trước hết với câu hỏi: Chúng ta có hiểu biết đầy đủvề tôn giáo của chính mình và các kho tàng của truyền thống tôn giáo chúng ta không? Trong khung cảnh xã hội Pháp, cho đến thế hệ gần đây nhất, người ta cho rằng qua lớp giáo lý thông thường cho mọi người như thế là có thể biết hầu hết mọi sự về tôn giáo. Người ta không nghĩ đến những giới hạn mình có thể học và hiểu được nơi chính lớp giáo lý đó, và người ta cũng quên rằng lúc mình học và hiểu như thế thì mình chỉ là đứa trẻ nít. Khi gặp gỡ các tôn giáo khác, ta có cơ hội nhận ra được tình trạng bất cập, mù mờ nơi kiến thức chúng ta về tôn giáo, để có thể ý thức về nhu cầu  cần đi xa hơn trong việc học hỏi về truyền thống của mình.

     Bước đường quay lại với chính mình còn sâu xa hơn nữa:  ngay trong nội dung chân thực nhất,  với cách trình bày  minh bạch nhất, nơi những người am tường nhất , tôn giáo chúng ta tự mình vẫn chưa múc cạn hết mầu nhiệm về Thiên Chúa, mặc dầu tôn giáo chúng ta chứng thực mầu nhiệm nầy; sở dĩ như thế vì tôn giáo chúng ta có tính nhân loại (đồng thời với đặc tính thần thánh). Nói thế không phải là xúc phạm đến danh dự của Thiên Chúa hay chối bỏ hiệu lực của mạc khải đâu. Trái lại, đó là tôn vinh Ngài, và theo đúng như điều Ngài đã tự mạc khải – một cách trọn đầy, chúng ta tuyên xưng như thế – trong chính tôn giáo chúng ta. Ngoài ra chúng ta cũng không thể từ chối nhìn nhận rằng  các tôn giáo khác có thể thực sự giúp chúng ta lưu tâm đến những khía cạnh của mầu nhiệm về Thiên Chúa và ơn cứu độ mà Thiên Chúa ban cho nhân loại; những khía cạnh nầy không phải không hàm chứa trong truyền thống tôn giáo chúng ta, nhưng có thể là chưa đi vào nhận thức của các người thừa kế, là chính chúng ta đây , những người tiếp nối và mang trong mình truyền thống đó.

    Bước đường tỉnh ngộ thứ ba là cảm nhận sự thiếu sót và ngay cả tội lỗi của chúng ta. Khi nhận ra được những kho tàng phong phú của các tôn giáo khác (mặc dầu có những giới hạn thấy được nơi chúng) và khi đối chiếu với những nội dung mà chúng ta đã tuyên xưng từ lâu trong chính tôn giáo chúng ta hoặc khám phá (lại) nhân cơ hội đối thoại với các tôn giáo, chúng ta không thể không giật mình  là tại sao chúng ta có thể hững hờ hoặc sống bất tương hợp với các nội dung ấy. Chúng ta không từng có lần phạm tội biếng nhác không muốn nỗ lực suy nghĩ để đi sâu vào các điều chúng ta chỉ biết lặp đi lặp lại mà không hề áp dụng thực sự, không hề biết cập nhật  lối diễn tả làm sao cho đáng tin hơn  trong khung cảnh xã hội ngày nay hay sao? Cuộc sống của chúng ta  đã không từng có lần bất trung, đi ngược lại với chính điều chúng ta hiểu và muốn truyền bá, để rồi nó trở thành phản chứng cụ thể chống lại nỗ lực rao truyền của chúng ta hay sao? Cuối cùng, kitô hữu chúng ta đang phân chia thành từng tôn giáo khác nhau để chứng thực một Thiên Chúa duy nhất, một Chúa Kitô duy nhất và một Nước Trời duy nhất, chúng ta có lường được rằng hiện trạng phân chia nầy  thực sự là một phản chứng căn đế hay không? 

   Một lần nữa vấn đề lại nêu lên: “thế thì rao truyền nằm ở đâu trong ấy?” Và cũng một lần nữa, câu trả lời là: đừng quên rằng ở đây đã có lời lên tiếng, và lời ấy không hẳn là không có tầm vóc rao truyền.

    Vì những hình thức tự cảnh tỉnh vừa nêu là “một lối nói” trước người khác  về những giới hạn và thiếu sót và ngay cả những điều mà chúng ta nhận là mình có lỗi . Và nếu lời nói nầy hẳn không phải là lời rao truyền trực tiếp về đức tin mà chúng ta tuyên xưng, thì nó cũng là một lối làm chứng thiết thực về đức tin ấy, một phương cách làm cho kẻ khác nhận ra rằng đức tin cao cả hơn điều chúng ta thể hiện trong cuộc sống của mình; lời ấy cũng nói lên tất cả lòng hối tiếc của chúng ta về mặt tiêu cực đã từng gây ra cho kẻ khác qua  lịch sử và ngay cả ngày nay  phát sinh từ những lối hiểu và sống đức tin một cách sai trật tùy mức gia trọng.

    Phương cách chúng ta nhìn nhận những giới hạn của  tôn giáo chúng ta đồng thời  vẫn tiếp tục gắn bó với tôn giáo ấy, tố giác những “ sai trật” hoặc tham lạm nhưng vẫn liên đới với giáo hội là cơ thể đã từng tự nhận là có lỗi trong lịch sử, phương cách đó là một chứng tá trước Thiên Chúa là Đấng mà chúng ta tuyên bố đặt trọn niềm tin. Vì nếu Ngài là một Thiên Chúa toàn năng và cứu độ, thì Ngài đã không hề sợ phải liên lụy với ngay cả giới hạn và tội lỗi chúng ta, và đã không tự hiến để cứu thân phận con người chúng ta bằng cách nào khác hơn là tự mặc lấy chính thân phận đó.

7. Và cuối cùng là rao truyền 

  Đến đây chắc phải  đi vào ngay vấn đề rao truyền!

–         Chúng ta không hề chối bỏ một nội dung nào có tính cách quyết định của đức tin vào Chúa Giêsu Kitô, Đấng Trung gian duy nhất thực hiện hữu hiệu mạc khải và cứu độ của Thiên Chúa.

–         Nhưng đồng thời chúng ta cũng thực sự nhìn nhận rằng các tôn giáo trong cương vị của mình có thể hỗ trợ cho sự cứu độ của tín đồ họ.

–         Khi gặp gỡ các tín đồ tôn giáo bạn, không những chúng ta kính trọng họ, mà phải nhìn nhận họ như là những người ta tìm đến đối thoại thật sự chứ không phải chỉ là người có thể tiếp nhận sứ điệp ta rao truyền mà thôi.

–         Khi đi vào đối thoại, ta đi vào thế giới của “chúng ta”, và bắt đầu bằng việc tự trình diện lý lịch của mình, dẫu rất ngắn gọn: “tôi như thế nầy, chúng tôi như thế kia!”.

–         Và đáp lại, người đối thoại với ta cũng tự giới thiệu, và đó là dịp đễ chúng ta biết và tiếp họ, ghi nhận chứng tá của họ, học hỏi và nêu thắc mắc với họ.

–         Chúng ta còn có dịp để ý thức nhiều hơn về chính mình, khám phá kỹ hơn  những kho tàng phong phú cũng như những giới hạn của  tôn giáo mình,  để  rồi chu toàn được phận vụ tôn giáo của mình tốt đẹp hơn trong bối cảnh hiện thực của lịch sử.

   Những chứng tá kết tập trong sách nầy cho thấy sự việc không quá phức tạp và kinh khủng để phải lo âu trước khi thực hiện. Chúng ta đã chứng kiến có những cuộc đối thoại, mặt gặp mặt, đôi bên lắng nghe nhau, nhìn nhận nhau trong sự khác biệt và tương kính; và qua những cuộc đối thoại ấy đôi bên đã gặt hái nhiều thành quả.

     Nhưng rồi ta cũng muốn thêm một chuyện nữa: “chưa xong , thêm một bước nữa đi, đi vào rao truyền đi! Đợi chi nữa mà không thực hiện?” Bởi lẽ chúng ta đã cố đưa các vấn đề vào khung cảnh của một cuộc gặp gỡ thực sự như chúng ta trình bày ở phần trên, thì chúng ta vẫn giữ lập trường thái độ như thế khi đi vào công việc rao truyền để không tự mâu thuẫn với chính mình. Kỳ thực rao truyền không những không thể nào thực hiện ngoài đối thoại, mà còn hơn thế nữa nó không thể nào thực hiện bằng một cuộc đối thoại được tiên liệu trước xem như đây chỉ là một phương tiện để đạt mục đích nào khác. Rao truyền được thực hiện và luôn được thực hiện “ngay” nơi gặp gỡ, trong đối thoại và chỉ như là một cuộc đối thoại. Nhưng thực hiện như thế nào? Dựa vào những gì chúng ta đã trình bày, để trả lời chúng ta đưa ra một vài nét tiêu biểu.

    Điều trước tiên cần phân định là: những gì chúng ta rao truyền, chúng ta không lấy từ nơi những người mà chúng ta muốn thông đạt cho họ và cũng không tiếp nhận từ nơi họ. Mầu nhiệm của Chúa Kitô Đấng mạc khải và cứu độ, mầu nhiệm của Chúa Cha, Con và Thánh Thần, mầu nhiệm của Giáo hội  duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền,  chỉ do từ chính Thiên Chúa và xuyên qua Truyền thống kitô giáo chuyển đến cho chúng ta , và chúng ta biết được – chúng ta không cần nại đến những lý do (ngay cả có tính cách chiến thuật) nào để nói khác đi sự kiện   ấy.

    Nhưng khi ta (trung thực) nói lên điều đó, thì ta tức khắc phải thêm rằng mầu nhiệm không lay chuyển ấy, phải tìm mọi cách để trình bày làm sao cho người nghe ta nói tiếp nhận trong chính ngôn ngữ của họ, nghĩa là bằng phương cách họ đã từng diển tả ước muốn cứu độ và sự cứu độ, con đường tìm về Tuyệt đối và chính Đấng Tuyệt đối trong truyền thống tôn giáo của họ. Và nên lưu ý rằng đây không phải là một kỹ thuật có tính cách xã giao, lấy lòng (captatio benevolentiae): nhưng công việc trình bày như thế nằm ngay trong nội dung rao truyền, phát xuất từ  chính sứ điệp Tin Mừng. Nếu loan báo, rao truyền là nêu lên sự kiện “Thiên Chúa ở với chúng ta (để cứu chúng ta)”, thì hẳn lời rao truyền ấy phải được thực hiện và đón nhận, từ trong biến cố nầy, như một  bước gặp gỡ người nghe, nơi  thân phận của họ,  ngay tại  quê nhà họ.

     Và hẳn nhiên,  trong cương vị  kitô hữu,  chúng ta phải rao truyền rằng Thiên Chúa vì yêu thương chúng ta và để cứu  độ chúng ta mà đã làm người, lời loan báo đó quá lạ lùng, ngỡ ngàng, không quan niệm nổi ngay cả trong bối cảnh của bất cứ tôn giáo nào. Vì thế, chúng ta cần chân nhận thêm rằng khi ta kêu mời ai muốn tiếp nhận một sứ điệp như thế thì đồng thời cũng có nghĩa là kêu mời họ sống một cuộc trở lại nào đó, bước một  bước vượt  qua. 

    Chúng ta sẽ ít ngỡ ngàng hơn về sự táo bạo mà chúng ta cần phải đương đầu, nếu chúng ta nhớ đến những gì đức tin dạy chúng ta khi thúc hối chúng ta lên đường rao truyền. Chúng ta đựa trên  lời nhắn nhủ ấy để kết luận, vì những chỉ dẫn nầy quyết định thái độ nền tảng của chúng ta.

    Trước hết, chúng ta cần nhớ rằng đức tin chúng ta đáng được người ta tin là do tự nơi sự thật của nó, kể cả Thánh Giá của Đức Kitô, nên không những là bất trung mà còn tính toán sai trật khi chúng ta lạm dụng tài năng của mình hoặc tùy nghi để xét xem điều gì đáng rao truyền và điều gì có thể dễ dàng quẳng bỏ.

      Tiếp đó, không thể lẫn lộn đức tin với một lối diễn tả nào đó trong thời gian nhất định và có thể sửa đổi tùy nghi. Cũng như không thể lẫn lộn cốt lõi của đức tin, nền tảng xây dựng toàn bộ cuộc sống tôn giáo, với những khía cạnh phụ thuộc mà người ta  có thể  tìm biết hoặc tiếp nhận hay không tùy vào việc  gia nhập (hay không gia nhập) vào cốt lõi nầy.

      Ngoài ra, cũng đừng quên rằng Thánh Thần Thiên Chúa có thể đã tác động những người đối thoại với chúng ta. Và công việc đó xảy ra ngay trong cuộc sống tôn giáo riêng của họ, vì các tôn giáo có thể hỗ trợ thiết thực cho các tín đồ của mình trên bước đường tìm kiếm chân lý và sự cứu độ. Do đó ta có thể tin được rằng chính Thiên Chúa duy nhất, Đấng thúc đẩy chúng ta lên tiếng nói với người đối diện, thì cũng chính Ngài có thể đã nói trong tâm hồn họ rồi.

     Cuối cùng, chúng ta nhất thiết không được quên rằng không phải phận vụ chúng ta để quyết định hay tiên liệu kết quả thực sự về công cuộc rao truyền, và chúng ta cũng không nên quá lo lắng về việc nầy (và ai quá lo thì có thể nghiệm thấy ngay!). Hẳn nhiên chúng ta khó mà dửng dưng vô tư. Nhưng bởi vì việc chúng ta hết mình làm chứng vốn là điều chính yếu. Còn lại trước hết là phần của Chúa, Đấng đã sai ta đi và ban cho ta ân huệ của Ngài, và tiếp đó là phần của người mà ta gặp gỡ đối thoại trong tự do tối thượng của chính họ.                                                                                 

_________________ 

Chú thích:

* Le christianisme vis-à-vis des religions  (sous la direction de Joseph Doré), Publications de l’Académie internationale des Sciences religieuses.   ARTEL

Tác giả:  Gs. Nguyễn Đăng Trúc (dịch)